Luận văn : ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA CHẾ PHẨM VIÊN NÉN TỪ NHÂN HẠT NEEM (Azadirachta Indica A. Juss) LÊN NGÀI GẠO (Corcyra Cephalonica St.) part 2 - Pdf 19



Ngoài ra chúng còn tấn công hạt giống làm hạt mất khả năng nảy mầm. Tập
tính sinh sống núp trong các hạt nông sản cũng là nguyên nhân gây khó khăn trong
công tác phòng trừ loài côn trùng gây hại này Hình 2.3. Thành trùng ngài gạo Hình 2.4. Vòng đời của ngài gạo
Trứ ng
Ấ u trùng
Nhộ ng
Thành trùng Hình 2.5. Tác hại của ngài gạo

2.6.4. Các phƣơng pháp bảo quản kho nông sản hiện nay
2.6.4.1. Các phƣơng pháp chung
Theo Trần Minh Tâm (2002) để bảo quản kho nông sản hiện nay có 5 phƣơng
pháp chung:
* Bảo quản nông sản ở trạng thái thoáng: để khối nông sản tiếp xúc với môi
trƣờng không khí bên ngoài nhằm điều chỉnh nhiệt độ, ẩm độ trong kho một cách kịp

cầu trên, nhƣng căn cứ vào tính chất đầu độc và con đƣờng nhiễm độc của thuốc mà
ngƣời ta chia các loại thuốc thành 3 loại: chất độc tiếp xúc, chất độc vị độc, chất độc
xông hơi.
Hiện nay các hoá chất đƣợc sử dụng phổ biến trong công tác bảo quản nông sản
hiện nay là các hoá chất xông hơi do chúng có thể áp dụng cho nhiều đối tƣợng khác
nhau, chúng sinh ra khí, khói, mù, tác động vào đƣờng hô hấp làm côn trùng bị ngạt
hoặc bị ngộ độc chết. Ƣu điểm là sát trùng triệt để vì chúng có thể xâm nhập bất cứ
chỗ nào trong kho, tuy nhiên nó cũng rất nguy hiểm cho ngƣời và gia súc.
2.6.4.3. Một số loại thuốc kiểm soát côn trùng kho hiện nay
- Thuốc có nguồn gốc hoá học:
Là những loại có độc tính cao, không chỉ đối với sâu mọt mà còn đối với ngƣời
và gia súc…Do đó khi sử dụng phải tuân thủ quy định cho từng loại thuốc. Một số hoá
chất xông hơi thƣờng dùng hiên nay:
* Methyl bromide (CH
3
BR): là chất lỏng không màu, không mùi, d = 3,24, có tính thẩm thấu mạnh, có độc tính cao đối với côn trùng và cũng rất nguy hại đối với
ngƣời và gia súc. Methyl bromide hiện nay đã bị cấm sử dụng ở nhiều nƣớc do hậu
quả phá hủy tầng ozone và đƣợc công bố là một trong những tác nhân gây ung thƣ.
* Phosphine: khí, không màu, không mùi, trong sản xuất có lẫn tạp chất nên có
mùi tỏi hay mùi đất đen, tỉ trọng 1,181 gần bằng tỉ trọng không khí (dễ thẩm thấu).
Phosphine đƣợc coi là thuốc xông hơi rất độc đối với côn trùng hại kho, bên cạnh đó
cũng rất độc cho ngƣời và gia súc. Phosphine tuy ít độc hơn methyl bromide nhƣng
sau một thời gian dài sử dụng, hiện nay cũng đang gặp trở ngại do tình trạng kháng
thuốc mạnh của nhiều loài côn trùng.
- Thuốc có nguồn gốc thảo mộc
Thuốc thảo mộc diệt trừ sâu hại gồm các chất có trong thực vật nhƣ nicotin
trong thuốc lá và thuốc lào, rotenone trong rễ cây dây mật, pakyziron trong củ đậu,

