Luận văn : Khảo sát sinh trưởng nấm Linh chi đen (Amauroderma subresinosum, Corner) phát hiện tại vùng núi Chứa Chan - Việt Nam part 5 - Pdf 19


41

Hình 4.5: Sự sinh trƣởng hệ sợi nấm Amauroderma subresinosum
trên môi trƣờng nhân giống
4.2.3. Sự sinh trƣởng sợi nấm Amauroderma subresinosum trên môi trƣờng
lỏng
Bảng 4.3: Khả năng tích lũy sinh khối hệ sợi nấm Amauroderma
subresinosum trên môi trƣờng lỏng
Thời gian (ngày)
Sinh khối (gam)
10
0,283 ± 0,02
15
0,38 ± 0,017
20
0,492 ± 0,023
0
0.1
0.2
0.3
0.4
0.5
0.6
N10 N15 N20
Ngày
Trọng
lượng
(g/ngày)

Biểu đồ 3: Khả năng tích lũy sinh khối nấm Linh chi đen trên


43

Hình 4.7:Qui trình nuôi trồng nấm Linh chi đen
Qua quá trình khảo sát chúng tôi nhận thấy rằng pha ủ sợi kéo dài khoảng 25 –
27 ngày, khi hệ sợi bắt đầu bện kết, đưa các bịch nấm đã mọc trắng lên phòng nuôi,
tiến hành tưới phun sương để duy trì độ ẩm 80 – 95%, ánh sáng nhẹ (700 – 800 lux),
độ thông khí cao. Pha phát triển thể quả: ngày thứ 38 – 40 thì mầm quả thể bắt đầu
Cơ chất trồng nấm
Mạt cưa cao su
Ống thạch giống
Bịch mạt cưa đã khử
trùng
Chai lúa giống
(meo hạt)
- Rây (sàng) bỏ dăm bào
- Trộn nước vôi 0,25%
- Ủ đống qua đêm
- Thêm dinh dưỡng
- Bảo quản giống: Khi hệ sợi
nấm đầy ống nghiệm, tiến hành
cấy chuyền giống qua ống thạch
mới.
- Cấy một ít hệ sợi nấm sang
môi trường lúa để tạo một lượng
giống lớn cho giai đoạn trồng
trên cơ chất mạt cưa.
Cấy
giống
- Vào túi màng mỏng PP

sáng mạnh, phòng nuôi có độ thoáng khí kém sẽ gây ức chế sự hình thành và phát triển
của quả thể. Vì vậy trong quá trình nuôi trồng nên giữ nhiệt độ thích hợp, tưới nước
thường xuyên để tạo độ ẩm luôn cao, thiết kế trại nuôi trồng ở nơi mát mẻ và có độ
thông khí cao, chỉ nên cho nấm tiếp xúc với nguồn sáng khuyếch tán có cường độ
khoảng 700 – 800 lux, tránh sự xâm nhập của côn trùng hay các tác nhân gây tổn
thương cho quả thể nấm. Sau khi thu hái cần có phương pháp bảo quản quả tốt hay chế
biến ngay để bảo đảm chất lượng và độ cảm quan của nấm. Hình 4.8: Bố trí thí nghiệm

4.2.4.1. Giai đoạn sinh trƣởng sợi nấm Linh chi đen
Sau khi sợi nấm mọc trắng túi, trên mặt môi trường có các khối nhỏ trắng đó là
mầm quả thể, lấy nút bông ra tăng cường tưới nước giữ độ ẩm 85 – 95%, nhiệt độ 26 –
28
o
C, để trong điều kiện ánh sáng tán xạ, thông thoáng gió. Khi thu hái ta có thể nhổ
cả cuống lẫn tán, hong khô hoặc sấy ở nhiệt độ thấp.

