NGHỆ THUẬT TRÀO PHÚNG TRONG
THƠ NGUYỄN KHUYẾN
Ngay đến những cô tiểu nơi cửa thiền cũng bị thi nhân đem ra trêu cợt
khi thấy dáng điệu cô nằm ngủ thật là gợi cảm:
Ôm kinh gối mõ gáy khò khò,
Gió lọt buồng thiền mát mẻ cô.
Then cửa từ bi gài nửa cánh,
Nén hương tế độ đốt đầy lò.
(Cô tiểu ngủ ngày)
c. Thầy đồ:
Sự suy sụp của đạo lýkhông chỉ lan đến cửa chùa, mà còn làm bại hoại
cả tầng lớp trí thức. Tiêu biểu nhất là các thầy đồ. Mang danh nhà mô
phạm, nhưng sự đời đảo điên, tình dục đã làm mờ ám lương tri để rồi
Nguyễn Khuyến lên tiếng:
Ở goá thế gian này mấy mụ,
Đi ve thiên hạ thiếu chi thầy.
Yêu con cũng muốn cho thầy dạy,
Dạy cháu nên rồi mẹ cháu ngây.
(Thầy đồ ve gái)
Nếu có những “Thầy đồ ve gái” thì cũng có những “Thầy đồ bị gái lừa”:
Cùng nhau chửa được mấy ngày,
Cô tiêu cũng lắm thầy vay cũng nhiều.
Yêu người, người lại chẳng yêu,
Chiều hoa, hoa lại chẳng chiều mới căm.
II. Đặc tính nghệ thuật:
Thái độ trào phúng của thi nhân bao giờ cũng biểu lộ những sắc thái
nghệ thuật đặc biệt. Sinh trước tú xương hơn 30năm, được chứng kiến
sự biến chuyển của xã hội trong buổi giao thời một cách trọn vẹn,
Nguyễn Khuyến không vội vàng hấp tấp. Thi nhân là một nho sinh cho
nên không ưa lối biểu lộ tình cảm một cách ồ ạt, suống sã. Khi châm
biếm, đùa cợt Nguyễn Khuyến vẫn giữ được cái cười kín đáo tế nhị và
sâu xa.
a. Lối chỉ trích kín đáo:
Khi chỉ trích người, nhà thơ bao giờ cũng giữ sự kín đáo. Chỉ trích quan
lại bất tài thi nhân chỉ ví bọn này như Tiến sĩ giấy:
Mảnh giấy làm nên thân giáp bảng
Nét son điểm rõ mặt văn khôi.
Lời lẽ kín đáo được xem là một đặc tính nghệ thuật trong thi ca trào
phúng của Nguyễn Khuyến. Thi nhân thường mượn một hình thức tầm
thường bên ngoài để che đậy cái nội dung sâu kín bên trong. Mỗi lần
muốn chỉ trích một đối tượng nào, nhà thơ thường không nêu đích danh
mà chỉ dùng lối gián tiếp. Nói đến quan lại bất tài, Nguyễn Khuyến lại
mượn hình ảnh tiến sĩ giấy để lên tiếng công kích mỉa mia:
Mày râu vẻ mặt vang trong nước,
Giấy má nhà bay đáng mấy xu.
Bán tiếng mua danh thây lũ trẻ,
Bảng vàng bia đá vẫn nghìn thu.
(Tiến sĩ giấy)
xa xôi. Như khi muốn mắng bọn quan lại hống hách, thi nhân đã dùng
những cười cợt nhẹ nhàng, nhưng khi đi vào chiều sâu chúng ta mới thấy
là những mạt sát: :
Ghế tréo lọng xanh ngồi bảnh choẹ
Nghĩ rằng đồ thật hoá hoá đồ chơi.
(Ông nghè tháng Tám).
Ngắm nghía ông tiến sĩ giấy, thi nhân thấy giá trị của nó hèn kém có
khác chi bọn dốt nát nhờ nịnh bợ luồn cúi mà đỗ đạt:
Mày râu mặt ấy vang trong nước,
Giấy má nhà bay đáng mấy xu.
(Tiến sĩ giấy).
Đọc qua nghe nhẹ nhàng, nhưng suy kỹ, biết thâm ý của Nguyễn
Khuyến mới hay đó là lời mạt sát.
Tính chất thâm trầm chua cay lại càng rõ ràng hơn chúng ta đọc đoản
kịch trào lộng “Lời vợ phường chèo”. Thật vậy, thái độ ấm ớ, ngớ ngẩn
của anh phường chèo:
Xóm bên đông có phường chèo trọ,
Đang nửa đêm với vợ chuyện trò.
Rằng ta thường làm quan to,
Sao người xem chẳng ra trò trống chi?
(Lời vợ phường chèo)
Giữa đêm khuya đem chuyện vớ vẩn hỏi vợ thì thiệt là điên. Không
những thế, chàng ta ngu dốt và vô liêm sỉ đến độ:
Khen ai khéo vẽ trò vui thế,
Vui thế bao nhiêu nhục bấy nhiêu.
(Hội Tây).
C- LỜI KẾT
Thơ văn Nguyễn Khuyến thường mang nhiều nét có tính chất trào lộng,
châm biếm. Tính chất châm biếm, trào lộng này cũng do nội dung tư
tưởng của thơ văn ông và tình trạng tầng lớp ông quy định. Thái độ trào
phúng của Nguyễn Khuyến thường nhẹ nhàng, mát mẻ, nhiều khi kín
đáo nhưng chua chát, sâu cay và thâm thuý. Mức độ trào phúng của nhà
thơ cao hay thấp, nặng hay nhẹ tuỳ từng đối tượng. Và thái độ châm
biếm của ông thường là thái độ của kẻ đàn anh đứng ở vị trí trên mà
nhiếc móc, mỉa mai kẻ dưới.