độ nhanh, độ tách tốt, độ nhạy cao, cột tách dùng đƣợc nhiều lần, mẫu chất thu lại dễ
dàng vì hầu hết các detector không phá huỷ mẫu.
Do có nhiều tính năng ƣu việt nên đƣợc ứng dụng phổ biến trong các lĩnh vực:
tách các acid nucleic, tách các dƣợc phẩm, tách các steroid, tách các vitamin, tách các
chất bảo quản thực phẩm, tách chất bảo vệ thực vật….
2.7.4. Các bộ phận chính của máy HPLC
. 2.222

2.8. Sơ lƣợc về một số chất phụ gia và bảo quản
2.8.1. Các chất chống oxy hoá giúp tăng cƣờng bảo quản (Antioxydant)
Các chất chống oxy hóa phải đảm bảo các điều kiện sau:
* Không độc.
* Có hoạt tính cao ở nồng độ thấp (0,01 – 0,02 %).
* Nằm ở bề mặt phân cách, có tính kỵ nƣớc khá mạnh, tiếp xúc với không khí.
* Ổn định với các điều kiện chế biến.
Pha
độ ng
Hệ thố ng
chuyể n dung
môi
Hệ
thố ng
bơ m
mẫ u

(OH)
2
. Một tấm talc gồm hàng ngàn phiến cơ bản chồng lên
nhau, phiến cơ bản là sự kết hợp của 1 lớp magnesium-oxygen/hydroxyl octahedra kẹp
giữa 2 lớp siliconoxygen tetrahedra, mặt ngoài chính của phiến cơ bản này không chứa
nhóm hydroxyl hoặc iôn hoạt động, điều này giải thích cho tính kỵ nƣớc và tính trơ
của talc. Có nhiều loại talc, tất cả chúng đều mềm, dẹt, kỵ nƣớc, trơ về mặt hóa học.
Trên thực tế talc không hòa tan trong nƣớc, tan yếu trong axit và kiềm, không gây nổ
hay gây cháy. Mặc dù rất ít hoạt động về mặt hoá học nhƣng talc lại có một ái lực lớn
với các chất hữu cơ.
Công dụng của talc: Talc là một phần quan trọng trong cuộc sống hằng ngày, đá lát đƣờng đi, tạp chí
chúng ta đọc, sợi polyme, sơn… là một trong những sản phẩm làm từ talc.
* Trong nông nghiệp và thực phẩm, talc là tác nhân chống đóng bánh hiệu quả,
chống dính trong thực phẩm (kẹo gum), giúp đánh bóng gạo, trong quá trình sản xuất
dầu oliu, làm tăng sản lƣợng và sự trong của dầu.
* Trong công nghệ sản xuất giấy, làm láng bề mặt giấy.
* Sản phẩm chăm sóc cơ thể, do tính mềm và trơ, talc đƣợc dùng nhƣ phấn xoa
cơ thể, ngày nay nó đóng vai trò quan trọng trong sản xuất mỹ phẩm, phấn hồng, phấn
mắt, xà bông…
o
sau đó sấy khô ở nhiệt độ
45 – 50
o
C. Sau đó sử dụng máy tách vỏ để thu nhân hạt. Nhân hạt neem đƣợc ép dầu
bằng máy ép chuyên dụng hiệu Komet của Đức (công suất 10 kg hạt/ giờ).
Ƣu điểm của máy là giữ nhiệt độ trong quá trình ép chỉ từ 35 – 40
o
C. Dầu neem
sau khi ép đƣợc giữ ở nhiệt độ 5 – 10
o
C tránh ánh sáng, thêm chất bảo quản BHT 3 %
và tween 5 % tạo thành chế phẩm dầu neem thô, kí hiệu là DN (dầu neem).
Bánh dầu neem (phần bã còn lại sau khi ép dầu) đƣợc ngâm với ethanol 98
o
để
tách các hoạt chất còn lại theo tỉ lệ 1: 4 (bánh dầu : ethanol). Sau 24 giờ, dịch chiết thô
đƣợc loại dung môi bằng máy cô quay chân không ở nhiệt độ 60
o
C. Thu nhận dịch
chiết và bảo quản nhƣ dầu neem, gọi là chế phẩm dịch chiết bánh dầu, kí hiệu - DCBD Hình 3.1. Quy trình ép dầu và chiết xuất hoạt chất từ nhân hạt neemHạ t

