Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long - Phần 9: Đề nghị vài biện pháp - Pdf 19

Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long

Phần 9: Đề nghị vài
biện pháp
NHỮNG THÁCH ĐỐ TRONG TƯƠNG LAI
Những biện pháp chống lũ lụt và phát triển thủy lợi hiện hửu được thiết kế dựa
trên trận lụt lớn năm 2000. Cho tới nay (2009), chưa có trận lũ lớn tương tự xảy ra
nên chưa định giá được hiệu quả của các tuyến đê ngăn lũ. Lụt định kỳ hàng năm
vẫn xảy ra, khoảng 40 % diện tích của ĐBCLVN bị ảnh hưởng, mùa lụt nhiều nơi
kéo dài 3-4 tháng, có nơi sâu 2-3 m, nhưng không gây thiệt hại. Đa số dân chúng
sống an toàn trong khu bảo vệ bởi các đê, trên các tuyến, cụm dân cư. Một số dân
chúng còn tiếp tục “sống chung với lũ” với nhiều tiện nghi hơn trước. Đời sống
nhờ vậy có phần cải thiện hơn xưa.
Tuy nhiên ĐBCLVN đang và sẽ phải đương đầu với nhiều thách đố:

1. Nạn nhân mản.
Dân số DBCLVN năm 2000 khoảng 16.9 triệu, hiện nay (2009) là 18 triệu. Với tỉ
lệ gia tăng dân số 1.6 % hiện nay, hay 1.2 % trong tương lai như các dân tộc tiên
tiến khác, dân số sẽ tăng lên 25 triệu năm 2025, và 46 triệu năm 2075. Như vậy,
nhu cầu lương thực từ 5.1 triệu tấn năm 2000, lên 7.5 triệu tấn năm 2025, và 13.7
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long

triệu tấn năm 2075, với nhu cầu thực phẩm là 300 kg/đầu người/năm như hiện nay.
Cũng cần biết thêm là mật độ dân cư ở ĐBCLVN hơn 400 người/km2, gấp đôi
mật độ của cả nước (7).
Về mặt kinh tế, tuy là vùng kinh tế sản xuất nông nghiệp quan trọng nhất
của Việt Nam, với 50% sản lượng lúa, 70% lượng trái cây, 52% thủy sản của toàn
quốc, đóng góp 90 % số lượng gạo xuất cảng, và 60 % kim ngạch xuất cảng thủy
sản của cả nước, dân chúng ở ĐBCLVN còn nghèo so với bình quân chung của cả
nước. GDP bình quân đầu người năm 2006 ước tính đạt 493 USD, so với 729
USD của cả nước. Dân hiện sinh sống trong 3 triệu căn nhà, mà 70 % là nhà tạm

Lưu lượng nước chảy vào lưu vực sông Cửu Long (Mekong River) là 2,000
m3/sec vào mùa khô (Tháng 12 – Tháng 3), trong mùa mưa là 25,000 m3/sec
(Tháng 7 – Tháng 11), với lưu lượng trung bình hàng năm khoảng 475 tỷ m3
nước.
Vào địa phận Việt nam, hai nhánh sông Cửu Long (sông Tiền và Hậu) có
lưu lượng trung bình 53 tỷ m3 nước/năm. Vận tốc chảy trung bình trong lảnh thổ
VN là 15,000 m3/giây (tại Tân Châu là 14,200 m3 nước /giây), tối thiểu 2,500
m3/giây trong mùa hạn, tối đa là 40,000 m3/giây trong mùa lủ.
Dự đoán cho biết vào năm 2070, vủ lượng trên toàn lưu vực sông Cửu Long
không thay đổi mấy (chỉ giảm 5 tỷ m3 nước mưa, tức giảm khoảng 0.8 %), nhưng
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long

