Tiểu luận triết học "Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức, liên hệ với việc học tập của sinh viên hiện nay" pot - Pdf 19

1
Tiểu luận triết học
Tiểu luận triết học
"Mối quan hệ biện chứng giữa vật
chất và ý thức, liên hệ với việc học
tập của sinh viên hiện nay"
1
1
2
Tiểu luận triết học
MỤC LỤC
2
2
3
Tiểu luận triết học
LỜINÓIĐẦU
Những thành tựu trong công cuộc đổi mới trong thời gian qua đã
vàđang tạo ra một thế lực mới để nước ta bước vào một thời kì phát triển
mới .Nhiều tiền đề cần thiết về cuộc công nghiệp hoá và hiện đại
hoáđãđược tạo ra, quan hệ giữa nước ta và các nước trên thế giới ngày càng
được mở rộng .Khả năng giữ vững độc lập trong hội nhập với cộng đồng
thế giới được tăng thêm. Cách mạng khoa học và công nghệ tiếp tục phát
triển với trình độ ngày càng cao, thúc đẩy quá trình chuyển dịch kinh tế
vàđời sống xã hội .
Các nước đều có cơ hội phát triển. Tuy nhiên,do ưu thế công nghệ
và thị trường thuộc về các nước phát triển khiến cho các nuớc chậm phát
triển đứng trước một thách thức to lớn. Nguy cơ tụt hậu ngày càng cao
,màđiểm xuất phát của nước ta quá thấp, lại phải đi lên từ môi trường
cạnh tranh quyết liệt .
Trước tình hình đó ,cũng với xu thế phát triển của thời đại ,Đảng và
nhà nước cần tiếp tục tiến hành đẩy mạnh công cuộc đổi mới toàn diện

phạm trù triết học không có những đặc tính cụ thể có thể cảm thụđược
.Định nghĩa vật chất như vậy khắc phục được những quan niệm siêu hình
của chủ nghĩa duy vật đồng nhất vật chất với hình thức biểu hiện cụ thể
của nó.
Lênin cho rằng vật chất vốn tự nó có ,không thể tiêu diệt được ,nó tồn
tại bên ngoài và không lệ thuộc vào cảm giác ,ý thức con người, vật chất là
4
4
5
Tiểu luận triết học
một thực tại khách quan.Khác với quan niệm ý niêm tuyệt đối của CNDTKQ
,"thượng đế"của tôn giáo …Vật chất không phải là lực lượng siêu tự nhiên
tồn tại lơ lửng ởđâu đó ,trái lại phạm trù vật chất là kết quả của sự khái
quát sự vật ,hiện tượng cụ thể ,và do đó các các đối tượng vật chất có thật
,hiện thực đó có khả năng tác động vào giác quan để gây ra cảm giác ,và
nhờđó mà ta có thể biết được ,hiểu được và nắm bắt sự vật này .Định
nghĩa của Lênin đã khẳng định được câu trả lời về hai mặt của vấn đề cơ
bản của triết học .
Hơn thế nữa Lênin còn khẳng định cảm giác chép lại ,chụp lại ,phản
ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác.Khẳng định như vậy một mặt
muốn nhấn mạnh tính thứ nhất của vật chất ,vai trò quyết định của nó với
vật chất ,và mặt khác khẳng định khả năng nhận thức thế giới khách quan
của con người .Nó không chỉ phân biệt CNDV với CNDT, với thuyết không
thể biết mà còn phân biệt CNDV với nhị nguyên luận.
Như vậy ,chúng ta thấy rằng định nghĩa vật chất của Lênin là hoàn toàn
triệt để,nó giúp chúng ta xác định được nhân tố vật chất trong đời sống xã
hội ,cóý nghĩa trực tiếp định hướng cho nghiên cứu khoa học tự nhiên
giúp ngày càng đi sâu vào vào các dạng các dạng cụ thể của vật chất trong
giới vi mô .Nó giúp chúng ta có thái độ khách quan trong suy nghĩ và hành
động.

