Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long
Phần 3: Kinh nghiệm Bangladesh
Khái lược tổng quát về Bangladesh
Bangladesh là một tam-giác-châu nhận nước mưa nhiều nhất trên thế giới, góp
92% nước mưa của ba lưu vực có tổng cộng diện tích 1.5 triệu km2 của ba sông
chính là Brahmaputra, Ganges và Meghna của ba nước Bhutan, Ấn Độ và Nepal
thuộc vùng Tây Tạng, chảy vào hạ lưu là Bangladesh, trước khi ra Vịnh Bengal.
Sông Brahmaputra khi xáp nhập với sông Ganges tạo thành tam-giác-châu
Sunderbans lớn nhất thế giới, nổi tiếng về rừng ngập mặn (mangroves) và cọp.
Lưu lượng sông Brahmaputra vào mùa lụt là 65,500 m3/giây, sông Ganges là
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long
51,500 m3/giây. Tổng số nước chảy ra Vịnh Bengal của Bangladesh nhiều hơn 2.5
lần sông Mississippi, chỉ sau sông Amazon. Vào năm bình thường, nếu cho lượng
nước này tràn ngập, thì Bangladesh sẽ chìm sâu dưới 7 m nước. Cao nguyên
Meghalaya, bắc Bangladesh, là nơi có vủ lượng cao kỷ lục trên thế giới, vủ lượng
trung bình hàng năm là 11 m nước, năm mưa nhiều tới 25 m nước. Ở vùng đồng
bằng duyên hải, mưa trung bình 1750 mm/năm. Vì không có công trình kiểm soát
nước quy mô ở thượng nguồn, lại là vùng rừng bị tàn phá nặng nề, bao nhiêu nước
lũ tràn vào Bangladesh gây nên xói lở đất đai, và lụt lội hàng năm. Mỗi năm 2,400
triệu tấn phù sa do sông chuyên chở vào Bangladesh và vịnh Bengal. Ngược lại,
vào mùa khô thì đồng bằng thiếu nước canh tác, vì vậy đời sống nông dân rất bấp
bênh, ít nơi có khả năng làm 2 hay 3 vụ mùa mỗi năm. Qua hàng mấy ngàn năm,
người dân sống cùng thiên nhiên, quen với bão tố và lũ lụt hàng năm. Nông dân
phát triển cả hàng ngàn giống lúa nổi (floating rice) thích ứng mùa ngập lụt sâu
với 5-6 m nước, và vào mùa khô thì canh tác giống lúa thấp giàng (lùn). Nhưng lụt
lội nhiều khi xảy ra rất nhanh chóng, chỉ trong vài giờ làm giống lúa nổi cũng
không tăng trưởng kịp nên bị ngập chết, còn vào mùa khô thì lại không có nước để
canh tác, hậu quả là mất mùa liên miên. Ngoài ra, nạn nhân mãn rất trầm trọng,
trong suốt 2 tuần. Một mảng đê trên bờ nam sông Brahmaputra bị vỡ, phá hủy
100,000 ha hoa màu.
Vịnh Bengal cũng là nơi tập trung bão khủng khiếp thường xuyên. Tháng
10/1876, trận bão với sóng triều cao 15 m tàn phá Bangladesh với khoảng 100,000
người chết; năm 1897 làm 150,000 người thiệt mạng, tháng 11/1970 với sóng triều
9 m gây 500,000 người chết, năm 1991 bão giết hơn 130,000 dân, và mới đây,
ngày 2/5/2008 bão Nargis với vận tốc gió 120 mph và mưa lủ tàn phá Miền Điện
làm chết trên tám chục ngàn người.
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long
Hình trái: Tần số bão lớn xảy ra trong mỗi 10 năm ở Vịnh Bengal. Phần cột in
đậm là số bão thổi vào đất liền. Hình mặt: Hướng bão lớn trong Vịnh Bengal
trong thời gian 1945-1954, gây sóng biển cao < 2m (A), 2- 5 m (B), và >5 m (C)
trên vùng duyên hải. Bangladesh lảnh đủ bão biển với sóng biển loại C khi có bão.