mưa nhiều hơn hiện nay 40% trong mùa mưa, ngược lại mùa hạn kéo dài thêm
(31).
Trong vòng 30 năm qua, 13 đập nước lớn (>10MW), vài ngàn hồ nước nhỏ
(Cambodia 800, Lao PDR 600, Viet Nam 600, Thailand 4,000) đã xây dựng dọc
sông Mekong và chi lưu, và hơn 100 dự án thuỷ điện lớn nhỏ trên Mekong dự trù
xây dựng, sẽ đe doạ vùng hạ lưu. Riêng ở phần Trung quốc, 2 đập thủy điện đã
hoạt động: (Manwan, 1993, hồ chứa 0.92 tỷ m3; Dachaoshan, 2003, hồ chứa 0.96
tỷ m3), một sắp hoạt động (Xiaowan, 2012, hồ chứa 14.55 tỷ m3), và 4 cái đang
hoạch định trong đó đập Nuozhadu có hồ chứa 22.7 tỷ m3, nâng tổng số nước của
7 hồ này khoảng 55 tỷ m3, tương đương với tổng số lưu lượng chảy vào lảnh thổ
Việt Nam là 53 tỷ m3 nước/năm (14). Trên lý thuyết, việc xây đập ở thượng lưu sẽ
có lợi cho hạ lưu. Vào mùa mưa lũ, các đập được đóng để chứa nước nên làm
giảm lũ lụt ở hạ lưu. Đập xả nước cho chạy máy điện quanh năm, tuy nhiên mùa
hạn sản xuất điện nhiều hơn, nên xả nước nhiều hơn, vì vậy vùng hạ lưu có nhiều
nước hơn vào mùa hạn hán.
Tuy nhiên, các quốc gia Lào, Thái Lan và Campuchia chắc chắn sẽ gia tăng
hệ thống thủy lợi để gia tăng diện tích canh tác, chính vẫn là lúa. Hiện tại, tỉ số
diện tích đất được dẫn thủy ở các quốc gia này chỉ khoảng 20 %, trong lúc ở

ở Việt Nam trùng vào lúc đập Manwan hoàn thành và bắt đầu tích nước. Năm
1997, Trung quốc đóng cửa đập trong 4 ngày để sửa chửa đập, không cho nước hồ
chảy vào hạ lưu, gây khô hạn ở phần đất Việt Nam, gây thiệt hại cho Việt Nam
khoảng 100,000 USD/ngày (17).

Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long

ĐỀ NGHỊ BIỆN PHÁP
Việt Nam là một thành viên trong Ủy Ban Mekong. Tuy nhiên, Ủy Ban này chỉ là
cơ quan cố vấn, không có quyền hạn để áp đặt lên quốc gia này hay quốc gia khác
để sử dụng công bằng nguồn nước Mekong . Lịch sử qua mấy ngàn năm ở vùng
này là “cá lớn nuốt cá bé”, luôn luôn tranh chấp biên giới và tài nguyên. Việt Nam
phải tìm đường tự cứu mình hơn là trông chờ sự quan tâm của cơ quan này hay cơ
quan quốc tế khác.

1. Hợp tác với các nước trong Ủy Ban Mekong
Mặc dầu phải đơn phương tự lo cho mình, Việt Nam cũng phải hợp tác với các
nước trong lưu vực sông Mekong để cùng chia sẻ lợi ích chung của sông Cửu
Long trong việc phát triển thịnh vượng chung cho cả khu vực, hoặc bằng các ký
kết song phương với từng quốc gia, hay đa phương với cả khu vực. Đó là nghiên
cứu thiết lập (i) các đập, hồ tích trử nước dư thừa trong mùa mưa để giảm thiểu lũ
lụt và sử dụng nước trong mùa hạn, không có phương hại lẫn nhau; (ii) chuyển
một phần nước sông Cửu Long trong lảnh thổ Campuchia vào hệ thống sông Đồng
Nai để giảm thiểu lụt ở hạ lưu; (iii) giao thông đường thủy, đường bộ và phát triển
kinh tế dọc ven sông; (iv) giải quyết vấn đề ô nhiểm nước sông Cửu Long.
Đặc biệt quan tâm cùng với Campuchia thiết lập đập trên sông Tonle Sap,
chuyển nước lũ vào Biển Hồ trong mùa lũ, và tháo nước vào mùa hạn để
Campuchia và Việt Nam cùng sử dụng. Loại đập này vừa có khả năng đóng mở
giữ nước và tháo nước Biển Hồ, đồng thời tàu thuyền lớn qua lại dể dàng, nối
Nam Vang với Biển Đông, Biển Tây qua lảnh thổ Việt Nam, hay ngược dòng đến

Kinh Bến Nghé hay Kinh Tẻ, cả 2 đều đổ vào sông Sài Gòn (11). Cần phải vét
rộng và sâu thêm hệ thống kinh này vừa làm đường thoát lũ vừa là giao thông
đường thủy dễ dàng giữa Cảng Sài Gòn về các tỉnh Miền Tây xuyên qua Đồng
Tháp Mười.
Các đê cũng như các kinh cấp 1 trong đồng bằng cũng phải là đường giao
thông thủy bộ cần thiết cho phát triển kinh tế.