minh rằng nếu một hình thức vận động nào dó của sự vật mất đi thì tất
yếu nó nảy sinh một hình thức vận động khác thay thế .Các hình thức vận
động chuyển hoá lẫn nhau còn vận động của vật chất thì vĩnh viễn tồn tại.
Mặc dù vận động luôn ở trong quá trình không ngừng ,nhưng điều đó
không loại trừ mà còn bao hàm cả hiện tượng đứng im tương đối ,không có
nó thì không có sự phân hoá thế giới vật chất thành các sự vật ,hiện tượng
phong phú vàđa dạng .Ăngghen khẳng định rằng khả năng đứng im tượng
đối của các vật thể ,khả năng cân bằng tạm thời là những điều kiện chủ yếu
của sự phân hoá vật chất. Nếu vận động là biến đổi của các sự vật hiện
tượng thìđứng im là sựổn định ,là sự bảo toàn tính quy định sự vật hiện
tượng .Đứng im chỉ một trạng thái vận động ,vận động trong thăng bằng
6
6
7
Tiểu luận triết học
,trong sựổn định tương đối .Trạng thái đứng im còn được biểu hiện như là
một quá trình vận động trong phạm vi sự vật ổn định ,chưa biến đổi ,chỉ là
tạm thời vì nó chỉ xẩy ra trong một thời gian nhất định .Vận động riêng biệt
có xu hương phá hoại sự cân bằng còn vận động toàn thể lại phá hoại sự
cân bằng riêng biệt làm cho các sự vật luôn biến đổi ,chuyển hoá nhau .
*Không gian và thời gian là những hình thức tồn tại của vật chất
Không gian phản ánh thuộc tính của các đối tượng vật chất có vị trí ,có
hình thức kết cấu ,cóđộ dài ngắn cao thấp .Không gian biểu hiện sự tồn tại
và tách biệt của các sự vật với nhau ,biểu hiện qua tính chất và trật tự của
chúng Còn thời gian phản ánh thuộc tính của các qúa trình vật chất diễn ra
nhanh hay chậm ,kế tiếp nhau theo một trình tự nhất định .Thời gian biểu
hiện trình độ tốc độ của quá trình vật chất ,tính tách biệt giữa các giai
đoạn khác nhau của qúa trình đó ,trình tự xuất hiện và mất đi của các sự
vật hiện tượng.
Không gian và thời gian là những hình thức cơ bản của vật chất đang

người càng đi sâu vào bản chất của sự vật và cải tạo sự vật có hiệu quả
hơn ,tính năng động của ý thức nhờđó mà tăng hơn .Việc nhấn mạnh tri
thức là yếu tố cơ bản quan trọng cóý nghĩa chống quan điểm đơn giản
coi ý thức là tình cảm ,niềm tin…Quan điểm đó chính là bệnh chủ quan
duy ý chí của niềm tin mù quáng.Tuy nhiên việc nhấn mạnh yếu tố tri
thức cũng không đồng nghĩa với việc phủ nhận coi nhẹ yếu tố vai trò
tình cảm ý chí.
Tựý thức cũng là một yếu tố quan trọng mà CNDT coi nó là một thực
thểđộc lập có sẵn trong cá nhân ,biểu hiện xu hướng về bản thân mình ,tự
khẳng định cái tôi riêng biệt tách rời xã hội .Trái lại CNDVBC tựý thức làý
thức hướng về nhận thức bản thân mình thông qua quan hệ với thế giới
bên ngoài .Khi phản ánh thế giới khách quan con người tự phân biệt
mình ,đối lập mình với thế giới đó là sự nhận thức mình như là một thực
thể vận động ,có cảm giác ,tư duy có các hành vi đạo đức và vị trí xã hội
.Mặt khác sự giao tiếp xã hội và hoạt động thực tiễn xã hội đòi hỏi con
người nhận rõ bản thân mình và tựđiều chỉnh theo các quy tắc tiêu chuẩn
mà xã hội đề ra .Ngoài ra văn hoá cũng đóng vai trò cái gương soi giúp cho
con người tựý thức bản thân .
8
8
9
Tiểu luận triết học
Vô thức là một hiện tượng tâm lý ,nhưng có liên quan đến hoạt động
xảy ra ở ngoài phạm vi của ý thức .Có 2 loại vô thức: loại thứ nhất liên
quan đến các hành vi chưa được con người ý thức ,loại thứ hai liên quan
đến các hành vi trước kia đãđược ý thức nhưng do lặp lại nên trở thàmh
thói quen,có thể diễn ra tựđộng bên ngoài sự chỉđạo của ý thức.Vô thức
ảnh hưởng đến nhiều phạm vi hoạt động của con người .Trong những
hoàn cảnh đó nó có thể giúp con người giảm bớt sự căng thẳng trong hoạt
động .Việc tăng cường rèn luyện để biến thành hành vi tích cực thành thói

