Sử dụng phương trình hồi qui để xây dựng công
thức và biểu đồ ước lượng trọng lượng thai
TÓM TẮT
Đặt vấn đề và mục tiêu
Ước lượng trọng lượng thai một cách chính xác luôn là mục tiêu mong muốn của
nhà thực hành sản khoa vì việc theo dõi và chọn lựa phương thức sanh thích hợp lệ
thuộc phần lớn vào mức độ chính xác của trọng lượng thai. Mục tiêu nhằm xây
dựng phương trình ước lượng trọng lượng thai tốt.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu cắt ngang từ 3/2009 & 8/2009 ở 472 sản phụ thai đủ tháng, tới sanh tại
bệnh viện Nhân Dân Gia Định, được chọn ngẫu nhiên. Chúng tôi thu thập tất cả
chỉ số siêu âm trước sanh 24 giờ và các dấu hiệu lâm sàng, sau đó sử dụng phương
trình hồi qui tuyến tính để xây dựng phương trình ước lượng trọng lượng thai. Kết quả và kết luận
Công thức Mc Donald được dùng thường xuyên trên lâm sàng thực tế có sai số rất
lớn. Chúng tôi xây dựng được 2 phương trình hồi qui có hệ số chính xác (R
2
) cao:
Phương trình (1) chỉ có 1 biến số độc lập dự đoán trọng lượng thai là CVB là Y =
22,55CVB – 4142,25, phương trình này đơn giản, độ tin cậy khá cao, dễ sử dụng.
Phương trình (2) là:
Y = 21,05BCTC + 21,1CVB – 4339,1 là phương trình có hệ số tương quan cao
nhất, tuy phải sử dụng 2 biến số bao gồm cả lâm sàng và siêu âm.
Từ khóa
Trọng lượng thai, phương trình hồi qui tuyến tính.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Cân nặng trẻ lúc sanh không chỉ là một trong những đánh giá quan trọng về mặt
sức khỏe và tình trạng dinh dưỡng của bà mẹ mà còn đối với sự sống còn, tăng
lượng trọng lượng thai tốt nhất, mang tính ứng dụng cao.
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Mục tiêu chính
Đánh giá giá trị của các chỉ số siêu âm thai và chỉ số lâm sàng sử dụng
trong ước lượng trọng lượng thai đủ tháng.
Xây dựng phương trình hồi quy tuyến tính và biểu đồ ước lượng trọng
lượng thai đủ tháng.
Mục tiêu phụ
So sánh công thức ước lượng trọng lượng thai thành lập được với các công thức
thường sử dụng trên lâm sàng và siêu âm.
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang
Đối tượng nghiên cứu
Dân số mục tiêu: Phụ nữ có thai đủ tháng bình thường sống tại TPHCM.
Dân số nghiên cứu: Phụ nữ có thai đủ tháng bình thường đến khám và nhập
viện sanh tại bệnh viện Gia Định trong thời gian tiến hành nghiên cứu.
Dân số chọn mẫu: Các sản phụ nhập viện sanh tại bệnh viện Gia Định trong
thời gian nghiên cứu từ 3/2009-8/2009 đồng ý tham gia nghiên cứu.
Tiêu chuẩn nhận vào:
o Đơn thai, tuổi thai từ 37 tuần trở lên.
o Có siêu âm ước lượng tuổi thai 3 tháng đầu thai kỳ.
o Có siêu âm thai với đầy đủ các chỉ số trong vòng 48 giờ trước sanh.
o Thai ngôi đầu.
o Chấp nhận tham gia nghiên cứu.
Tiêu chuẩn loại trừ:
o Thai kỳ kèm theo bệnh lý nội khoa, tiền sản giật.
o Thai có cân nặng dưới bách phân vị thứ 10 so với tuổi thai.
o Thai dị dạng.
o Chuyển dạ giai đoạn hoạt động hay ối đã vỡ.
o Đa ối, thiểu ối.
khi đưa vào nghiên cứu (n=30).
Dụng cụ đo cân nặng và chiều cao sản phụ.
Thước dây.
