Khái quát về địa lý nước Mỹ - Chương 16: Vùng đất phía bắc - Pdf 19

Khái quát về địa lý nước Mỹ
Chương 16: Vùng đất phía bắc
Về nhiều phương diện thì Hoa Kỳ được hình thành thông qua từ sự mở rộng
đường biên. Sự mở rộng về phía tây vẫn còn là một phần của lịch sử nước Mỹ hiện
nay, và có rất nhiều người còn sống vẫn nhớ về những ngày đầu định cư của người
dân Mỹ, về những cuộc đấu tranh anh dũng thường xuyên của họ với mảnh đất
này.
Ngày nay, đường biên giới của nước Mỹ đã không còn là vấn đề lớn nữa. Mặc dù
có thể nói rằng loài người có đủ mọi phương tiện kỹ thuật để sống ở bất cứ nơi đâu
trên bề mặt trái đất, nhưng những vùng đất của Hoa Kỳ, nơi mà người ta có thể
chiếm lĩnh bằng những nỗ lực kinh tế và sức lực khiêm tốn, đều đã được chiếm
lĩnh hết.
Kéo dài về phía nam cũng như về phía bắc các bang thuộc Hồ Lớn (Great Lakes),
bao gồm cả một phần lãnh thổ cạnh đường biên giới Canada, cũng như một phần
của Alaska, Northlands (bản đồ 15) rất thưa thớt các khu định cư. Tính chất không
thuận tiện cho cuộc sống của môi trường thiên nhiên cộng với cư dân ít ỏi đã tạo
cho Northlands một đặc tính riêng biệt.
Môi trường khắc nghiệt
Nếu như yêu cầu người Mỹ mô tả Vùng đất phía Bắc thì có lẽ tính từ được sử
dụng nhiều nhất sẽ là “lạnh”. Nhiệt độ trung bình vào tháng Giêng từ khoảng -70C
dọc theo những rìa phía nam Great Lakes tới -400C tại một số vùng thuộc Alaska.
Nhiệt độ đôi khi có thể đạt tới mức - 600C.
Không chỉ nhiệt độ mùa đông rất thấp trên hầu hết những khu vực trong vùng, mà
mùa đông còn rất dài. Thời gian trung bình từ đợt sương giá cuối cùng vào mùa
Khái quát về địa lý nước Mỹ
xuân và lần sương giá đầu tiên của mùa thu thường là 135 ngày tại vùng cận biên
phía nam nhưng chỉ có hơn 14 ngày dọc theo những vùng đất ven Bắc Băng
Dương. Do tất cả các loại cây lương thực đều cần một mùa sinh trưởng dài hơn 90
ngày nên chúng chỉ có thể được trồng tại một số rất ít các vùng đất nhỏ dọc theo
những giới hạn phía nam.
Mùa hè nói chung ngắn và mát mẻ, tuy nhiên đôi khi lại có những ngày ấm áp một