đổi kinh nghiệm và tổ chức lao động ,nhu cầu"cần phải nói với nhau một
cái gì". Và kết quả là ngôn ngữ ra đời.Ngôn ngữđược coi là cái vỏ vật chất
của tư duy,với sự xuất hiện của ngôn ngữ ,tư tưởng con người có khả
năng biểu hiện thành hiện thực trực tiếp ,trở thành tín hiệu vật chất tác
động tới giác quan của con người và gây ra cảm giác .Nhờ có nó mà con
người có thể giao tiếp ,trao đổi,truyền đạt kinh nghiệm cho nhau ,thông
qua đó màý thức cá nhân trở thành ý thức xã hội ,và ngược lại. Chính nhờ
trừu tượng hoá và khái quát hoá tức là quá trình hình thành thực hiện ý
thức ,chính nhờ nó mà con người có thểđi sâu vào bản chất của sự vật
,hiện tượng đồng thời tổng kết hoạt động của mình trong toàn bộ quá
trình phát triển lịch sử.
C. Bản chất của ý thức
Từ việc xem xét nguồn gốc của ý thức ,có thể thấy rõý thức có bản tính
phản ánh ,sáng tạo và bản tính xã hội .
Bản tính phản ánh thể hiện về thế giới thông tin bên ngoài ,là biểu thị
nội dung được từ vật gây tác động vàđược truyền đi trong quá trình phản
ánh . Bản tính của nó quy đinh mặt khách quan của ý thức, tức là phải lấy
kháh quan làm tiền đề ,bị nó quy định nội dung phản ánh là thế giới khách
quan.
ý thức ngay từđầu đã gắn liền với lao động ,trong hoạt động sáng tạo
cải biến và thống trị tự nhiên của con người vàđã trở thành mặt không thể
thiếu của hoạt động đó .Tính sáng tạo của ý thức thể hiện ở chỗ nó không
10
10
11
Tiểu luận triết học
chụp lại một cách thụđộng nguyên xi mà gắn liền với cải biến ,quá trình
thu nhập thông tin gắn liền với quá trình xử lý thông tin .Tính sáng tạo của
ý thức còn thể hiện ở khả năng gián tiếp kháI quát thế giới khách quan ở
quá trình chủđộng ,tác động vào thế giới đó.