Cồ n 98
0

Sấ y 45-50
0

C
Khuấ y, lắ ng,
lọ c
Chấ t bả o
quả n, nhũ
hoá
Chấ t bả o
quả n, nhũ
hoá 3.2.2. Định lƣợng các hoạt chất chính trong dầu neem và dịch chiết từ bánh dầu
neem
Theo schneider và Elmer (1987) việc định lƣơng azadirachtin, nimbin và
salannin đƣợc tiến hành nhƣ sau:
Mẫu sau khi qua lọc (lỗ lọc = 0,45 µm) đƣợc cho vào ống đựng mẫu có thể
tích 1,5 ml, sau đó đựng vào khay đựng mẫu trong máy HPLC (hiệu Hewlett Packard
1090, series 1 – liquid chromatography) và
Tiến hành chạy mẫu với các thông số sau:
- Lƣợng mẫu bơm vào cột: 0,5 µl.
- Cột bảo vệ: Bondapak
TM

C
c d
Hình 3.2. Một số máy móc, trang thiết bị
a. Máy tách vỏ
b. Máy cô quay chân không
c. Hệ thống sắc ký lỏng hiệu năng cao
d. Máy ép dầu hạt neem (komet - Đức)
3.2.3. Tạo chế phẩm dạng viên nén với hoạt chất chính là dầu neem và dịch chiết
bánh dầu.
Chế phẩm đƣợc tạo thành trên cơ sở phối trộn dầu neem và dịch chiết bánh dầu
với chất hấp phụ thích hợp, có bổ sung chất chống oxy hoá. Sau đó đùng khuôn để tạo
hình chế phẩm. Tiến hành khảo sát từng bƣớc để chọn lựa loại nguyên vật liệu và nồng
độ thích hợp của chúng trong chế phẩm.
Chất hấp phụ: sử dụng bột talc, cám gạo, silicagel, và than hoạt tính. Từng chất
hấp phụ đƣợc trộn riêng với dầu neem và dịch chiết bánh dầu (nồng độ 5 %). Sau khi
ép tạo hình, các chế phẩm thô này đƣợc dùng để xử lý ngài gạo (đƣợc trình bày chi tiết
ở mục 2.6.3. phần tổng quan tài liệu). Dựa vào kết quả ấu trùng chết sau 48 giờ, khả năng pha trộn và tạo hình để tạo ra chất hấp phụ thích hợp.
Chất hỗ trợ thăng hoa: sử dụng tinh dầu thông, tinh dầu tràm và tinh dầu bạc hà
– là những thƣơng phẩm dễ dàng mua ở thị trƣờng. Tinh dầu đƣợc chọn chủ yếu dựa
vào kết quả khảo sát sự hao hụt của chúng trong 24 giờ với cùng thể tích ban đầu (10
ml), cùng điều kiện thí nghiệm ( cốc thủy tinh 50 ml, nhiệt độ phòng) và khả năng dẫn
dụ ngài gạo lên trên bề mặt.
Thí nghiệm xác định nồng độ tinh dầu thích hợp đƣợc tiến hành trong phạm vi
từ 0,25 - 0,5 - 1,0 - 2,0 – 4,0 (%) cũng dựa vào khẳ năng dẫn dụ của chúng đối với
ngài gạo.
Chất bảo quản: Sử dụng chất BHT (butylhydroxi toluene) ở nồng độ 3 %.

