Y HỌC TRONG XÃ HỘI PHONG KIẾN – PHẦN 2 - Pdf 19

Y HỌC TRONG XÃ HỘI PHONG KIẾN
– PHẦN 2 * Về y học :
* Khám phá ra hệ thống tuần hoàn:
- Michel Servet ( 1509 - 1553) bác sĩ Tây Ban Nha, đầu tiên tìm ra tiểu
tuần hoàn, khẳng định trong máu có không khí.
- Sau đó William Harvey ( 1578-1657) trình bày đầy đủ toàn bộ hệ tuần
hoàn: máu đi một vòng chứ không rập rình như thủy triều, van tĩnh mạch hướng
cho máu chảy về tim, van động mạch bắt máu phải đi thóat xa tim. Sau Harvey có
Malpighi ( 1628 - 1694) phát minh hệ thống mao mạch.
* Phát triển giải phẫu:
- Léonard de Vinci ( 1452- 1519) đi tiên phong trong ngành giải phẫu. Ông
là một nhà bác học am hiểu nhiều môn: hóa, điêu khắc, âm nhạc, vật lý, tóan, thiên
văn, địa chất, giải phẫu đề ra phương pháp thực nghiệm của khoa học, đưa khoa
học ra đẩy lùi mê tín dị đoan thời Trung cổ, đề cao giá trị con người. Ông đã mổ
khỏang 30 tử thi, tả đường đi của tĩnh mạch, có nhiều tranh giải phẫu để lại mãi
tới ngày nay.
- André Vésale ( 1514- 1564), người Bỉ, đã nêu lên những sai lầm của
Galien. Năm 29 tuổi ông đã phát hiện hơn 200 điểm sai lầm trong sách của Galien.
Vésale được coi là người cha của giải phẫu học hiện đại. Ông viết cuốn sách cấu
trúc cơ thể ( Humani Corporis Fabrica) có giá trị.
* Phát triển phẫu thuật:
- Ambroise Paré ( 1510 - 1590), người Pháp, nhà phẫu thuật lớn thời kỳ
này. Biết thắt động mạch khi chữa các nhóm động mạch, làm giảm đau khi mổ xẻ,
điều trị bảo tồn, phẫu thuật chỉnh hình, làm chân tay giả, ông sáng chế ra nhiều
dụng cụ mổ xẻ, trong điều trị chú ý điều trị toàn diện, trông nom cơ thể, chú ý tâm
tư. Câu bất hủ của A. Paré:” Tôi băng bó và Thượng đế làm khỏi”.
Phẫu thuật tai mũi có Gaspard Tagliacozzi ( 1546-1599). Caire Roesslin (
1513) cho xuất bản cuốn sách đầu tiên về sản khoa, Mercurie lần đầu tiên giới

thân nhiệt, một đồng hồ đo mạch ( tiền thân của mạch kế, huyết áp kế ngày nay).
- Bernandino Ramazzini ( 1633- 1714) là nhà lâm sàng học Ý, đã viết về
các bệnh nhiễm độc, về vệ sinh cá nhân, về bệnh nghề nghiệp, về bệnh lý lao
động.
- Borelli ( 1608-1679) coi cơ thể là một cái máy tuân theo những quy luật
nhất định, ông đã trình bày sự co bóp của các cơ, tả ảnh hưởng của cơ liên sườn và
cơ hoành trong hô hấp.
- Antoon Van Leauwenhoek ( 1632-1723) Hà Lan, sáng chế ra kính hiển vi
đầu tiên với độ phóng đại 270 lần. Ông đã nhìn thấy roi trùng ( 1675) và tinh trùng
( 1677).
- Fracastor ( 1478-1553), người thầy thuốc Ý, người đi đầu về dịch tể học
hiện đại. Người Ý gọi ông là người cha của bệnh học hiện đại. Ông đã bàn luận
nguồn gốc của bệnh tật, mô tả bệnh sốt Rickettsia, nói về sự lây truyền của đậu
mùa, sởi, dịch hạch, dại, giang mai, hủi, ghẻ Ông cho nhiễm trùng là do những
vật hết sức nhỏ mà giác quan ta không thấy được chứ không phải là do sự thối rữa.
- Thomas Sydenham ( 1624-1689), người Anh, mô tả tỉ mỉ bệnh đậu mùa,
tinh hồng nhiệt. Về thuốc, ông thích nhất là thuốc phiện, chứng vũ Saint Gay tên là
múa giật Sydenham.
- Leopold Anenbrugger ( 1722-1809) ở Vienne, đề ra phương pháp gõ.
Ông tả tiếng gõ bình thường, khi có nước trong màng phổi, có nước màng tim và
tim phì đại.
- Malpighi (1628- 1694), người Ý, nổi tiếng về nghiên cứu tuần hoàn máu
ở mao mạch, xây dựng ngành bào thai học ( cùng Harvey), tả các lớp trong da,
hạch bạch huyết, niệu cầu thận.
- Jean Pecquet ( 1622- 1674) người Pháp, đã tìm ra ống ngực, ống này
mang bạch huyết và tĩnh mạch chủ trên.
IV. Y HỌC VIỆT NAM TRONG XÃ HỘI PHONG KIẾN
Sau chiến thắng Bạch Đằng ( 938), nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Ngô
Quyền, kết thúc hoàn toàn thời kỳ mất nước hơn 1000 năm, mở ra thời kỳ phát
triển của quốc gia phong kiến độc lập và thống nhất.