mặt không thể thiếu được trong hoạt động của con người ,đặc biệt là hoạt
động thực tiễn con người ,ý thức có thức có thể cải biến được tự nhiên
,thâm nhập vào sự vật , không có khả năng tự biến thành hiện thực,nhưng
thông qua hoạt động thực tiễn của con người,ý thức có thể cải tiến
được ,thâm nhập vào sự vật ,hiện thực hoá những mục đích mà nóđề ra
cho hoạt động của mình.Điều này bắt nguồn từ chính ngay bản tính phản
ánh,sáng tạo và xã hội của ý thức và chính nhờ bản tính đó mà chỉ có con
người cóý thức mới có khả năng cải biến và thống trị tự nhiên ,bắt nó phục
vụ con người. Như vậy tính tương đối trong sựđối lập giữa vật chất vàý
thức thể hiện ở tính độc lập tương đôí,tính năng động của ý thức. Mặt
khác đời sống con người là sự thống nhất không thể tách rời giữa đời sống
vật chất vàđời sôngs tinh thần trong đó những nhu cầu tinh thần ngày
càng phong phú vàđa dạng và những nhu cầu vật chất cũng bị tinh thần
hoá.Khẳng định tính tương đối của sựđối lập giữa vật chất vàý thức không
có nghĩa là khẳng định cả hai yếu tố có vai trò như nhau trong đời sống và
hoạt động của con người .Trái lại, Triết học Mác-Lênin khẳng định
rằng,trong hoạt động của con người những nhân tố vật chất vàý thức có
tác động qua lại ,song sự tác động đó diễn ra trên cơ sở tính thứ nhất của
nhân tố vật chất so với tính thứ hai cuảý thức.
Trong hoạt động của con người ,những nhu cầu vật chất xét đến cùng
bao giờ cũng giữ vai trò quyết định ,chi phối và quy định mục đích hoạt
động của con người vì nhân tố vật chất quy định khả năng các nhân tố tinh
thần có thể tham gia vào hoạt động của con người, tạo đIều kiện cho nhân
tố tinh thần hoặc nhân tố tinh thần khác biến thành hiện thực và qua đó
quy định mục đích chủ trương biện pháp mà con người đề ra cho hoạt
động của mình bằng cách chọn lọc, sữa chữa bổ bổ sung cụ thể hoá mục
đích chủ trương biện pháp đó . Hoạt động nhận thức của con người bao
giờ cũng hướng đến mục tiêu cải biến tự nhiên nhằm thoả mãn nhu cầu
12
12

14
Tiểu luận triết học
Phần lớn sinh viên Việt Nam thiếu khả năng sáng tạo. Một kết quả
nghiên cứu gần đây về tính sáng tạo của sinh viên ở một trường đại học
lớn của Việt Nam cho biết trong một mẫu điều tra khá lớn gồm hàng ngàn
sinh viên, chí có khoảng 20% sinh viên đặt hoặc vượt mức sáng tạo trung
bình của tụ giới. Như vậy có tới 80% sinh viên có tính sáng tạo thấp hơn
mức trung bình. Đây là một thông tin sét đánh, buộc các nhà giáo dục học
phải nghiêm túc xem lại phương pháp, chương trình, cách tổ chức dạy và
học trong các trường đại học của Việt Nam.
"Lười đọc…." là lời tự thú của nhiều sinh viên thời hiện đại. Khảo sát
ngẫu nhiên một số sinh viên các trường đại học, cao đẳng về việc đọc sách
báo của họ, sốđồng đều ngắc ngứ rằng "cóđọc" nhưng chỉđọc một sốcuốn
theo phong trào và chỉ xem sách chuyên ngành khi bị thúc bách về mặt bài
vở, có sinh viên sắp ra trường vẫn chưa một lần ghé thăm thư viện. Một
sốđông sinh viên ít đọc có nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan
nhưng nói chung họ rất thụđộng trong việc học. Thụđộng bởi sinh viên
chỉđọc giảng viên yêu cầu thuyết trình một đề tài, viết một bài tiểu luận
hoặc khi được khuyến khích bởi một người khác về một cuốn sách hay nào
đó, tức chỉ khi bịáp chế hoặc được truyền cho niềm tin thì họ mới đổ xôđi
đọc.
Có quá nhiều sinh viên vừa học, vừa chơi và cũng có quả nhiều sinh
viên quên mọi thứ trên đời để học. Cả hai kiểu học như thểđều mang lại
những kết quả tiêu cực khác nhau. Một bên là sự hụt hẫng về kiến thức,
thường xuyên đối mặt với nguy cơ bịđuổi học còn bên kia lại là sự mệt
mỏi, căng thẳng, những lo âu chồng chất trong những năm học đại học
khiến sức khỏe bị suy sụp, lạc lõng với những diễn tiến xung quanh xã hội,
lạ lẫm với những điều đang tác động đến cuộc sống hàng ngày….
Theo báo Tuổi trẻ ngày 3/10/2000 đã mời các thầy giáo đại học, các
nhà quản lý, các sinh viên dự tọa đàm về "nâng cao chất lượng đào tạo đại