Thí nghiệm đƣợc thực hiện trong các lọ nhựa thể tích 1 lít chứa 400 g gạo sạch
và 20 ấu trùng ngài gạo. Sau khi đặt chế phẩm lên trên bề mặt gạo, đậy kín lọ để thuốc
tác dụng. Sau 3 ngày, mở nắp lọ và đếm số ấu trùng chết. Thí nghiệm đƣợc theo dõi mỗi ngày để thu nhận số ấu trùng chết thêm và đánh giá sự sinh trƣởng của nhóm đối
tƣợng bị xử lý. Số ấu trùng ngài gạo sống sót sau đợt xử lý sẽ đƣợc tiếp tục nuôi
dƣỡng trong điều kiện bình thƣờng để theo dõi các tác động lâu dài và đa dạng của chế
phẩm neem đối với chúng.
3.2.6. Phƣơng pháp đánh giá kết quả
Đếm tổng số ấu trùng chết sau 3 ngày và 7 ngày xử lý các chế phẩm, từ đó tính
ra tỉ lệ chết của từng nghiệm thức, làm cơ sở để tính LD
50
của các chế phẩm.
Số ấu trùng còn sống sót sau đợt xử lý sẽ đƣợc theo dõi mỗi ngày để ghi nhận
một số chỉ tiêu sinh học nhƣ sau:
* Tỷ lệ thành trùng tạo thành và tỷ lệ thành trùng biến dạng.
* Số lƣợng trứng và tỷ lệ trứng nở của các thành trùng có bề ngoài bình thƣờng
và dị dạng theo cách tiến hành nhƣ sau:
- Các thành trùng đực và cái có hình dạng bình thƣờng trong cùng một nghiệm
thức sẽ đƣợc phối cặp trong các ống nghiệm có đặt sẵn băng giấy để thu trứng. Tổng
số trứng sau khi đếm sẽ đƣợc ủ trong lọ thủy tinh ( loại 15 ml) có chứa gạo để theo dõi
số lƣợng ấu trùng nở.
- Thành trùng cái biến dạng và thành trùng đực có hình dạng bình thƣờng trong
cùng một nghiệm thức cũng sẽ đƣợc phối cặp với nhau và cũng thực hiện các bƣớc
giống nhƣ trên.
3.2.7. Phƣơng pháp bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm gồm có 20 nghiệm thức (4 loại chế phẩm × 5 nồng độ xử lý) đƣợc
bố trí theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên, mỗi nghiệm thức đƣợc lặp lại 3 lần. Mỗi nghiệm
thức có chứa 20 ngài gạo tuổi 3.

Chƣơng 4
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1. Hiệu suất thu nhận dầu neem bằng phƣơng pháp ép nguội
Kết quả sử dụng máy Komet (Đức) để ép nguội nhân hạt neem (ẩm độ 14,8 %) với
tốc độ 10 kg nhân/ giờ, chúng tôi thu đƣợc dầu neem màu vàng nâu với hiệu suất 30
%. Ƣu điểm của máy này là khống chế đƣợc nhiệt độ 35 - 40
o
C trong quá trình ép, vì
vậy không ảnh hƣởng đến tính ổn định của các thành phần hoạt chất có trong dầu.
Ngoài ra, khi ép còn trích ra đƣợc nhiều limonoid và hợp chất sulfur có trong nhân hạt,
góp phần làm tăng hoạt tính kháng khuẩn và côn trùng của dầu neem. Nhìn chung,
phƣơng pháp này dễ thực hiện, ít tốn kém, năng suất tƣơng đối cao và có khả năng đáp
ứng yêu cầu của sản xuất lớn.
4.2 Kết quả định lƣợng một số hoạt chất chính trong các chế phẩm neem thô
Bảng 4.1. Hàm lƣợng (ppm) của một số hoạt chất trong dầu neem và dịch
chiết bánh dầu
Hoạt chất
Chế phẩm neem thô
Dầu neem
Dịch chiết bánh dầu
Azadirachtin
Nimbin
Salannin
930,69
262,58
1027,48
7703,61
841,09
3214,56

