Luận văn : NGHIÊN CỨU KỸ THUẬT VI GHÉP CÂY BƯỞI (Citrus grandis) part 2 - Pdf 19

xi

chồi ghép Năm Roi, cách ghép mặt cắt 37
Hình 4.3: Chồi ghép bật mầm ở tuần 3 (B-NR-T): gốc ghép bƣởi Bồng,
chồi ghép Năm Roi, cách ghép chữ T ngƣợc 41
Hình 4.4 Cây ghép B-DX-T: gốc ghép bƣởi Bồng, chồi ghép Da Xanh,
cách ghép chữ T ngƣợc…………………………………………… 41
Hình 4.5: Cây ghép B-DX-M: gốc ghép bƣởi Bồng, chồi ghép Da Xanh,
cách ghép mặt cắt ở tuần 3……… ……………………………… 43
Hình 4.6: Gốc bƣởi Xim Vang (trái) và gốc bƣởi Bồng (phải) với chồi ghép
Năm Roi và cách ghép chữ T ngƣợc ở tuần 1…………………… 44
Hình 4.7: Cây ghép ở tuần 1……………………………………………………44
Hình 4.8: Chồi ghép Năm Roi trên gốc ghép bƣởi Bồng
ở tuần 2 (trái) và tuần 3 (phải) …………………………………… 46
Hình 4.9: Lá chồi ghép Năm Roi trên gốc ghép bƣởi Bồng ở tuần 4………….52
Hình 4.10: Chồi ghép Da Xanh trên gốc ghép bƣởi Bồng ở tuần 2
(trái) và tuần 3 (phải)……………………………………………….53
Hình 4.11: Chồi ghép Da Xanh trên gốc ghép bƣởi Xim Vang
ở tuần 1 (trái) và tuần 3( phải)…………………………………… 54

Bảng 4.1: Ảnh hƣởng của kỹ thuật vi ghép đến tỷ lệ sống của cây vi ghép 35
Bảng 4.2: Ảnh hƣởng của kỹ thuật vi ghép đến khả năng
hình thành chồi mới của cây vi ghép 40
Bảng 4.3: Ảnh hƣởng của kỹ thuật vi ghép đến chiều cao chồi
của cây vi ghép 45
Bảng 4.4: Ảnh hƣởng của kỹ thuật vi ghép đến số lá đƣợc hình thành
của cây vi ghép 51

xiii

Để có giống tốt cung cấp cho các nhà vƣờn, công tác giống có vai trò rất
quan trọng trong việc cung cấp giống cho các nhà vƣờn. Để có đƣợc giống sạch
virus cũng nhƣ sạch các bệnh khác, thỏa mãn yêu cầu cấp thiết về chất lƣợng thì vi
ghép cây là điều cần thực hiện trong sản xuất cây có múi hiện nay.
Đƣợc sự phân công của Bộ môn Công Nghệ Sinh Học Trƣờng Đại Học
Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh, chúng tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu kỹ
thuật vi ghép cây Bƣởi (Citrus grandis)”.
1.2 Mục đích - yêu cầu
1.2.1 Mục đích
Nghiên cứu các kỹ thuật vi ghép cây bƣởi nhằm tạo ra cây bƣởi in vitro sạch bệnh.
1.2.2 Yêu cầu
 Theo dõi sự sinh trƣởng của cây bƣởi in vitro nuôi cấy từ hạt đƣợc dùng làm
gốc ghép.
 Theo dõi sự sinh trƣởng của cây bƣởi vi ghép sau khi ghép. 2 1.3 Đối tƣợng nghiên cứu
Thực hiện vi ghép trên cây bƣởi với gốc ghép là cây bƣởi Bồng ở Huế và bƣởi
Xim Vang ở huyện Vĩnh Cữu, tỉnh Đồng Nai.
Cành ghép là các giống bƣởi cao sản đƣợc ƣa chuộng trên thị trƣờng hiện nay
cụ thể là bƣởi Năm Roi ở Vĩnh Long, bƣởi Da Xanh ở Bến Tre, bƣởi Đƣờng Lá Cam ở
Đồng Nai.
1.4 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu đƣợc tiến hành ở quy mô phòng thí nghiệm.