đã thường xuyên bị kêu ca là không đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn.
Xét về trình độ thực tế của sinh viên tốt nghiệp thì quả là còn yếu
kém, một số ngành rất yếu. Về kiến thức, kỹ năng thực hành, tính chủđộng
sáng tạo, về khả năng diễn đạt bằng nói hay viết sinh viên ta đều kém, tuy
15
15
16
Tiểu luận triết học
cá biệt có những người rất xuất sắc, nhưng số này không nhiều cũng chẳng
có gì lạ, vì nhiều nơi coi đại học là "học đại".
3. Sự quan tâm của Đảng, Nhà nước tới nền giáo dục đại học
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng khẳng định yêu cầu
mới của nền giáo dục là: chuyển từ chủ trương giáo dục cho mọi người
sang chủ trương mọi người đều phải thực hiện việc học tập suốt đời. Vấn
đề mấu chốt trong đổi mới sự nghiệp giáo dục Việt Nam màĐại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng khẳng định là "chuyển dần mô hình
giáo dục hiện nay sang mô hình giáo dục mở - mô hình xã hội học tập với
hệ thống học tập suốt đời đào tạo liên tục, liên thông giữa các bậc học,
ngành học, xây dựng và phát triển hệ thống học tập cho mọi người và
những hình thức học tập, thực hành linh hoạt, đáp ứng nhu cầu học tập
thường xuyên; tạo nhiều khả năng, cơ hội khác nhau cho người học, bảo
đảm sự công bằng xã hội trong giáo dục. Đây là cách đặt vấn đề giáo dục
với yêu cầu mới: chuyển từ chủ trương giáo dục cho mọi người sang chủ
trương mọi người đều phải thực hiện việc học tập suốt đời. Cách đặt vấn
đề trên căn cứ vào tư tưởng Hồ Chí Minh về sự học đồng thời căn cứ vào
yêu cầu đổi mới giáo dục của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện
đại. Đến thăm lớp nghiên cứu chính trị khóa I trường đại học nhân dân
Việt Nam, chủ tịch Hồ Chí Minh nói: "Học hỏi là một việc phải tiếp tục suốt
đời. Suốt đời phải gắn liền lý luận với công tác thực tế. Không ai có thể tự
cho mình đã biết đủ rồi biết hết rồi. Thế giới ngày ngày đổi mới, nhân dân

Đểđáp ứng yêu cầu đổi mới và phát triển hệđại học màĐại hội X của
Đảng đãđề ra, chúng ta cần đánh giá cho đúng vai trò của trường đại học
trong thế giới hiện đại. Giáo dục đại học là một động lực mạnh để phát
triển kinh tế - một động lực mà giáo dục trung học không thể tạo ra được
song cũng phải thừa nhận rằng giáo dục đại học luôn là tiêu điểm của việc
học trong xã hội. Trường đại học vừa lưu giữ, vừa sáng tạo những tri thức,
lại là một chuyển tải kinh nghiệm văn hóa và khoa học - công nghệ cho các
thế hệ theo học. Giáo dục thường xuyên phải gắn với cộng đồng, mục tiêu
của nó nhằm tạo nguồn nhân lực phục vụ những nhiệm vụ kinh tế - xã hội
17
17
18
Tiểu luận triết học
của từng địa phương nên cách tổ chức của nó thường bám chắc trong
từng cộng đồng.
III. GIẢIPHÁP
1) Giải pháp nâng cao việc học và hành của sinh viên hiện nay.
Tạp chí Scien et vie (Pháp) đã viết: "Ai tự học mạnh nhất, người đó
tích lũy được một tiềm năng sáng tạo dồi dào nhất. Ngược lại, ai có nhu
cầu sáng tạo nhiều hơn, người ấy càng thôi thúc ý chí tự học cao hơn".
Tự học để tiếp cận với sáng tạo. Sinh viên phải luyện độ tìm tòi và kỹ
năng ứng biến. Đó là tiêu chí cần thiết để phân định sự thông thái của một
chủ thể nhận thức đồng thời là chủ thể sáng tạo. Trí thông minh vàóc sáng
tạo của mỗi người được thể hiện chủ yếu bằng hành động, thay vì chỉ
dừng lại ởý thức được thể hiện chủ yếu bằng sựđáp ứng những thử thách
trong quá trình vận dụng kiến thức thay vì chỉ quanh quẩn ở việc vun bồi
kiến thức. Bởi vậy các chuyên gia UNESCO đã có lý khi khẳng định: "người
hiểu biết ít mà vận dụng nhiều (có hiệu quả) biểu hiện một trí tuệ hơn hẳn
một người biết nhiều mà vận dụng ít". Sinh viên không chỉ dừng lại ở mức
độ lĩnh hội, mà phải chuyển sang thái độ tìm tòi cách cải biến và cách ứng