3. Sửa đổi quy hoạch tổng thể và sản xuất nông nghiệp
Quy hoạch sản xuất nông nghiệp phải nằm trong quy hoạch tổng thể gồm phát
triển công nghiệp, du lịch và nông nghiệp. Tác giả sẽ đề cập 2 phần trên vào một
dịp khác.
Năm 2008, ĐBCLVN sản xuất khoảng 20 triệu tấn lúa, chiếm 55 % sản
lượng toàn quốc, và 2.3 triệu tấn thủy sản mà 78 % là do nuôi. Đồng bằng đóng
góp 90 % lượng gạo xuất cảng của toàn quốc, và 60 % kim ngạch là do tôm xuất
cảng. Tính theo số lượng xuất cảng thì lớn, nhưng không đem lại lợi tức bao
nhiêu, tổng kim ngạch xuất cảng của ĐBCL chỉ có 3 tỷ USD năm 2006, không tới
10 % tổng kim ngạch xuất cảng của cả nước. ĐBCLVN có cần tiếp tục độc canh
ngành lúa để xuất cảng gạo không?
Trước nhất, ĐBCLVN có đủ nước canh tác trong mùa hạn, tức vụ lúa Đông
Xuân không? Trong mùa mưa, ĐBCLVN dư thừa nước để canh tác vụ Hè-Thu
hay Thu Đông trên toàn thể 2.4 triệu ha đất ruộng, nhưng không đủ nước để canh
tác toàn thể diện tích này trong vụ lúa Đông Xuân, tức mùa hạn, từ tháng 1 đến
thàng 4.
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long

Hiện tại, trong 5 tháng mùa hạn (từ tháng 1 đến tháng 5), ĐBCLVN chỉ
nhận được số lượng nước (chảy qua sông Tiền và sông Hậu) trong giới hạn từ
1,800 m3/s (là lưu lượng tối thiểu chảy vào mùa hạn) đến 3,300 m3/s (lưu lượng
tối đa vào mùa hạn), tính trung bình 2,500 m3/s, tức khoảng 32.4 tỷ m3 nước.
Trong tình trạng hiện tại, khi các cửa sông chưa đóng kín bằng hệ thống đập dọc

nông dân, và tránh vấn đề độc canh lúa, cần phải quy hoạch lại chương trình sản
xuất nông nghiệp đúng theo môi trường của địa phương.

1. Vùng duyên hải và bán đảo Cà Mau. Trước nhất phải quy định lại vùng ngọt
hóa, vùng nước lợ và vùng mặn hóa trên vùng duyên hải và bán đảo Cà Mau thật
rỏ ràng và có ý kiến của người dân địa phương. Việc nông dân không hợp tác và
phá hủy nhiều công trình ngọt hóa ở vùng Bạc Liêu, Cà Mau kể từ 2000 cho biết
việc cưởng bách dân canh tác lúa trong nhiều vùng ngọt hóa trên vùng đất vốn
nhiểm mặn trầm trọng này chỉ làm dân nghèo thêm, bởi vì trồng lúa không có lợi.
Canh tác lúa không có lợi ngay cả ở những vùng đất trù phú như miệt Cần Thơ,
An Giang. Ngược lại, canh tác hoa màu chịu mặn và nuôi thủy hải sản đem nhiều
lợi tức hơn cho người dân và mang lại nhiều ngoại tệ cho đất nước hơn xuất cảng
lúa gạo. Vì vậy, cần giới hạn lại khu vực ngọt hóa vừa tầm với khả năng cung cấp
nước ngọt, kỹ thuật ngăn chận nước mặn và khả năng tài chánh bảo toàn hệ thống.
Hơn nữa không cần thiết canh tác nhiều lúa ở Bán Đảo Cà Mau. Canh tác lúa
không có lợi.
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long