làm 10 khoa.
Bộ “ Hồng nghĩa giáo tư “ 2 quyển thơ Nôm nói về lý luận Đông Y, dược
học dân tộc và biện chứng luận trị. Tuệ Tĩnh đã đề ra phương pháp luận trị là:
“ Bế tinh, dưỡng khí, tồn thần, thanh tâm, quả dục, thủ, chân, luyện hình.”
Ông đề ra phương châm “ Thuốc Nam chữa người Nam “, tổ chức trồng
thuốc, kiếm thuốc, phổ biến cách phòng bệnh, chữa bệnh cho nhân dân, dùng
phương pháp đơn giản như xông hơ, xoa bóp, châm cứu.
* Đời nhà Hồ:
Mở rộng chữa bệnh cho nhân dân bằng cách châm cứu, tổ chức các Y Ty ở
các Trấn, Tỉnh để chữa bệnh cho quan lại và nhân dân.
Nguyễn Đại Năng ở Hải Hưng biên soạn cuốn” Châm cứu tiếp hiệu diễn
ca” bằng thơ Nôm.
* Đời nhà Lê:
Có luật Hồng Đức đặt quy chế nghề Y, trừng phạt những thầy thuốc vụ lợi,
cố tình chữa bệnh dây dưa, cấm bán thịt thối thiu, quy chế pháp y khi khám án
mạng, tử thi , cấm phá thai, chống tảo hôn. Phát hành sách “Bảo sinh diên thọ
toản yếu” để truyền bá phương pháp vệ sinh, hô hấp, vận động cho nhân ân. Có
Thái Y Viện ở Trung ương, có kho thuốc dự trữ ở các Tỉnh. Ở các Huyện có
những nơi bảo dưỡng người tàn tật, già yếu, trẻ mồ côi Có chống dịch ( vua
trưng dụng các thầy thuốc), phát triển trồng thuốc Nam. Mở khoa thi Y Khoa, xây
dựng Y miếu Thăng Long và khuyến khích phát triển y học.
Danh y có:
- Phan Phú Tiên đậu Thái học sinh năm 1396 ông đã biên soạn cuốn “ Bản
thảo thực vật toản yếu” ( 1429) gồm 392 vị thuốc Nam dùng làm thức ăn để phòng
bệnh, trị bệnh, chủ trương tiết chế, dinh dưỡng.
- Nguyễn Trực: ( 1416-1473) biên soạn cuốn” Bảo anh lương phương” về
nhi khoa, xoa bóp.
- Lê Hữu Trác: ( Hãi Thượng Lãn Ông) 1791 ở Hải Hưng, không ở trong
quân đội Trịnh, bỏ về nghiên cứu nghề thuốc. Ông ghi chép bệnh án kỹ lưỡng, đối
chiếu biến đổi thời tiết khi hậu với cơ thể người bệnh. Quan tâm đến đạo đức của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status