Máy siêu âm hai chiều: ALOKA SSD1100, sản xuất tại Nhật Bản, được sử
dụng tại bệnh viện từ năm 1997.
Qui trình lấy mẫu
Chúng tôi lựa chọn ngẫu nhiên sản phụ thoả tiêu chuẩn chọn mẫu trong thời gian
nghiên cứu. Họ sẽ được khám và lập bệnh án theo đúng quy trình nhận bệnh tại
phòng sanh, thu thập các dữ kiện theo bảng thu thập số liệu.
Cân nặng: được đo bằng cân đo trọng lượng chuẩn tại phòng sanh. Cân nặng trước
sanh được xác định bằng cách ghi nhận cân nặng đo được trong 3 tháng đầu thai
kỳ.
Chiều cao, vòng bụng, bề cao tử cung: được đo bằng thước đo chiều cao chuẩn tại
phòng sanh.
Bệnh lý nội khoa kèm: Được xác định qua bệnh sử hoặc khám lâm sàng tại thời
điểm nhập viện.
Thông tin về siêu âm: Qui trình siêu âm đo đạc các chỉ số như đường kính lưỡng
đỉnh, đường kính ngang bụng, đường kính trước sau bụng, chu vi bụng, chiều dài
xương đùi được thực hiện trên máy siêu âm ALOKA SSD1100 tại phòng sanh.
Các sản phụ tham gia vào nghiên cứu được giải thích về mục đích siêu âm trước
khi người làm nghiên cứu thực hiện các thao tác siêu âm.
Các số đo của thai được đo đạc khi màn hình ở chế độ đứng yên. Đường kính
lưỡng đỉnh, đường kính ngang bụng, đường kính trước sau bụng, chu vi bụng,
chiều dài xương đùi được đo bằng đơn vị mm, trọng lượng thai nhi ước lượng
được đo bằng đơn vị g.
Việc ước lượng trọng lượng thai trên máy siêu âm được thực hiện bằng cách sử
dụng công thức Hadlock [4] và Shepard [3] với các chỉ số khác nhau như đường
kính lưỡng đỉnh, chu vi bụng, chiều dài xương đùi.
Mức độ thống nhất kết quả siêu âm giữa người thực hiện nghiên cứu và 1 bác sĩ
siêu âm sản tại BV được thể hiện qua chỉ số Kappa. Kết quả được gọi là thống
Tuổi ≥ 35
16
367
35
3,8
87,8
8,4
Nghề nghiệp
N
ội trợ
Lao động trí óc
142
65
211
34,0
15,5
50,5
Lao động chân tay
Trình độ học vấn
Cấp 1
Cấp 2 - Cấp 3
Trên cấp 3
45
308
65
10,8
73,6
15,6
Tuổi thai
37 – 40 tuần
Bảng 5. Tóm tắt tương quan giữa các biến độc lập, liên tục với TLT
Biến số PTHQ Hệ số xác định R
2
BMI Y = 32,27BMI + 2369 0,02
MĐTC Y = 23,25MĐTC + 2879,83 0,09
VB Y = 35,07VB – 98,34 0,25
BCTC Y = 116,58BCTC – 511,20 0,35
ĐKLĐ Y = 72,89ĐKLĐ – 3441,24 0,27
CDXĐ Y = 86,37CDXĐ – 2832,81 0,25
ĐKNB Y = 70,56ĐKNB – 4010,07 0,83
ĐKTSB Y = 67,8ĐKTSB – 3936,25 0,85
CVB Y = 22,55CVB – 4142,25 0,86
Bảng 6. Tương quan giữa các biến số độc lập, định lượng
Theo kết quả thống kê phân tích cho thấy, mức độ tương quan giữa các biến số
khảo sát ở mức trung bình đến mức rất mạnh (0,31 – 0,99), các mối tương quan có
ý nghĩa thống kê (p < 0,05). Hai biến số ĐKNB, ĐKTSB, CVB có mối tương quan
gần như hoàn hảo (0,98 – 0,99), nếu đưa vào xây dựng PTHQ sẽ gây ra hiện tượng
đa cộng tuyến. Trong đó, CVB có tương quan cao nhất với TLT (0,93). Vì vậy,
chúng tôi quyết định chọn CVB và các biến VB, BCTC, ĐKLĐ, CDXĐ để đưa
vào xây dựng PTHQ đa biến.
