Chuyên đề tốt nghiệp
Luận văn
Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động
tại Công ty cổ phần Đại Việt
1
Nguyễn Hải Bằng Lớp: Tài chính K36
Chuyên đề tốt nghiệp
MỤC LỤC
ỜI NÓI ĐẦU
Trong nền kinh tế cạnh tranh quyết liệt, doanh nghiệp muốn tồn tại và
phát triển được thì đòi hỏi doanh nghiệp phải có một sức mạnh về tài chính
cụ thể là vốn.
Vốn là biểu hiện vật chất không thể thiếu được trong hoạt động sản xuất
kinh doanh, trong việc mở rộng quy mô về chiều sâu và chiều rộng của mỗi
doanh nghiệp. Vì thế doanh nghiệp phải luôn đảm bảo vốn cho hoạt động của
mình, không ngừng nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, từ đó doanh nghiệp mới
có thể tăng lợi nhuận, tăng thu nhập để tồn tại và phát triển.
Sản phẩm công nghệ là một thị trường luôn phát triển và thay đổi thường
xuyên, điều đó đòi hỏi các doanh nghiệp kinh doanh sản phẩm này phải luôn
có sự cập nhật về sản phẩm cũng như công nghệ tiên tiến nhất để phục vụ các
yêu cầu của khách hàng. Vốn lưu động là một yếu tố quan trọng trong hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp trong lĩnh vực này. Vì thế, việc sử dụng
hiệu quả vốn lưu động trong hoạt động sản xuất kinh doanh luôn là một vần
đề thường xuyên được quan tâm và là vần đề cốt lõi trong hoat động kinh
doanh của doanh nghiệp.
Công ty cổ phần Đại Việt là một đơn vị hoạt động kinh doanh trong lĩnh
vực công nghệ, công ty đã có nhiều nỗ lực trong việc quản lý và sử dụng vốn
lưu động sao cho hiệu quả và đã gặt hái được một số thành tựu nhất định. Bên
cạnh đó, Công ty vẫn còn tồn tại một số vấn đề bất cập trong công tác quản lý
và sử dụng vốn lưu động. Do vậy, việc đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao
hơn nữa hiệu quả sử dụng vốn lưu động là rất cần thiết.
Vốn kinh doanh của doanh nghiệp được hiểu là số tiền ứng trước về
toàn bộ tài sản hữu hình và tài sản vô hình phục vụ cho sản xuất - kinh doanh
của doanh nghiệp nhằm mục đích kiếm lời.
Trong mọi doanh nghiệp, vốn đều bao gồm hai bộ phận: vốn chủ sở
hữu và nợ. Mỗi bộ phận này được cấu thành bởi nhiều khoản mục khách
nhautuỳ theo tính chất của chúng. Tuy nhiên, việc lựa chọn nguồn vốn trong
các doanh nghiệp khác nhau sẽ không giống nhau, nó phụ thuộc vào một loạt
cac nhân tố như:
- Trạng thái của nền kinh tế
- Ngành kinh doanh hay lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp
- Quy mô và cơ cấu tổ choc của doanh nghiệp
- Trình độ khoa học kỹ thuật và trình độ quản lý
- Chiến lược phát triển và chiến lựợc đầu tư của doanh nghiệp
- Thái độ của chủ doanh nghiệp
- Chính sách thuế…
1.1.2 Đặc điểm
- Vốn của doanh nghiệp là số tiền ứng trước cho hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp. Tuy nhiên muốn có được lượng vốn đó, các
doanh nghiệp phải chủ động khai thác, thu hút vốn trên thị trường.
- Mục đích vận động của tiền vốn là sinh lời. Nghĩa là vốn ứng trước
cho hoạt động sản xuất kinh doanh phải được thu hồi về sau mỗi chu kỳ sản
xuất, tiền vốn thu hồi về phải lớn hơn số vốn đã bỏ ra.
1.1.3 Phân loại
Vốn của doanh nghiệp bao gồm hai bộ phận: vốn chủ sở hữu và nợ.