Công trình chống bão lụt và dẫn thủy
Vào năm có khí hậu bình thường, 30% diện tích Bangladesh đều bị lụt sâu vài ba
mét nước. Qua hàng ngàn năm người dân Bangladesh đã thích ứng sống chung với
lũ lụt định kỳ này. Hàng ngàn giống lúa nổi được thiên nhiên và nông dân tuyển
chọn cho môi trường ngập lụt định kỳ, có nơi ngập lụt 5-6 m. Dĩ nhiên năng suất
lúa thấp, không đủ nuôi số dân tăng trưởng 2%/năm, nên đời sống dân nghèo nàn
và thất học. Ngoài ra, trong vài thập niên qua, thỉnh thoảng có những trận lụt
khủng khiếp xảy ra, như các năm 1970 (nửa triệu người chết),
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long
1984, 1987, 1988, 1990 (130,000 người chết), 1991, 1998, gây thiệt hại to lớn cho
tài sản và nhân mạng. Từ mấy ngàn năm trước đây, địa chủ đã đắp đê bao quanh
ruộng đất của mình, và có bộng dẫn và thoát nước, để điều chỉnh nước canh tác
thiết lập hệ thống cảnh báo lụt và nơi trú ẩn ở mỗi địa phương khi có bão hay lụt.
Chính phủ Bangladesh thì muốn giải pháp của Pháp, nhưng không có tài chánh và
không có nước nào tài trợ với kinh phí khổng lồ đó. Cuối cùng Bangladesh cùng
các quốc gia và cơ quan tài trợ, chủ yếu là Ngân Hàng Thế Giới đi đến thỏa thuận
chung là thực hiện từng kế hoạch 5 năm, và tùy tài chánh mà thiết lập thêm đê
điều. Chủ yếu của kế hoạch là bảo vệ vùng nông nghiệp và các trung tâm dân cư
tránh khỏi những cơn lụt lớn nhất.
Theo các kế hoạch này, bắt đầu bằng kế hoạch ngũ niên 1990-1995, các
vùng bị lụt đe dọa được nghiên cứu kỹ lưỡng lại, bờ đê dài 260 km hữu ngạn sông
Brahmaputra được xây cao thêm thật kiên cố, đồng thời củng cố lại hệ thống đê
điều đã có. Thiết lập 5 công trình kiểm soát dòng sông, mỗi công trình tốn khoảng
10 triệu US$, và dùng mô hình toán học và quan trắc vệ tinh để theo dỏi kết quả
của các công trình này. Ngoài ra, nhiều công trình khác chú trọng vào việc kiềm
chế lũ lụt, thoát nước, phương pháp bảo vệ hữu hiệu đê, cải thiện nước cho ngư
nghiệp, và nhiều chương trình xã hội khác.
Theo các chuyên gia hàng đầu của thế giới từng thực hiện các dự án thủy
lợi ở Bangladesh thì không có giải pháp nào có thể chế ngự hoàn toàn lũ lụt cho
toàn quốc Bangladesh. Theo các chuyên gia này, vì ngân khoản eo hẹp, chỉ nên
chọn lựa các công trình thiết kế đê điều “ngăn chận” lụt để bảo vệ dân chúng, đất
canh tác, các thành phố chính và một số kiến trúc cần thiệt cho nền kinh tế như
đường giao thông, cầu cống, v.v. Ở những nơi khác, thì nên “kiểm soát” mực nước
lụt, nghĩa là xả nước qua các cổng điều hòa nước (regulators) trên các đê dọc sông
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long
để ngập một số vùng đất bên trong vừa đủ để canh tác lúa, đay (jute) và nuôi cá.
Tại các vùng lụt có hạn chế này, đường sá, nhà cửa, trường học, nhà thương, chợ
búa và nhà trú ẩn được xây cất trên nền cao. Mọi hoạt động vẫn bình thường mặc
dầu trong mùa lụt.