Vùng duyên hải và bán đảo Cà Mau xưa nay vốn là vùng sản xuất thủy hải
sản, và nông dân đã có kinh nghiệm sống chung với nước mặn. Việc thất bại nuôi
tôm rầm rộ với quy mô lớn trong thập niên 1990s đã giúp cho nông dân tự tìm một
mô hình thích hợp cho sản xuất ở vùng nhiểm mặn. Đó là luân canh giữa nuôi tôm
trong mùa hạn khi nước mặn xâm nhập vào ruộng, và trồng lúa trong mùa mưa sau
khi đất được rửa bớt muối. Với hình thức canh tác này đều cho năng xuất tôm cao
(ít bệnh, ít thức ăn vì nhờ phiêu sinh từ rơm rạ mục, năng xuất trung bình 100 -
300 kg tôm/ha/) và năng xuất lúa cao (3.5 đến 5 t/ha), nhờ vậy nông dân có lời
(sau khi trừ phần tổn phí) từ 8 triệu đến 50 triệu đồng/ha/năm. Trước đây, hoặc chỉ
nuôi tôm, hoặc chỉ trồng lúa, nếu không phá sản thì cũng chỉ có lời chút đỉnh, “lấy
công làm lời”. Mặc dầu đây chưa phải là một mô hình hoàn hảo, nhưng khả dỉ
mang lại nhiều lợi tức cho người dân, đồng thời bảo vệ được môi trường sinh thái

nhím biển ), v.v…rong biển (rong câu), v.v. mà vùng ĐBCLVN chưa bắt đầu.
Cũng cần biết thêm là kỹ thuật nuôi tôm công nghiệp hiện tại còn quá ấu
trỉ, cho năng xuất quá kém, nhiều bệnh tật, nên nuôi tôm không có lời. Năng xuất
chỉ 300 kg/ha ở Cà Mau đến 500 kg/ha ở Bạc Liêu, Sóc Trăng, Bến Tre. Để sản
xuất 1 kg tôm, phải cần 2 kg thức ăn, với giá 25 ngàn đồng/kg, trong khi đó giá
tôm nguyên liệu quá thấp, đối với cỡ tôm 30 con /kg giá khoảng 100 ngàn
đồng/kg, loại 40 con/kg giá 80 ngàn đồng/kg. Do đó, chỉ tính riêng tiền chi phí
thức ăn cho tôm đã chiếm đến gần 50 %. Cần phải nghiên cứu lại kỹ thuật nuôi
tôm công nghiệp theo kinh nghiệm nước người. Kỹ nghệ nuôi tôm ở Hawaii đã đạt
45 t/ha/năm với tôm-thẻ-chân-trắng (Penaeus vannamei).
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long

Với một bờ biển trải dài hơn 600 km, với diện tích khoảng 1 triệu ha đất
nhiểm mặn, cần thiết lập một viện nghiên cứu chuyên về nước mặn, tương đương
với Viện Nghiên Cứu Lúa Ô Môn và Viện Cây Ăn Quả Long Định của vùng nước
ngọt. Thật đáng tiếc, một vùng có nhiều tìm năng kinh tế như vậy mà chưa có một
trường đại học để chuyên về nước mặn, nước lợ. Đại học Duyên Hải Nha Trang
không thể đáp ứng được với nhu cấu phát triển đặc biệt của vùng này.

2. Trong vùng nước ngọt quanh năm. Hiện tại, nơi canh tác lúa 3 vụ/năm nên
chuyển hướng canh tác 2 vụ lúa + 1 vụ hoa màu ngắn hạn (100 – 120 ngày) trong
mùa hạn như đậu nành, đậu xanh, bắp, sorgho đường ít có nhu cầu nước. Việc
canh tác lúa liên tục làm đất mất dưởng chất, tích tụ nhiều chất độc (thuốc diệt cỏ,
thuốc sâu và bệnh), vì để duy trì năng xuất cao, nông dân phải gia tăng số lượng
phân bón, thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, v.v.
Chẳng hạn ở vùng Tân Châu, Châu Đốc, cho mỗi vụ lúa trên 1 ha ruộng
nông dân bón 170 -250 kg phân Urea (46 % N), 100 kg phân DAP (chứa 18 %
N+46 % P2O5), 50 – 80 kg phân ClK (60 % K2O), sử dụng 1 - 1.2 lít thuốc diệt
cỏ Butachlor, xịt thuốc trừ sâu cuốn lá với Alpha Cypermerine (1 l/ha/1 lần phun,
thường khoảng 3 lần) hoặc 3.6 Abamectin (0.4 l/ha/1 lần phun), trừ rầy nâu với