5
Nguyễn Hải Bằng Lớp: Tài chính K36
Chuyên đề tốt nghiệp
• Vốn chủ sở hữu
Là phần vốn thuộc quyền sở hữu của chủ doanh nghiệp, doanh nghiệp
có quyền chiếm hữu và sử dụng, bao gồm: vốn góp ban đầu, lợi nhuận không
- Phát hành trái phiếu công ty: trái phiếu là một tên chung của giấy
vay nợ dài hạn và trung hạn, hay còn được gọi là trái khoán. Việc
lựa chọn trái phiếu thích hợp là quan trọng vì có liên quan đến chi
phí trả lãi, cách thức trả lãi, khả năng lưu hành và tính hấp dẫn của
trái phiếu. Các loại trái phiếu thường được lưu hành: trái phiếu có
lãi suất cố định, trái phiếu có lãi suất thay đổi, trái phiếu có thể thu
hồi, chứng khoán có thể chuyển đổi
1.2 Hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong doanh nghiệp
1.2.1 Khái niệm
1.2.1.1 Khái niệm và phân loại vốn lưu động
Trong nền kinh tế quốc dân mỗi doanh nghiệp được coi như một tế bào
của nền kinh tế với nhiệm vụ chủ yếu là thực hiện các hoạt động sản xuất kinh
doanh nhằm tạo ra các sản phẩm hàng hoá, lao vụ, dịch vụ cung cấp cho xã
hội. Doanh nghiệp có thể thực hiện một số hoặc tất cả các công đoạn của quá
trình đầu tư từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm lao vụ, dịch vụ trên thị trường
nhằm mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận.
Để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh doanh nghiệp cần phải
có đối tượng lao động, tư liệu lao động và sức lao động. Quá trình sản xuất
kinh doanh là quá trình kết hợp các yếu tố đó để tạo ra sản phẩm hàng hoá lao
vụ, dịch vụ. Khác với tư liệu lao động, đối tượng lao động khi tham gia vào
quá trình sản xuất kinh doanh luôn thay đổi hình thái vật chất ban đầu, giá trị
của nó được chuyển dịch toàn bộ một lần vào giá trị sản phẩm và được bù đắp
khi giá trị sản phẩm được thực hiện. Biểu hiện dưới hình thái vật chất của đối
7
Nguyễn Hải Bằng Lớp: Tài chính K36
Chuyên đề tốt nghiệp
tượng lao động gọi là tài sản lưu động, TSLĐ của doanh nghiệp gồm TSLĐ
sản xuất và TSLĐ lưu thông.
TSLĐ sản xuất gồm những vật tư dự trữ để chuẩn bị cho quá trình sản
xuất được liên tục, vật tư đang nằm trong quá trình sản xuất chế biến và
Sự vận động của vốn lưu động trải qua các giai đoạn và chuyển hoá từ
hình thái ban đầu là tiền tệ sang các hình thái vật tư hàng hoá và cuối cùng
quay trở lại hình thái tiền tệ ban đầu gọi là sự tuần hoàn của vốn lưu động. Cụ
thể là sự tuần hoàn của vốn lưu động được chia thành các giai đoạn như sau:
- Giai đoạn 1(T-H): khởi đầu vòng tuần hoàn, vốn lưu động dưới hình
thái tiền tệ được dùng để mua sắm các đối tượng lao động để dự trữ cho sản
xuất. Như vậy ở giai đoạn này vốn lưu động đã từ hình thái tiền tệ chuyển
sang hình thái vốn vật tư hàng hoá.
- Giai đoạn 2(H-SX-H’): ở giai đoạn này doanh nghiệp tiến hành sản xuất ra
sản phẩm, các vật tư dự trữ được đưa dần vào sản xuất. Trải qua quá trình sản
xuất các sản phẩm hàng hoá được chế tạo ra. Như vậy ở giai đoạn này vốn lưu
động đã từ hình thái vốn vật tư hàng hoá chuyển sang hình thái vốn sản phẩm
dở dang và sau đó chuyển sang hình thái vốn thành phẩm.
- Giai đoạn 3:(H’-T’): doanh nghiệp tiến hành tiêu thụ sản phẩm và thu
được tiền về và vốn lưu động đã từ hình thái vốn thành phẩm chuyển sang
hình thái vốn tiền tệ trở về điểm xuất phát của vòng tuần hoàn vốn. Vòng tuần
hoàn kết thúc. So sánh giưa T và T’, nếu T’ >T có nghĩa doanh nghiệp kinh
doanh thành công vì đồng vốn lưu động đưa vào sản xuất đã sinh sôi nảy nở,
doanh nghiệp bảo toàn và phát triển được VLĐ và ngựơc lại. Đây là một nhân
tố quan trọng đánh giá hiệu quả sử dụng đồng VLĐ của doanh nghiệp.