Hệ thống cảnh báo lụt cũng được thiết lập, liên kết với các trạm thủy văn
đầu nguồn ở Ấn Độ, theo dõi mực nước và vủ lượng suốt từ thượng nguồn cho tới
Hiện nay, Bangladesh có tổng cộng khoảng 13,000 km đê, gồm 9,000 km
đê sông và 4,000 km đê biển, bảo vệ khoảng 30% diện tích toàn quốc, cho khoảng
35 triệu dân (tổng số 135 triệu). Bangladesh đã xây dựng được 135 polders, từ
vùng duyên hải cho tới sâu trong nội địa hàng trăm km, với tổng số diện tích 1.09
triệu ha, với khoảng 1488 cống (sluices) điều chỉnh nước. Ngày nay, 90% dân số
vùng duyên hải sống trong các polders, 80% sống nhờ nông nghiệp. Nhờ có đê
biển và polders, thiệt hại do bão tố trong thập niên qua được giảm thiểu, mặc dù
tại vùng duyên hải, đất chỉ cao hơn mực nước biển từ 0 đến 2 m, trong khi sóng
triều lúc bão biển cao 6m.
Ngược lại, ở bắc Bangladesh, đất canh tác lại thiếu nước trầm trọng để canh
tác lúa và hoa màu khác trong mùa khô. Một công trình bắt đầu thực hiện trong
cuối thập niên 1970s và 1980s, với diện tích tổng cộng 750,000 ha, trong số đó
540,000 ha sẽ được dẫn thủy. Công trình gồm xây một đập chắn, hệ thống đê bao
ngạn ngăn lụt, kinh đào chuyển hướng dòng nước, hệ thống mương dẫn thủy và
thoát thủy, một hệ thống kết tụ phù sa. Công trình giai đoạn 1 hoàn thành tháng
6/1998. Kể từ 2003, 111,400 ha đã được dẫn thủy và nông dân trồng được 3 vụ lúa
(một vụ mùa mưa, và 2 vụ trong mùa khô). Giai đoạn 2 còn đang thực hiện.
Không ai chối cãi lợi ích của hệ thống đê dọc biển, dọc sông, quanh các
polders trong việc chống lũ lụt, bảo vệ dân và phát triển kinh tế của Bangladesh.
Nhờ hệ thống kiểm soát lụt và dẫn thủy, Bangladesh sản xuất đủ lương thực nuôi
135 triệu dân. Tuy nhiên, theo một số chuyên viên nước ngoài và trong nước, hệ
thống chống lụt ở Bangladesh có những thất bại:
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long
(i) Các đê bằng đất thường bị phá vỡ, nên lụt vẫn xảy ra, nhất là trong thập
niên qua, vì dòng chảy của sông trở nên khủng khiếp do nạn phá rừng ở thượng
nguồn. Dân chúng sống bên trong đê có thể bị nguy hiểm thình lình khi đê bị vỡ
(ii) Vùng đất thấp xa sông thiếu phù sa bồi đắp, trở nên nghèo nàn, nền đất
lún sụp, trong khi nước biển dâng cao.
(iii) Môi sinh bị phá hủy, mà thế giới môi sinh quan tâm nhất là vùng rừng
Cuộc tranh đấu với thiên nhiên vẫn tiếp tục và sẽ không bao giờ chấm dứt.
Tài liệu tham khảo chính
New Scientist (1989), issue 1693, 02 December 1989.
Bangladesh: at the mercy of climate change (2007):
/>_of_cli.html
Technical Support Unit, World Meteorological Organization and Global Wate
Partnership (2003). Bangladesh: Flood Management.
Tutu, A-U-A. (2005). River management in Bangladesh: a people’s initiative to
solve water-logging.
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long
Khalequzzaman, M. (). Flood Control in Bangladesh through Best Management
Practices.
Wiebe, H. Flood action Plan in Bangladesh. In “Assessment of flood control and
management Options”.
Weste, P. and Bron, J. Water management in flood control and drainage systems
in Bangladesh.
Hossain, M.Z. and Sakai, T. 2008. Severity of Flood Embankments in Bangladesh
and Its Remedial Approach. Agricultural Engineering International: the CIGR
Ejournal. Manuscript LW 08 004.Vol. X. May, 2008.