cá/ha/năm, xuất cảng trên 535 ngàn tấn qua 117 quốc gia, vùng lãnh thổ (Châu Âu
chiếm 48%), kim ngạch xuất cảng đạt 1.250 tỷ USD (28). Cá Pangasius có năng
xuất 50- 80 tấn/ ha ở ao hồ nước ngầm , 100- 200 tấn/ha ở các ao hồ phù sa
và 300- 600 tấn / ha / năm ở lồng bè cở lớn, tỉ trọng thả cá con rất cao , bề sâu 3 m
và nước chảy , thay đổi thường xuyên. Lợi tức nuôi lồng bè theo nước chảy lên
đến 2 tỷ đồng VN/ ha một năm (23).
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long

Nuôi cá lóc trong hầm ao hay trong bể có lót nylong dày, sâu 1 m, mỗi m2
nuôi khoảng 100 – 150 cá lóc con, chỉ trong 5 tháng một lứa. Mỗi 100 m2 ao cá
lót nylong, có thể lời 25 triệu đồng trong 5 tháng.
Tôm càng cũng dễ dàng nuôi trong đồng ruộng nước ngọt khắp ĐBCLVN,
nhất là vùng ngày xưa canh tác lúa cấy 2 lần ở Cần Thơ, Vĩnh Long, vì ruộng cần
có một lớp nước sâu tối thiểu 0.6 m, và nước có pH = 7 - 8.5.
ĐBSCL cũng là nơi chăn nuôi trâu bò (gồm cả bò lấy thịt và bò sữa) và gia
cầm thích hợp, đặc biệt là vịt thả trong ruộng, trên mương, rạch. Số vịt được nuôi
ở khu vực này chiếm trên 50% cả nước. Cần phải có cánh đồng trồng cỏ dinh
dưởng cao, thay vì trâu bò thả rong ăn cỏ hay rơm rạ như hiện nay.
Trên vùng đất cao dọc ven sông là nơi dành cho cây ăn trái, mà xưa nay
vốn được gọi “Miệt Vườn”. Tại vùng Cần Thơ, nông dân cải thiện vườn cây tạp
bằng cách lên bờ bao chung quanh để tránh ngập úng và hệ thống mương, liếp, để
trồng cam, quit, bưởi. Đặc biệt chú trọng về cải thiện giống trái cây hầu bắt kịp và
cạnh tranh với Thái Lan trong lảnh vực này trên thị trường quốc tế. Ở vùng Cần
Thơ, trồng bửơi cho lợi tức khoảng 20 triệu đồng/ha/năm, cam khoảng 40 triệu
đồng/ha/năm trong lúc lúa chỉ lời 1 triệu đồng /ha/3 vụ lúa/năm. Tuy nhiên cam
VN không có khả năng xuất cảng vì trái màu xanh khi chín. Hiện tại, 90 % vườn
vùng Cần Thơ là vườn tạp, đa số là chuối giống tạp, xen kẻ với cam, quit, bưởi,
vườn bị ngập nước trong mùa lụt. Cần phải cải tạo các vườn này, có bờ đê ngăn
lụt, có mương dẫn nước và cống giữ nước, và chuyên canh một loại cây ăn trái
trên diện tích lớn theo quy chế hợp tác mới có khả năng xuất cảng và cạnh tranh

Đồng Tháp Mười, Tứ Giác Long Xuyên và vùng duyên hải không có nước ngọt để
uống,vì phèn hoặc nước mặn trong sông rạch.

a. Thiết lập hệ thống cống đầu kinh. Lý do chánh, ngoài yếu tố sử dụng quá tải khả
năng nước ngọt do sông Tiền sông Hậu cung cấp cho trồng lúa Đông Xuân ở đầu
nguồn, các kinh dẫn nước từ sông chánh vào Đồng Tháp Mười và Tứ Giác Long
Xuyên chưa có hệ thống cống hửu hiệu để giữ nước. Vì vậy, nước lụt tràn vào
nhanh, hết lụt nước cũng chảy ra nhanh.