đồng đều của móng đường. Nằm dưới mặt đất của hầu hết khu vực Alaska đều là
những lớp đất đóng băng vĩnh cửu liên tục hoặc không liên tục.
Mặc dù người ta nhận thấy khá nhiều sự khác biệt về địa hình khu vực, song rất
nhiều nơi thuộc Northlands địa hình tương đối bằng phẳng hoặc chỉ đôi chút mấp
mô. Chẳng hạn mặt phía bắc của Alaska, là một vùng đồng bằng ven biển rộng lớn
và bằng phẳng.
Chất đất của các vùng thuộc Northlands cũng rất khác biệt nhau nhưng thường là
đất chua phèn, khô cằn và chất lượng canh tác thấp. Chất đất tại khu vực phía nam
của Northlands hầu như là đất chứa ôxít nhôm thích hợp cho môi trường rừng cây
lá kim. Về phía bắc, chất đất của vùng lãnh nguyên ngập nước và đóng băng
chiếm phần lớn. Đất màu mỡ chỉ giới hạn ở một số thung lũng sông cũ và những
hồ nước đã bị lấp đầy bởi những trầm tích và cỏ cây mục nát.
Hầu hết khu vực Northlands có thể được chia làm hai vùng thực vật phân biệt. Trải
dài suốt vòng cung phía nam của Northlands là rừng tùng bách, loại rừng được gọi
là rừng boreal hoặc rừng taiga. Bao phủ hàng trăm ngàn kilômét vuông, những loài
cây như là linh sam, vân sam, thông và liễu phủ lên bức tranh phong cảnh một tấm
chăn sẫm màu, gần như là đen khi nhìn từ trên không xuống. Mọc rất chậm và
Khái quát về địa lý nước Mỹ
không bao giờ thực sự cao, những loài cây này giảm dần số lượng và chiều cao
theo hướng từ nam đến bắc xuyên qua rừng taiga. Xung quanh Great Lakes, sự
pha trộn giữa thông và các loài cây gỗ cứng chiếm vị thế chủ đạo.
Ngang qua phía nam Vịnh Hudson, sau đó nhằm về phía tây bắc tới sông
Mackenzie và xuyên qua rìa phía bắc Alaska là tuyến cây thân gỗ xác định vùng
chuyển tiếp giữa rừng taiga và vùng đất lạnh tại Northlands. Về phía bắc tuyến cây
này, điều kiện khí hậu quá khắc nghiệt đối với những loài thực vật thân gỗ. Lên
phía trên là vùng đất lạnh, vùng đất của địa y, cỏ, rêu và những loài cây bụi.
Bao phủ khoảng 4,8 triệu km2 là một lớp băng lớn của Bắc cực (chiều dầy từ 3
đến 6 mét) và xù xì, hầu như không mặn, nổi trên bề mặt của đại dương. Tảng
băng này chứa số nước ngọt cũng bằng với số nước ngọt tại tất cả các hồ trên thế
giới. Vào mùa đông tảng băng này trải rộng về phía nam và phủ kín phía bắc

quân đội. Những nhà hàng hải, người bẫy thú và những nhà buôn người Pháp đẩy
những chiếc thuyền của họ vượt xa khỏi những khu định cư nông nghiệp dọc theo
bờ sông St. Lawrence rất sớm vào giữa thế kỷ thứ 17 và vì vậy mở rộng sự kiểm
soát chính trị của người Pháp xuyên suốt khu vực Great Lakes. Công ty Hudson
Bay, một công ty kinh doanh lông thú rất sớm của người Anh, đã được thành lập
ngay trên những dải đất cạnh Vịnh Hudson tại Canada, sau đó mở rộng về phía tây
và phía nam, và chính vì vậy mà hạn chế sự bành trướng hơn nữa của người Pháp
về phía tây. Vào giữa thế kỷ thứ 18, Công ty Hudson Bay được chính phủ Anh ban
cho độc quyền kinh doanh trên khu vực này đã nắm quyền kiểm soát toàn bộ vùng
rừng boreal kéo dài từ Vịnh Hudson lên phía tây đến Rocky Mountains với sự mở
rộng ảnh hưởng hơn nữa đối với Bắc cực. Đế chế rộng lớn của những người khai
thác này chỉ kéo theo nó một số ít những khu định cư nhỏ và phân bổ rải rác.
Khái quát về địa lý nước Mỹ
Những người đi biển và Công ty Hudson Bay dựa chủ yếu vào những con suối và
hồ trong khu vực để vận tải hàng hoá, và họ thiết lập những pháo đài nhỏ tại các
điểm kiểm soát dọc theo các tuyến đường thuỷ. Tại những địa điểm mà các con
suối trọng yếu hội nhập với các hồ, nơi những con suối kết thúc và việc vận tải
đường bộ bắt đầu, hoặc là nơi gặp những con thác hoặc ghềnh, hàng hóa được dỡ
khỏi những tàu thuyền và chuyển sang các tàu khác; những điểm này cho phép có
được sự kiểm soát hữu hiệu đối với hệ thống giao thông đường thuỷ. Vị trí của
những pháo đài trước đây của người Pháp ngày nay đã trở thành những trung tâm
đô thị quan trọng, bao gồm Chicago, Detroit và Pittsburgh.
Các khu rừng boreal thuộc nửa phía nam của Northlands bao gồm một vùng lớn
nhất các cánh rừng chưa được khai thác còn lại ở Bắc Mỹ. Cho tới gần đây, các
ngành công nghiệp giấy, bột giấy và đốn gỗ mới chỉ mon men đến bên rìa cánh
rừng rộng lớn này. Khu vực phía trên Great Lakes đã bị đốn với quy mô lớn trong
suốt những năm cuối của thế kỷ thứ 19 và đầu thế kỷ thứ 20. Do việc tái trồng
rừng không được thực hiện bao nhiêu vào thời bấy giờ và do khí hậu lạnh mà các
cánh rừng boreal mọc lại rất chậm, phần nhiều những cánh rừng này cho đến tận
ngày nay mới hồi phục được vẻ ngoài vốn có của mình.