là tự làm việc với chính mình trước, nghiên cứu tài liệu, trao đổi với bạn
bè theo cách học với nhóm vàđược thầy khởi gợi, hướng dẫn. Có thể nói
viết lại là cách tiếp thu tốt và truyền đạt lại cho người khác là một cách
hiểu nắm vấn đề tốt nhất. Điều này sinh viên trau dồi kỹ năng đọc và viết
qua việc hướng dẫn họđọc mau, nắm vững các ý chính và viết gãy gọn, có
phân tích, có chứng minh.
Một trong những vấn đề ta thường gặp ở Việt Nam là sinh viên học
sinh ra trường chưa đủ khả năng sẵn sàng đểđảm nhận được các công tác,
chức vụ màđáng lẽ họ phải có khả năng ứng xửđộc lập. Vì vậy mà sinh viên
phải phát triển cho mình khả năng phát hiện vấn đề và giải quyết vấn đề
19
19
20
Tiểu luận triết học
cóóc thực tế, không định kiến, không câu nệ thành kiến. Muốn bắt kịp đà
tiến của khoa học kỹ thuật thì sinh mình cần thay đổi phương pháp học
tập lấy người học làm trung tâm. Muốn được như thế dĩ nhiên không chỉ
cần có sự thay đổi tư duy của người học mà còn phải có sự thay đổi phù
hợp trong hệ thống giáo dục vàđào tạo nước ta.
Ngày nay công nghệ thông tin được công nhân là một bộ phận
không thể thiếu được trong giáo dục. Sinh viên tích vực tiếp cận, truy cập
Internet để cóđược những thông tin khoa học mới nhất hay có cơ hội trao
đổi ý kiến với bạn bè thế giới.
Phải biết vận dụng những tri thức lĩnh hội được vào thực tế, không
chỉ toàn là lý thuyết. Vận dụng chúng vào sản xuất,nghiên cứu…
2. Kiến nghị về phát triển giáo dục đại học
Trong thời đại cách mạng công nghệ, Đại học có vai trò chỉđạo trong
toàn bộ hệ thống giáo dục của một nước. Nhưng so với thế giới và trong
khu vực, giáo dục đại học của ta còn quá yếu kém, tụt hậu còn xa hơn giáo
dục phổ thông. Trước đây ta xây dựng đại học theo mô hình Liên xô cũ,