Do quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được tiến hành
thường xuyên liên tục nên vốn lưu động của doanh nghiệp cũng tuần hoàn
9
Nguyễn Hải Bằng Lớp: Tài chính K36
Chuyên đề tốt nghiệp
không ngừng, lặp đi lặp lại có tính chất chu kỳ gọi là sự chu chuyển của vốn
lưu động. Do sự chu chuyển của vốn lưu động diễn ra không ngừng nên trong
cùng một lúc thường xuyên tồn tại các bộ phận khác nhau trên các giai đoạn
vận động khác nhau của vốn lưu động. Khác với vốn cố định, khi tham gia
vào các hoạt động sản xuất kinh doanh, vốn lưu động luôn thay đổi hình thái
- Vốn bằng tiền: bao gồm các khoản vốn tiền tệ như tiền mặt tồn quỹ,
tiền gửi ngân hàng, các khoản vốn trong thanh toán, các khoản đầu tư chứng
khoán ngắn hạn
Cách phân loại này giúp cho các doanh nghiệp xem xét, đánh giá mức
tồn kho dự trữ và khả năng thanh toán của doanh nghiệp.
* Phân loại theo quan hệ sở hữu.
Theo cách này người ta chia vốn lưu động thành 2 loại:
- Vốn chủ sở hữu: là số vốn lưu động thuộc quyền sở hữu của doanh
nghiệp, doanh nghiệp có đầy đủ các quyền chiếm hữu, sử dụng, chi phối và
định đoạt. Tuỳ theo loại hình doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác
nhau mà vốn chủ sở hữu có nội dung cụ thể riêng như: vốn đầu tư từ ngân
sách nhà nước; vốn do chủ doanh nghiệp tư nhân tự bỏ ra; vốn góp cổ phần
trong công ty cổ phần; vốn góp từ các thành viên trong doanh nghiệp liên
doanh; vốn tự bổ sung từ lợi nhuận doanh nghiệp
- Các khoản nợ: là các khoản vốn lưu động được hình thành từ vốn vay
các nhân hàng thương mại hoặc các tổ chức tài chính khác; vốn vay thông qua
11
Nguyễn Hải Bằng Lớp: Tài chính K36
Chuyên đề tốt nghiệp
phát hành trái phiếu; các khoản nợ khách hàng chưa thanh toán. Doanh
nghiệp chỉ có quyền sử dụng trong một thời hạn nhất định.
Cách phân loại này cho thấy kết cấu vốn lưu động của doanh nghiệp
được hình thành bằng vốn của bản thân doanh nghiệp hay các khoản nợ. Từ
đó có các quyết định trong huy động và quản lý, sử dụng vốn lưu động hợp lý
hơn, đảm bảo an ninh tài chính trong sử dụng vốn của doanh nghiệp.
* Phân loại theo nguồn hình thành.
Nếu xét theo nguồn hình thành vốn lưu động có thể chia thành các
nguồn như sau:
- Nguồn vốn điều lệ: là số vốn lưu động được hình thành từ nguồn vốn
điều lệ ban đầu khi thành lập hoặc nguồn vốn điêù lệ bổ sung trong quá trình
- Nguồn vốn lưu động thường xuyên là nguồn vốn có tính chất ổn định
nhằm hình thành nên TSLĐ thường xuyên cần thiết.
Chúng ta có thể khái quát như sau:
TSLĐ tạm thời Nguồn tạm thời
-TSLĐ thường xuyên cần thiết
-TSCĐ
Nguồn thường xuyên
Việc phân loại nguồn vốn lưu động như trên giúp cho người quản lý
xem xét huy động các nguồn vốn lưu động một cách phù hợp với thời gian sử
dụng để nâng cao hiệu quả tổ chức và sử dụng VLĐ trong doanh nghiệp
mình. Ngoài ra nó còn giúp cho nhà quản lý lập các kế hoạch tài chính hình
thành nên những dự định về tổ chức nguồn vốn lưu động trong tương lai, trên
13
Nguyễn Hải Bằng Lớp: Tài chính K36
Chuyên đề tốt nghiệp
cơ sở xác định quy mô, số lượng VLĐ cần thiết để lựa chọn nguồn vốn lưu
động này mang lại hiệu quả cao nhất cho doanh nghiệp.