thường là ít hơn 1% trong quặng đồng, gần như là đều được tinh lọc ngay tại mỏ.
Hoạt động luyện và tinh chế khoáng chất là hình thức chủ yếu của hoạt động chế
tạo tại Northlands, và những ống khói lớn của các lò luyện kim chính là dấu hiệu
chủ yếu trên bầu trời của những thành phố lớn hơn trong khu vực.
Hoa Kỳ đã chuyển hướng sang việc nhanh chóng phát triển các mỏ dầu lửa tại
North Slope thuộc Alaska. Một số nhà sản xuất dầu lửa đã chi trả hơn 1 tỷ đô-la
Mỹ chỉ để được quyền tìm kiếm dầu lửa tại khu vực này.
Khái quát về địa lý nước Mỹ
Vận chuyển dầu thô là một vấn đề chủ yếu liên quan đến việc mở cửa các mỏ ở
North Slope. Một đường ống trị giá 8 tỷ đô-la Mỹ xuyên qua trung tâm Alaska tới
cảng Valdez trên Thái Bình Dương cuối cùng đã được xây dựng và khai trương
vào năm 1977.
Mật độ dân cư thưa thớt và đặc biệt là sự thiếu vắng những thành phố của
Northlands đồng nghĩa với việc cho dù các tuyến vận tải có được xây dựng với chi
phí thấp thì chúng cũng chỉ được sử dụng rất ít. Chỉ có đường cao tốc Alaska và
một số nhánh của nó toả khắp vùng cận biên phía tây của khu vực.
Tuy nhiên, tại phần lớn khu vực này các máy bay hạng nhẹ và các phi công là
đường dây liên kết vận chuyển duy nhất phổ biến. Con số xấp xỉ hai chục phương
tiện vận tải hoạt động tạo thành một mật độ khá dày những tuyến vận chuyển theo
thời biểu ở vùng đất phía bắc này.
Mặc dù tổng số dân cư trong vùng không lớn song đa số người dân ở Northlands
sống tại các làng, thị trấn và các thành phố. Ngành nông nghiệp, sự hỗ trợ chủ yếu
cho việc định cư rải rác ở những nơi khác, chỉ quan trọng ở tầm địa phương. Gần
như tất cả những thành phố lớn đều bị chi phối bởi một hoạt động kinh tế chủ yếu
duy nhất và đều tập trung về phía nam, ví dụ, như Duluth, Minnesota, là một trung
tâm vận tải. Hầu hết những thị trấn nhỏ hơn nằm trong khu vực rừng boreal đều
giống nhau ở chỗ chỉ có một chức năng.
Xa về phía bắc, sự phát triển của cộng đồng người châu Âu đã tạo thành một số ít
khu định cư vĩnh viễn. Nhiều người trong khu vực này làm việc, với tư cách này
hoặc tư cách khác, cho Chính phủ Hoa Kỳ hoặc trong ngành khai khoáng. Những


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status