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Giới thiệu về cây bƣởi
Bƣởi là cây đặc sản quý, có giá trị dinh dƣỡng cao, ngoài chất đƣờng (8 – 10%,
trong đó saccharose là chủ yếu), bƣởi đặc biệt rất giàu vitamine C (khoảng 40
mg/100g thịt quả), acid hữu cơ (0,2 – 1,0%), pectin (0,45 – 0,5%) có tác dụng tốt đối
với sức khoẻ. Pectin của bƣởi có tác dụng chống nhiễm kim loại nặng và nhiễm phóng
xạ, tham gia vào quá trình bài tiết cholesterol, chống xơ cứng động mạch và có tác
dụng chữa bệnh đƣờng ruột [4].
Theo Đƣờng Hồng Dật (2000), ở Trung Quốc các thầy thuốc đã dùng vỏ quả
cam quýt để phòng ngừa dịch hạch, chữa trị bệnh phổi và bệnh chảy máu dƣới da.
Bƣởi còn là loại quả có tiềm năng kinh tế cao, trọng lƣợng quả lớn, cây có thể
cho thu hoạch quả đạt năng suất cao.
Theo Nguyễn Văn Kế (1990), sản lƣợng bƣởi toàn cầu khoảng 5 triệu tấn trên
tổng số 65 triệu tấn quả của họ cam quýt. Riêng tại Việt Nam, Nam Bộ có khoảng
2000 hecta trồng cây họ có múi.
Theo FAO (Tổ chức an toàn lƣơng thực thế giới, 2002) thì diện tích trồng cam
quýt và bƣởi trên toàn thế giới khoảng 7.330.000 ha với sản lƣợng 103.300.000
tấn/năm, mang lại giá trị khoảng 3 tỷ USD. Và cũng theo dự báo của FAO trong thời
kỳ 2001 đến 2010, nhu cầu tiêu thụ cây cam quýt tăng cao hơn tốc độ tăng sản lƣợng,
theo đó nhu cầu thị trƣờng tiêu thụ tăng bình quân 3,6%/năm. Trong khi sản lƣợng chỉ
đạt 2,8%/năm (Viện nghiên cứu cây ăn quả miền nam, 2001).
Ngoài ăn tƣơi, quả bƣởi còn có thể chế biến thành nhiều sản phẩm có giá trị
kinh tế nhƣ các loại nƣớc giải khát, lấy tinh dầu từ vỏ và hạt.
2.1.1 Nguồn gốc và phân loại
2.1.1.1 Nguồn gốc
Alphonse de Candle (1886) cho rằng có một số giống bƣởi tại quần đảo
Malaysia cho thấy nơi đây có nguồn gốc canh tác bƣởi lâu đời.
Roxburgh (1983) cho rằng bƣởi đã đƣợc di thực đến Calcutta (Ấn Độ) từ quần
đảo Java (Indonesia).