1.2.1.2 Kết cấu và nhân tố ảnh hưởng đến kết cấu vốn lưu động
* Kết cấu vốn lưu động.
- Khái niệm kết cấu VLĐ: là quan hệ tỷ lệ giữa các thành phần vốn lưu
động chiếm trong tổng số vốn lưu động của doanh nghiệp.
VLĐ là một bộ phận của vốn sản xuất kinh doanh, vấn đề tổ chức quản
lý, sử dụng vốn lưu động có hiệu quả sẽ quyết định đến sự tăng trưởng và
phát triển của doanh nghiệp, nhất là trong điều kiện nền kinh tế thị trường
hiện nay. Doanh nghiệp sử dụng vốn lưu động có hiệu quả, điều này đồng
nghĩa với việc doanh nghiệp tổ chức được tốt quá trình mua sắm dự trữ vật tư,
sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, phân bổ hợp lý vốn trên các giai đoạn luân
chuyển để vốn luân chuyển từ loại này thành loại khác, từ hình thái này sang
hình thái khác, rút ngắn vòng quay của vốn.
Để quản lý vốn lưu động được tốt cần phải phân loại vốn lưu động. Có
dụng VLĐ để đảm bảo cho quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm được bình
thường và liên tục. Lợi ích kinh doanh đòi hỏi các doanh nghiệp phải sử dụng
hiệu quả từng đồng vốn lưu động. Việc sử dụng hợp lý, có hiệu quả VLĐ
được đánh giá thông qua các chỉ tiêu sau:
* Tốc độ luân chuyển VLĐ.
Việc sử dụng hợp lý tiết kiệm vốn lưu động được biểu hiện trước hết ở
tốc độ luân chuyển vốn lưu động của doanh nghiệp nhanh hay chậm. Vốn lưu
động luân chuyển càng nhanh thì hiệu suất sử dụng vốn lưu động càng cao và
ngược lại.
15
Nguyễn Hải Bằng Lớp: Tài chính K36
Chuyên đề tốt nghiệp
Tốc độ luân chuyển VLĐ có thể đo bằng hai chỉ tiêu là số lần luân
chuyển(số vòng quay vốn) và kỳ luân chuyển vốn(số ngày của một vòng quay
vốn). Số lần luân chuyển VLĐ phản ánh số vòng quay vốn được thực hiện
trong thời kỳ nhất định, thường tính trong 1 năm. Công thức tính như sau:
L=M/VLĐ
Trong đó:
L: số lần luân chuyển(số vòng quay) của VLĐ trong kỳ.
M: tổng mức luân chuyển vốn trong kỳ.
VLĐ; vốn lưu động bình quân trong kỳ.
Kỳ luân chuyển VLĐ phản ánh số ngày để thực hiện một vòng quay VLĐ.
16
Nguyễn Hải Bằng Lớp: Tài chính K36
Chuyên đề tốt nghiệp
Công thức được xác định như sau:
K=360/L hay K=(VLĐ x 360)/M
Trong đó:
K:kỳ luân chuyển VLĐ.
M,VLĐ: như công thức trên.
LĐ1
: Vốn lưu động bình quân năm báo cáo và năm kế hoạch.
M1 : Tổng mức luân chuyển năm kế hoạch
K
1
: Kỳ luân chuyển vốn lưu động năm kế hoạch
17
Nguyễn Hải Bằng Lớp: Tài chính K36
Chuyên đề tốt nghiệp
Điều kiện để có VLĐ tiết kiệm tuyệt đối là tổng mức luân chuyển vốn
kỳ kế hoạch phải không nhỏ hơn tổng mức luân chuyển vốn kỳ báo cáo và
vốn lưu động kỳ kế hoạch phải nhỏ hơn vốn lưu động kỳ báo cáo.
- Mức tiết kiệm tương đối là do tăng tốc độ luân chuyển vốn nên doanh
nghiệp có thể tăng thêm tổng mức luân chuyển vốn song không cần tăng thêm
hoặc tăng không đáng kể quy mô VLĐ. Công thức xác định số VLĐ tiết kiệm
tương đối như sau:
M
1
V
tktgđ
= x (K
1
– K
0
)
360
Trong đó:
V
tktgđ
: Vốn lưu động tiết kiệm tương đối.