như chúng ta. Vì vậy cần chỉnh đốn từ gốc, rà soát lại để hạn chế chặt chẽ
sốđơn vị, ngành được phép đào tạo, đơn vị nào, ngành nào còn yếu thì
cương quyết dừng lại việc đào tạo trong nước để gửi ra đào tạo ở nước
ngoài và chuẩn bị thêm điều kiện. Tăng cường thanh tra, kiểm tra, lập lại
kỷ cương , trật tự chống gian dối và cẩu thả trong việc đào tạo và cấp
bằng. Đồng thời những cơ sởđại học nào được phép đào tạo cần cóđủ
quyền chủđộng từ việc tuyển nghiên cứu sinh lựa chọn chương trình, cửa
người hướng dẫn cho đến tổ chức phản biện bảo vệ và cấp bằng, để có
thể tự chịu trách nhiệm hoàn toàn trước xã hội về chất lượng đào tạo.
Thứ 3 là chấn chỉnh công tác chức danh GS, PGS. Đây là một trong
những khâu then chốt đểđảm bảo chất lượng cho đại học, nhưng trong
một thời gian dài cho đến hiện nay, ở nước ta đã thực hiện khá tùy tiện
và còn quá nhiều bất cập. Một trong những nguyên nhân đóng góp vào sự
trì trệ kéo dài của Đại học chính làở công tác này, thể hiện khá tập trung
những chính sách nhân tài. Do đóđể mởđường hiện đại hóa đại học, cần
21
21
22
Tiểu luận triết học
sớm chấn chỉnh công tác chức danh GS, PGS, trước hết cải tổ "Hội đồng
chức danh GS" thành một hội đồng không trực tiếp công nhận các chức
danh mà chỉ xét duyệt hàng năm, định kỳđể công nhận những người đủ tư
cách ứng xử vào các chức danh GS, PGS ở các đại học và viện nghiên cứu.
Hàng năm các Đại học và viện nghiên cứu công bố như cần tuyển GS, PGS
để bất cứ ai đãđược công nhận "đủ tư cách" đều có thể dự tuyển.
Thứ 4 là cải thiện chính sách sử dụng giảng viên đại học. Tình trạng
phổ biến hiện nay ở các Đại học là giảng viên dạy quá nhiều giờ (25 - 30
giờ mỗi tuần không phải là hiếm). Kể cả giờ dạy trong trường, ngoài
trường, dưới nhiều hình thức khác nhau, dạy "liên kết" ở các địa phương,
dạy tu, luyện thi… do đó ngay ở các đại học lớn, cũng rất ít nghiên cứu

cần xây dựng hoàn toàn "mới" đại học này nghĩa là không phải ghép chung
lại một sốđại học đã có sẵn (theo kinh nghiệm không thành công nhưđã
làm tới nay) mà toàn bộ giảng viên và sinh viên tuyển vào đều là "mới".
Lúc đầu không nhất thiết đủ hết mọi ngành và quy mô có thể hạn chế
trong số mấy trăm sinh viên nhưng đại học mới này phải được xây dựng
theo đúng các chuẩn mực quốc tế về mọi mặt. Cơ sở vật chất thiết bị, điều
kiện ăn ở học tập của sinh viên, trình độ giảng viên.
Thứ 7 là tăng đầu tư cho đại học, đi đôi với chấn chỉnh việc sử dụng
đầu tư. Cần cải cách chếđộ lương và phụ cấp, bảo đảm cho giảng viên đại
học một mức thu nhập phù hợp và năng suất và trình độ từng người để họ
có thể dồn tâm lực vào nhiệm vụ chính trong giảng dạy và nghiên cứu
khoa học mà không phải lo toan, xoay xở cho đời sống quá nhiều, tạo mọi
điều kiện cho họ có thể cập nhật tri thức theo kịp khoa học công nghệthế
giới và khu vực.
23
23
24
Tiểu luận triết học
KẾTLUẬN
Có thể nói trong thời đại cách mạng công nghệ, đại học có vai trò
chủđạo trong toàn bộ hệ thống giáo dục của một nước. Nhưng so với thế
giới và khu vực, giáo dục đại học của ta còn quá yếu kém, tụt hậu.
Phát triển con người là vấn đề trọng tâm của mỗi quốc gia. Hầu hết
các nước trên thế giới đều giương cao khẩu hiệu "giáo dục là quốc sách
hàng đầu và dành nhiều tâm sức để xây dựng và phát triển giáo dục nhằm
đào tạo cho xã hội lực lượng lao động có năng lực chuyên môn và khả
năng thích ứng, thỏa mãn được yêu cầu của thị trường về tiêu chuẩn văn
hóa, chuyên môn - nghiệp vụ của thị trường.
Một nền giáo dục đại học chỉđược xem thành công khi nền giáo dục
ấy đóng góp cho xã hội những cá nhân cóđầy đủ trí và lực, đáp ứng được


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status