nguyên liệu là bột talc và cám gạo. Các nguyên liệu trên đƣợc trộn với dầu neem và
dịch chiết bánh dầu riêng rẽ hoặc phối hợp ở nồng độ 10 %, bổ sung tinh dầu thông 1
% để hỗ trợ thăng hoa. Sau khi phối trộn, xử lí ngài gạo ở liều 2 g/ dm
3
. Kết quả trình
bày ở bảng 4.2.
Nhìn chung, sự kết hợp giữa dầu neem (DN) và dịch chiết bánh dầu (DCBD)
trên 3 loại nguyên liệu đều mang lại hiệu quả gây chết ngài gạo cao hơn so với từng
chế phẩm riêng lẽ. Trên nền bột talc, hỗn hợp DN – DCBD cho tỉ lệ chết ấu trùng cao
nhất là 81,2 %, nhiều hơn 32,3 % so với DN 10 % và nhiều hơn 12,7 % so với DCBD
10 %. Trên nền cám gạo, hỗn hợp DN – DCBD cho tỷ lệ chết ấu trùng là 63,5 %, nhiều hơn 39 % so với DN và nhiều hơn 22,8 % so với DCBD. Tƣơng tự, trên nền talc
– cám, hỗn hợp DN – DCBD cho tỷ lệ chết ấu trùng là 71,6 %, nhiều hơn 33,1 % so
với DN và 19,7 % so với DCBD.
Bảng 4.2. Tỉ lệ (%) ấu trùng chết sau 3 ngày

Nguyên liệu
Chế phẩm neem thô (10 %)
DN
DCBD
DN - DCBD
Bột talc
48,9 a
68,5 a
81,2 a
Cám gạo
24,5 c
40,7 c

pháp). Kết quả thử nghiệm đƣợc trình bày ở mục 4.4.
4.4. Thử nghiệm chế phẩm
4.4.1. Tác động gây chết của các chế phẩm đối với ngài gạo
Quá trình tiến hành thử nghiệm 4 chế phẩm đƣợc phối trộn bởi DN, DCBD, bột
talc và dầu thông trên ngài gạo ở những liều xử lý khác nhau, bằng cách đặt chế phẩm
vào trong lọ nhựa có sẵn 20 ấu trùng ngài gạo, bịt kín lọ và tiến hành xông trong vòng
3 ngày, sau đó mở nắp và ghi nhận kết quả sâu chết.
Ở những nghiệm thức xử lý, nhận thấy sâu chết ở các tỉ lệ khác nhau, nằm rãi
rác bên trong lớp gạo và cả trên bề mặt gạo. Ngoài tác dụng hỗ trợ thăng hoa, tinh dầu
thông 1 % trong công thức chế phẩm còn có khả năng thu hút ấu trùng ngài gạo ra
khỏi tổ của nó và bò lên bề mặt, vì vậy góp phần nâng cao khả năng thâm nhập của
chế phẩm vào côn trùng. Ở các lô đối chứng, không hề có hiện tƣợng sâu chết sau 3
ngày đóng kín nắp lọ.
Theo dõi và ghi nhận tỷ lệ chết của ấu trùng sau 3 ngày, chúng tôi thu đƣợc kết
quả ở bảng 4.3
Nhận xét: kết quả trình bày ở bảng 4.3 cho thấy tất cả các chế phẩm từ NV1 cho
đến NV4 đều có khả năng gây chết cho ấu trùng sau 3 ngày xử lý ở các tỷ lệ khác
nhau, tuy nhiên tác động này còn phụ thuộc vào nồng độ xử lý của chế phẩm. Ở đây ta
nhận thấy, chế phẩm NV1 ở liều xử lý 0,5 g/ dm
3
có hiệu lực gây chết ngài gạo thấp
nhất (25,5 %), còn chế phẩm NV4 ở liều xử lý 2,5 g/ dm
3
có hiệu lực cao nhất (85,3
%).
Trong cùng một chế phẩm, khi tăng liều xử lý thì tỉ lệ chết của ấu trùng sau 3
ngày xử lý cũng tăng lên. Cụ thể, khi liều xử lý tăng từ 0,5 g đến 2,5 g thì hiệu lực gây
chết của các chế phẩm NV1, NV2, NV3 và NV4 tăng tƣơng ứng từ 25,5 % đến 47,7
%; từ 35,8 đến 64,5 %; từ 40,2 % đến 80,7 % và từ 48,2 đến 85,3 %.