cây lớn nhất, có gai, có thể cao đến 15 m, lá to, xanh đậm với cành lá to hơn cam quýt.
Thân và tán cây bƣởi: Bƣởi thuộc dạng thân gỗ, là loại cây cao to nhất trong
họ citrus, cây cao 6 – 7 m, trong một năm có thể cho ra 3 – 4 đợt cành. Hình thái tán
rất đa dạng: tán rộng, tán thƣa, tán hình cầu, hình tròn hay hình tháp. Phần lớn các
giống bƣởi có tán xòe nhƣ bƣởi Chùm, bƣởi Chua, bƣởi Đƣờng…nhƣng cũng có tán
đứng nhƣ bƣởi Thanh Trà, bƣởi Ổi. Khi còn nhỏ cành có gai và rụng khi lớn. 5 Lá bƣởi: Lá có cánh tiếp giáp hay chồng lên phiến lá, số lá trên cành có liên
quan đến trọng lƣợng quả, ảnh hƣởng đến năng suất, kích thƣớc lá thay đổi tùy theo
giống.
Hoa bƣởi: Hoa lƣỡng tính mọc từ nách lá, hoa màu trắng, thơm có 5 cánh và 3
– 5 lá đài, 20 – 40 nhị đực hợp thành từng nhóm dính liền ở đáy, bao phấn có 4 ngăn,
màu vàng mọc bằng hay nhô cao hơn đầu nƣớm nhụy cái. Đầu nƣớm nhụy cái to, bầu
noãn có 8 – 15 ngăn dính liền nhau tại một trục ở giữa, thƣờng thì hoa tự thụ phấn, tuy
nhiên hoa bƣởi cũng có khả năng thụ phấn chéo.
Quả bƣởi: Thƣờng nặng từ 0.8 – 3.8 kg nhƣng thƣờng biến động từ 0.9 – 1.5
kg với nhiều dạng: da sần, da láng, quả tròn, quả dẹp, dạng quả lê, núm cao. Thịt quả
từ trắng đến hồng, vàng, xanh vàng, quả bƣởi gồm có 3 phần:
 Ngoại quả bì: Là phần vỏ ngoài của trái gồm có biểu bì, lớp cutin dày và
các khí khổng. Bên dƣới lớp biểu bì là lớp nhu mô mỏng giàu lục lạp, nên khi trái còn
xanh vẫn có thể quang hợp đƣợc. Giai đoạn chín diệp lục bị phân huỷ, nhóm sắc tố
caroten trở nên chiếm ƣu thế, màu sắc trái thay đổi từ xanh sang vàng.
 Trung quả bì: Giáp phần phía trong ngoại quả bì, lớp này gồm nhiều tầng
tế bào hợp thành, có màu trắng, vàng nhạt hay hồng nhạt. Trái càng lớn thì phần mô
này càng xốp.
 Nội quả bì: Gồm có tâm bì hay múi đƣợc bao quanh bởi lớp vách mỏng

BNR04. Riêng cá thể giống bƣởi năm roi 25 của ông Tô Văn Nho ở Mỹ Hoà - Bình
Minh – Vĩnh Long đã đƣợc bộ Nông Nghiệp công nhận cho phép đƣa vào sản suất ở
các tỉnh phía Nam, theo quyết định số 2767 NN-KHCN/QĐ vào ngày 29/10//1997
[16].
(b) Bƣởi Đƣờng Lá Cam: Bƣởi này có nguồn gốc ở Biên Hòa (Đồng Nai),
hiện nay là một trong những giống bƣởi chủ lực
trong các nhà vƣờn bƣởi miền Đông Nam Bộ,
đƣợc trồng khá tập trung ở huyện Vĩnh Cữu và
huyện Tân Uyên.
Tán cây tròn đều, phân bố thấp, cành đều,
lá xanh đậm, phiến hình mác, lá hình tim, bìa lá
có khía tròn. Quả hình quả lê thấp, màu xanh
vàng khi chín, vỏ láng, dễ bóc, tép quả rất dễ
tróc, màu vàng nhạt hoặc đồng nhất. Nƣớc quả
nhiều hƣơng vị thơm, rất ngon. Khối lƣợng quả
1.300 g. Năng suất 400 quả/cây. Đây là giống đã
đƣợc hai giải thƣởng: giải I năm 1995 kỳ hội
chợ Nông Nghiệp Quốc Tế tổ chức tại Cần Thơ
và giải B trong kỳ hội thi “Cây có múi giống tốt”
năm 1996 do VNCCAQMN tổ chức. Cá thể 7 Hình 2.3: Quả bƣởi Da Xanh
Hình 2.4: Quả bƣởi Da Xanh xẻ
dọc
thuộc giống đƣờng lá cam mã số BC12 của ông Trần Văn Hoà ở Tân Bình - Vĩnh Cữu
- Đồng Nai, đã đƣợc Bộ NNKH công nhận theo QĐ ngày 29/10/1997. Nhƣợc điểm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status