45
80.77
98
69.23
90.39
59.61
92.31
73.08
30.77
25
80.13


46
Khi hệ sợi không bện kết được ở đầu cổ bịch phôi, phải dùng dao tạo vết rạch ở
đáy hoặc ở gốc bịch giúp cho mầm nấm xuất hiện. Vết rạch quá sâu và miệng rạch hở
trên thành bịch dẫn đến nhiễm mốc hoặc làm vị trí rạch bị khô. Trong quá trình nuôi
trồng, hầu hết các môi trường có hiện tượng sợi nấm không bện kết ở đầu cổ bịch phôi.
Nguyên nhân có thể do điều kiện ngoại cảnh chưa phù hợp cho sự sinh trưởng và phát
triển loài Linh chi này. Như vậy, sau khoảng 3 – 5 ngày tạo vết rạch thì trên các bịch
phôi xuất hiện mầm nấm.
Hệ sợi bện kết Mầm nấm
(Sau 50 – 55 ngày) (Sau 60 – 70 ngày)
Mầm nấm tăng trƣởng Quả thể nấm
( Sau 80 – 85 ngày) (Sau 95 -100 ngày)
Hình 4.9: Quá trình hình thành và tăng trƣởng quả thể nấm
Amauroderma subresinosum
Theo dõi quá trình tạo quả thể nấm Linh chi đen, chúng tôi nhận thấy hình
dạng quả thể ở các môi trường rất đồng nhất: quả thể nấm hình quạt, cuống ngắn.
Riêng quả thể ở môi trường 4 và 6 không đồng nhất về kích thước, một số dị dạng.
4.2.4.3. Đánh giá hiệu suất sinh học trên các môi trƣờng giá thể mạt cƣa cao
su
Bảng 4.4: Hiệu suất sinh học đạt đƣợc trên các môi trƣờng giá thể mạt cƣa
Môi trường giá thể
Trọng lượng khô (gam)
Hiệu suất sinh học (%)

10,94 ± 0,76
12,04 ± 0,856
0
2
4
6
8
10
12
14
16
MT1 MT2 MT3 MT4 MT5 MT6 MT7 MT8 MT9 MT10
Hiệu suất
sinh học (%)

Biểu đồ 5: Hiệu suất sinh học nuôi trồng nấm Linh chi đen

Như vậy hiệu suất sinh học thu được ở môi trường 3 cao nhất (14,36%), ở môi
trường 4 thấp nhất (11,22%) và hiệu suất sinh học đạt được ở các môi trường thí
nghiệm đều cao hơn 11%.

Hình 4.10: Quả thể nấm Amauroderma subresinosum sau 120 ngày

MT- 7
MT - 8
MT - 3

48

Hình 4.11: Kết quả nuôi trồng nấm Amauroderma subresinosum

+
tan trong nước), alcaloid dạng thứ cấp N
+
, dạng N –
oxid (N
+
-> O), dạng glycosid, alcaloid loại có tính phân cực mạnh, nhưng sẽ trích
luôn những hợp chất có chứa nitơ (protein, glycoprotein, nucleotide)… là những hợp
chất tuy không phải là alcaloid nhưng có thể cho kết quả dương tính với thuốc thử.
Bột dược liệu trích với dung môi hữu cơ – kiềm sẽ không trích được những
alcaloid dạng N – oxid, dạng N tứ cấp, dạng tan tốt trong nước. Phương pháp này trích
tốt các alcaloid dạng baz tự do có tính phân cực kém và tính baz yếu, cũng như các
alcaloid có cấu trúc đặc thù –C=C –N – .
Như vậy hoạt chất alcaloid không có trong quả thể nấm Linh đen hoặc có với
hàm lượng cực thấp mà phản ứng định tính không thể quan sát được.
4.3.2. Định tính saponin
4.3.2.1. Thử nghiệm tính chất tạo bọt
Kết quả ghi nhận như sau:
Độ bền của bọt
Kết quả
Sau 15 phút
+
Sau 30 phút
++
Sau 60 phút
+++

Như vậy dược liệu từ sinh khối và quả thể nấm Linh chi đen có chứa hoạt chất
saponin
Ống 1: dịch chiết dược liệu sau khi lắc

SO
4
đậm
đặc vào từ từ).
Ống 1(đối chứng): nước cất + acid
Ống 2: Dịch chiết + acid đậm đặc
1 2

Hình 4.16: Định tính triterpenoid bằng phản ứng Liebermann – Burchard

4.3.4. Định tính acid hữu cơ
Sau khi cho dịch chiết nước bột nấm Linh chi đen tác dụng với tinh thể Na
2
CO
3

và hơ nóng thì nhận thấy có bọt khí xuất hiện và bay ra. Như vậy, dịch chiết nước từ
quả thể nấm Linh chi đen có chứa thành phần acids hữu cơ.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status