47,7
2
NV 2

35,8

40,5

48,6

56,8

64,5
3
NV 3

40,2

47,7

56,5

68,8

80,7
4
NV 4

48,2


tỷ lệ nghịch với độc tính của chế phẩm, tức LD
50
càng nhỏ thì độc tính của chế
phẩm càng cao. Nhƣ vậy, độc tính của chế phẩm NV4 là cao nhất (gấp 5,65 lần chế
phẩm NV1), kế đến là NV3 (gấp 3,99 lần NV1), tiếp đến là NV2 (gấp 2,66 lần NV1),
còn chế phẩm NV1 có độc tính thấp nhất. Bảng 4.4. Độc tính của các chế phẩm đối với ngài gạo (Giá trị LD
50
ở thời điểm 3
ngày sau xử lý)
Stt
Chế
phẩm
Phƣơng trình
tƣơng quan
Hệ số
tƣơng
quan
P
LD
50
(g/ dm
3
)
Độc
tính
tƣơng
đối


0,8959
3,99
4
NV4

Y = 3,8098 + 1,4838 X

0,9538

0,0118

0,6340
5,65 a b
c d
Hình 4.1. Kết quả 3 ngày sau xử lý chế phẩm
a. Đối chứng
b, c, d. Sâu chết ở những lô có xử lý chế phẩm Sau khi xử lý xông hơi trong 3 ngày, các lọ thí nghiệm đƣợc thông thoáng và
tiếp tục nuôi dƣỡng để theo dõi tỷ lệ ấu trùng chết thêm ở những ngày sau đó. Tỷ lệ
chết tích lũy ở ngày thứ 7 sau xử lý đƣợc ghi nhận ở bảng 4.5 nhƣ sau:

Bảng 4.5. Tỉ lệ chết (%) của ấu trùng 7 ngày sau xử lý

STT

76,7
80,2
86,8
93,3
95,5

Sau 7 ngày xử lý, nhận thấy tỷ lệ sâu chết là rất cao, ngoại trừ chế phẩm NV1 ở
liều xử lý 0,5 g và 1,0 g cho tỷ lệ sâu chết không cao, tƣơng ứng l à 42,2 % và 47,7 %.
Tất cả các nghiệm thức còn lại đều cho tỷ lệ sâu chết trên 50 %, trong đó chế phẩm
NV4 ở liều xử lý 2,5 g gây chết ấu trùng nhiều nhất, lên đến 95,5 %.
Trong cùng một chế phẩm, khi ta tăng liều xử lý lên thì tỷ lệ chết của ấu trùng
sau 7 ngày xử lý cũng tăng lên. Ví dụ, khi tăng liều xử lý từ 0,5 g lên 2,5 g thì hiệu lực
gây chết ấu trùng của các chế phẩm NV1, NV2, NV3, NV4 tăng tƣơng ứng từ 42,2 %
đến 73,2 %; 58,7 đến 85,3 %; 76,7 đến 96,7 %; 76,7 đến 95,5 %.
Trong cùng một liều xử lý, chế phẩm NV4 với 20 % dịch chiết bánh dầu cho tỷ
lệ chết ấu trùng là cao nhất, kế đến là chế phẩm NV3, NV2, còn NV1 cho tỷ lệ chết ấu
trùng là thấp nhất. Ví dụ với liều xử lý 2,5 g, chế phẩm NV4 gây chết 95,5 % ấu trùng
sau 7 ngày xử lý, NV3 cho tỷ lệ chết 96,7 %, NV2: 85,3 %, NV1: 73,2 %.