Phân tích đa biến
Sau khi khảo sát mối tương quan của các biến số đo đạc trên lâm sàng và siêu âm
cũng như độ phù hợp của các phương trình hồi quy đơn biến với tập dữ liệu,
những biến số có hệ số tương quan với mức độ mạnh (R
2
≥ 0,25) được chọn lựa để
đưa vào xây dựng phương trình hồi quy tuyến tính đa biến theo phương pháp chọn
từng bước (Stepwise), bao gồm VB, BCTC, ĐKLĐ, CDXĐ, CVB và tiền thai.
Log
10
BW = 1.335 –
(0.0034 XAC X FL) + (0.0316 X BPD) + (0.0457 X AC) +
(0.1623 X FL)
Chúng tôi khảo sát thêm 54 đối tượng cùng đặc điểm với nhóm đối tượng nghiên
cứu.
Bảng 8. So sánh TLT ước lượng bởi CT lâm sàng và siêu âm với TLT lúc sanh
(n=54)
CT GTTB (g) Sai lệch trung bình (g) t
P* (KTC 95%)
Hadlock 3043,11 189,29 -8,21 0,00
Shepard 3029,42 202,98 -16,5 0,00
Johnson 2922,04 310,37 -9,45 0,00
Mc Donald 3157,40 75,00 -1,87 0,02
CT (1) 3268,23 35,81 -2,10 0,04
CT (2) 3250,51 18,10 -1,10 0,28
CT (3) 3267,19 34,79 -2,19 0,03
CT (4) 3265,64 33,23 -2,10 0,04
CT (5) 3269,02 36,60 -2,29 0,03
*Kiểm định Paired Samples T Test
Bảng 9. Tương quan giữa TLT ước lượng bởi các CT và TLT lúc sanh (n = 54)
Biến số HSTQ Hệ số R
2
P*
Johnson 0,66 0,43 0,00
Mc Donald 0,69 0,47 0,00
Hadlock 0,90 0,81 0,00
Shepard 0,95 0,90 0,00
CT (1) 0,95 0,88 0,00
Từ kết quả nghiên cứu, các CT thành lập có thể được sử dụng trên lâm sàng để
ước lượng trọng lượng thai. Các CT này có thể được cài đặt trực tiếp trên máy vi
tính và đưa ra kết quả về TLT ước lượng nhanh chóng. Chúng tôi đề nghị dùng
phần mềm Excel để xây dựng chương trình tính toán TLT. Tùy trường hợp cụ thể,
các CT có thể được chọn để áp dụng. CT (1) có ưu điểm là rất đơn giản, chỉ cần đo
CVB hoặc tính CVB từ ĐKNB và ĐKTSB. CT (2) được sử dụng sẽ làm tăng độ
tin cậy của TLT ước lượng được.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
• United Nations Children's Fund and World Health Organization, Low
Birthweight: Country, regional and global estimates. UNICEF and WHO, New
York and Geneva, 2004: p. 1.
• Wikstrom I, A.O., Bergstrom R, Meirik O, Traumatic injury in large-for-date-
infants. Acta Obstet Gynecol Scand 1988. 67(3): p. 259–264.
• Shepard M, F.R., A standardized plane for biparietal diameter measurement. J
Ultrasound Med, 1982(1): p. J Ultrasound Med.
• Hadlock F P, H.R.B., Carpenter R J, Deter R L, Park S K, Sonographic
estimation of fetal weight. Radiology, 1984(150): p. 535-540.
• Jones SJ , C.S., Harrison M, An introduction to power and sample size
estimation. Emerge Med J, 2003. 20: p. 453-458.
• Green SB, How many subjects does it take to do a regression analysis.
Multivariat Behav Res, 1991. 26: p. 499-510.
• Johnson RW, T.C., Estimation of fetal weight using longitudinal measuration.
Am J Obstet Gynecol, 1954. 68(3): p. 891-896.