b.Vét nạo sông, kinh và rạch. Sông và kinh rạch hiện tại bị phù sa lắng tụ, dòng
nước bị tắc nghẻn, trở nên cạn ở nhiều nơi. Sông Tiền miệt Tân Châu bị cạn, tàu
lớn không lưu thông được. Sông Vàm Nao cũng bị lắng tụ phù sa. Ngành đóng tàu
vủa Việt Nam hiện nay rất phát triển. Nên đóng nhiều tàu với xáng nhiều cở để
nạo vét lòng sông, và kinh rạch. Ở hạ lưu sông Mississippi , chính phủ cho phép tư
nhân nạo vét sông và kinh rạch để lấy đất bán cho các công trình xây cất đô thị
trong vùng đầm lầy. Việc đô thị hóa nông thôn ở ĐBCLVN cần một số đất rất lớn.

c. Thiết lập hồ chứa nước. Từ thời xa xưa người Phù Nam và người Khmer đã đào
nhiều ao chứa nước ngọt. Vết tích những ao hồ này còn thấy nhiều nơi có sắc tộc
Khmer sinh sống, như Trà Vinh, Sóc Trăng, 7 hồ khá lớn ở vùng đất cao vùng
Thất Sơn.
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long

Trong mỗi thành phố ở ĐBCLVN, nơi thiếu nước ngọt, nhất là các thành
phố khép kín bởi đê chống lụt trong Đồng Tháp Mười, cần phải đào nhiều hồ
tương tự như Ao Vàm Láng (Gò Công) đào năm 1993, dài 200 m, rộng 100 m, sâu
3 m, do cộng đồng Châu Âu tài trợ nhằm trữ nước mưa và nước ngọt. Tại Mộc
Hóa, một hồ nước được đào năm 1956.
Ngoài ra, cần biến một số đầm lầy, ao hồ, lung, bầu thiên nhiên thành hồ
chứa nước ngọt. Chẳng hạn:

ngầm tráng xi măng. Ngay cả các quốc gia tiến bộ và giàu có như Australia ,
người dân trong thành phố (như Brisbane ) cũng đã phải tích trử nước mưa rất
hiếm hoi cho sinh hoạt.
e. Gia tăng nước trong túi nước ngầm (aquifer). Dân chúng trong ĐBCLVN sử
dụng nước ngầm, không những cho sinh hoạt, mà còn cho mục đích nông nghiệp
và kỹ nghệ. Vùng Bán Đảo Cà Mau là vùng có nhiều giếng nhất, Cà Mau có
178,000 giếng, Bạc Liêu có 98,000 giếng. Riêng tại Cần Thơ có 32,000 giếng
khoan cở nhỏ của hộ gia đình với công suất khoảng 5 m3/ngày, hơn 300 giếng cở
trung bình công suất khoảng 500 m3/ngày cho trạm cấp nước nhỏ và 20 giếng qui
mô lớn công suất trên 100 m3 /ngày để cấp nước cho sinh hoạt và công nghiệp (9).
Ước tính tổng lượng nước ngầm hiện đang khai thác sử dụng toàn vùng khoảng 1
triệu m3/ngày nhưng hầu hết các địa phương trong vùng đều chưa có quy hoạch
khai thác, sử dụng, và bảo vệ nước ngầm. Hiện tại, ở vùng Cà Mau, nước ngầm đã
giảm sâu thêm 12 -15 m. Nếu tiếp tục bơm nước ngầm sử sụng như hiện nay sẽ có
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long