Bảng 4.6. Độc tính của các chế phẩm đối với ngài gạo (Giá trị LD
50
ở thời điểm 7
ngày sau xử lý)

STT
Chế
phẩm

2

NV 2

Y = 4,3861 + 1,1274 X

0,9795

0,0035

0,3503

2,55

3

NV 3

Y= 4,5693 + 1,4878 X

0,9312

0,0213

0,1948

4,59

4


Mặt khác khi so sánh giữa bảng 4.3 và 4.5 ta thấy LC
50
của mỗi chế phẩm ở
thời điểm 3 ngày cao hơn rất nhiều so với ở thời điểm 7 ngày. Cụ thể: đối với các chế
phẩm NV1, NV2, NV3, NV4, LD
50
(g/ dm
3
) ở thời điểm 3 ngày tƣơng ứng là 3,5818;
1,3452; 1,3452; 0,8959; 0,634, còn ở thời điểm 7 ngày tƣơng ứng là 0,8948; 0,3503;
0,1948; 0,1881. Điều đó gợi ra rằng, có thể rút ngắn thời gian xử lý mà vẫn bảo đảm
hiệu quả tác động nếu tăng liều thuốc lên. Ví dụ đối với chế phẩm NV4: muốn diệt 50
% ngài gạo trong 3 ngày thì phải dùng lƣợng thuốc là 0,634 g/dm
3
- gấp 0,634/ 0,1881
= 3,3 lần lƣợng thuốc so với khi xử lý trong 7 ngày.
4.4.2. Động thái gây chết của các chế phẩm đối với ngài gạo 0
25.5
36.3
42.2
0
35.8
45.4
58.7

3
, tất cả các chế phẩm đều
có tác dụng gây chết cho ngài gạo ở các mức độ khác nhau, tuy nhiên tỷ lệ chết của ấu
trùng không cao lắm. Sau 7 ngày xử lý, chỉ có chế phẩm NV3 và NV4 đạt 76,7 %, còn
NV2 và NV1 chỉ đạt 58,7 % và 42,2 %.
Mặt khác cũng có thể thấy ấu trùng tập trung chết trong 3 ngày đầu xử lý chế
phẩm, trong 3 ngày đầu tỷ lệ chết ấu trùng của NV1, NV2, NV3, NV4 lần lƣợt là 25,5;
35,8; 40,2; 48,2 %, tuy nhiên tỷ lệ này vẫn còn thấp. Có thể do nồng độ thuốc xử lý
quá ít nên tỷ lệ chết ấu trùng không cao, chỉ những ấu trùng nào mẫn cảm với thuốc
mới chết trong vài ba ngày đầu xử lý chế phẩm, còn những ấu trùng ít mẫn cảm, thì
không chết liền ngay sau khi xử lý, mà chúng sống yếu ớt trong những ngày sau đó rồi
mới chết. Trong khoảng thời gian từ ngày 3 tới ngày 7 tỷ lệ ấu trùng chết thêm của các
chế phẩm lần lƣợt là 16,7 %, 22,9 %, 36,5 %, 28,5 %.
Ở đây có một sự khác biệt giữa chế phẩm NV3 và các chế phẩm khác, đó là
trong giai đoạn từ ngày 3 tới ngày 7, NV3 có tỷ lệ ấu trùng chết tăng đột biến, ngày 3 chỉ gây chết 40,2 % ấu trùng nhƣng ngày 3 tới ngày 7 tăng thêm tới 36,5 %, điều này
thể hiện rõ trên biểu đồ 4.1 0
29.3
38.5
47.7
0
40.5
53.1
67.7
0

, dƣới tác động của các chế
phẩm, ấu trùng ngài gạo cũng tập trung chết trong 3 ngày đầu, tỷ lệ chết tuy có cao
hơn ở liều xử lý 0,5 g/ dm
3
nhƣng nhìn chung vẫn còn thấp, trong 3 ngày đầu chỉ có
NV4 gây chết 56,8 % ấu trùng, còn những chế phẩm còn lại cho tỷ lệ chết của ấu trùng
đều dƣới 50 %, NV1, NV2, NV3 cho tỷ lệ chết ấu trùng tƣơng ứng là 29,3; 40,5; 47,7
%
Quan sát biểu đồ cũng thấy ở chế phẩm NV3 có sự khác biệt, trong khoảng thời
gian từ ngày 3 tới ngày 7 dƣới tác động của NV3, tỷ lệ chết ấu trùng cũng tăng lên
đáng kể, vƣợt qua chế phẩm NV4 mặc dù trong 3 ngày đầu nó gây chết ấu trùng ít
hơn.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status