3 nguy cơ lớn: (i) nước ngầm sẽ cạn kiệt, (ii) đồng bằng sẽ bị lún sụp và hậu quả
nước biển dâng cao sẽ trầm trọng thêm, và (iii) nước mặn sẽ xâm nhập vào túi
nước ngầm.
Trong ĐBCLVN có 5 loại túi nước ngầm chính phân theo tuổi địa chất từ
thời Holocene đến Upper Myocene (32), đa số và quan trọng là túi nước ngầm bị
nhốt (confined aquifers) ở độ sâu bên dưới lớp sét ít thấm nước. Loại túi nước
ngầm thời Upper-Middle Pleistocene, là loại giếng ở tầng cát thô đến nhuyển tập
trung ở vùng Bắc và Nam của đồng bằng. Bên dưới là túi nước ngầm trong lớp sạn
đến cát của thời Lower Pleistocene, cung cấp nước có phẩm chất cao và cho nhiều
nước. Dân chúng trong ĐBCLVN hiện khai thác nước ngầm từ túi thời
Pleistocene. Trong ĐBCLVN nước ngầm trong túi được đầy (một phần nhỏ) lại
trong mùa mưa lụt do nước thấm qua đất từ các nguồn nước mưa, sông, rạch, ao,
hồ.
Nghiên cứu trong 5 năm tại Cần Thơ cho biết mực nước ngầm của tầng

rất lớn vào môi sinh, đời sống động thực vật và con người, và tạo ô nhiểm nước
bên trong.
(ii) Lưu thông của tàu thuyền gặp nhiều khó khăn với loại đập Ba Lai hay
Âu thuyền Tắc Thủ. Xây dựng những loại đập tân tiến như hệ thống Cống Chống
Lụt trên sông Thames của Anh quốc, hay trên đê biển Afsluitdijk của Hòa Lan thì
quá tầm tài chánh, kỹ thuật và quản lý của Việt Nam.
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long

Một giải pháp thích hợp nhất, vừa chống mặn xâm nhập trên sông, vừa duy
trì ảnh hưởng của chế độ thủy triều của Biển Đông, vừa duy trì sinh môi mặn của
vùng duyên hải, vừa thuận lợi cho tàu bè lớn lưu thông là áp dụng kiểu đập ngầm
(underwater sill) trên sông Mississippi của Hoa Kỳ. ĐBCLVN về mặt thủy tính
tương tự như hạ lưu sông Mississippi của Hoa Kỳ
Trên sông Mississippi, nước biển xâm nhập vào khoảng 96 km (gần Myrtle
Grove) kể từ cửa biển, cách New Orleans khoảng 64 km, là nơi bắt đầu có 13 công
trình cấp nước sinh hoạt cho thành phố New Orleans, với số lượng 1.8 triệu
m3/ngày với tiêu chuẩn lượng chloride dưới 250 ppm (phần triệu). Đây cũng là
đoạn sông tàu lớn lưu thông dập dìu nhất trên thế giới. Công binh Hoa Kỳ tìm một
biện pháp hửu hiệu vừa ngăn chận nước mặn vừa cho phép tàu lớn lưu thông dễ
dàng, mà lại rẻ tiền so với cách làm đập nổi có cống ngăn mặn thông thường. Đó
là việc thiết lập đập ngầm (underwater berm, underwater sill) (21).
Bởi vì nước mặn có tỉ trọng (1.03) lớn hơn nước ngọt (tỉ trọng 1.0), nên
nằm ở bên dưới lớp nước ngọt. Vì là dòng nước chảy, nước ngọt ở trên, nước mặn
ở đáy, tạo thành một “lưởi nước mặn” (Salt wedge). Hình dáng và vị trí lưởi nước
mặn thay đổi theo lưu lượng nước chảy. Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long Đập ngầm được xây cách mặt nước 14.1 m (để tàu lớn thông thương), có
chiều dài 500 m ở khúc sông rộng 600 m. Từ mặt đập đến đáy sông là 13.5 m, mặt
đập rộng 13.5 m, đáy đập rộng 34.5 m, tổng số vật liệu bơm đấp đập là 649,868
m3/ (850,000 cu yd). Công tác hoàn thành trong 4 tuần lể (ngày 1/8/2008). Tổn
phí 790,000 USD (giá năm 1988) (21).
Công trình này bảo đảm nước ngọt cho thành phố New Orleans , đồng thởi
tàu lớn ra vào tấp nập trên đập. Về phía hạ ngưồn của đập ngầm thì chứa nước lợ.
Để cung cấp nước ngọt cho một số ít cư dân ở hạ nguồn, dùng tàu chở nước ngọt
tiêu chuẩn từ New Orleans đến hạ nguồn.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status