VLĐ: vốn lưu động bình quân trong kỳ.
- Tỷ suất lợi nhuận vốn lưu động tính với lợi nhuận trước thuế.
Chỉ tiêu này phản ánh mức sinh lời của VLĐ chưa có sự tác động của
thuế TNDN.
Công thức tính như sau:
LN trước thuế
Tỷ suất VLĐ trước thuế = x 100%
VLĐ
- Tỷ suất lợi nhuận thuần: chỉ tiêu này phản ánh mức sinh lời của VLĐ,
một đồng vốn lưu động có thể đạt được bao nhiêu đồng lợi nhuận thuần. Chỉ
tiêu này phản ánh mức sinh lời của VLĐ đã chịu sự tác động của cả thuế
TNDN và lãi vay.
Công thức tính như sau:
19
Nguyễn Hải Bằng Lớp: Tài chính K36
Chuyên đề tốt nghiệp
LN sau thuế
Tỷ suất VLĐ sau thuế = x 100%
VLĐ
Trên đây là một số chỉ tiêu tài chính nhằm đánh giá hiệu quả tổ chức và
sử dụng VLĐ của doanh nghiệp giúp cho nhà quản lý tài chính đánh giá đúng
đắn tình hình của kỳ trước, từ đó có nhận xét và nêu ra những biện pháp nâng
cao hiệu quả tổ chức quản lý vốn cho kỳ tiếp theo.
1.2.3 Sự cần thiết nâng cao hiệu qủa sử dụng vốn lưu động
Trong doanh nghiệp thương mại vốn lưu động thường chiếm tỷ trọng rất
cao trong tổng nguồn vốn, đó là một điều kiện thuận lợi để nâng cao hiệu
quả sử dụng vốn lưu động.
Chính vì vậy cùng với việc xác định vốn, khả năng sử dụng vốn lưu
động có tầm quan trọng đặc biệt đối với doanh nghiệp thương mại. Chỉ khi
quản lý sử dụng tốt vốn kinh doanh và vốn lưu động nói riêng thì doanh
điểm của vốn lưu động là chuyển dịch toàn bộ một lần vào giá trị sản phẩm.
vốn lưu động vận động có tính chất chu kỳ. Do đó để quản lý và bảo toàn vốn
lưu động cần lưu ý một số nội dung sau:
- Xác định số vốn lưu động cần thiết tối thiểu trong kỳ kinh doanh, đảm
bảo đủ vốn lưu động để quá trình kinh doanh được tiến hành thường xuyên,
liên tục tránh tình trạng gián đoạn quá trình kinh doanh và tránh tình trạng
lãng phí vốn.
- Khai thác tốt các nguồn vốn bên trong và bên ngoài doanh nghiệp
- Có giải pháp bảo toàn và phát triển vốn lưu động có nghĩa là bảo toàn
được giá trị thực tế của đồng vốn, bảo toàn sức mua của đồng vốn không bị
giảm sút so với ban đầu khi ứng vốn ra đầu tư vào tài sản lưu động. Đảm bảo
khả năng mua sắm và khả năng thanh toán của doanh nghiệp trong quá trình
sản xuất kinh doanh.
21
Nguyễn Hải Bằng Lớp: Tài chính K36
Chuyên đề tốt nghiệp
Để thực hiện những điều trên ngoài việc sử dụng các biện pháp như:
đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm, giải phóng hàng tồn kho, thu hồi các khoản nợ
khó đòi doanh nghiệp phải thường xuyên tiến hành phân tích tình hình sử
dụng vốn lưu động thông qua các chỉ tiêu: vòng quay vốn lưu động, hiệu
suất sử dụng vốn lưu động, hệ số nợ Nhờ những chỉ tiêu này có thể điều
chỉnh các biện pháp để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động nhằm tăng
mức sinh lời.
VLĐ đóng một vai trò rất quan trọng trong hợp đồng sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp. Trong cùng một lúc, VLĐ được phân bổ trên khắp
các giai đoạn luân chuyển và biểu hiện dưới nhiều hình thái khác nhau. Để
đảm bảo cho quá trình sản xuất được tiến hành thường xuyên liên tục, đòi hỏi
doanh nghiệp phải có đủ VLĐ vào các hình thái đó, để cho hình thái đó có
được mức tồn tại tối ưu và đồng bộ với nhau nhằm tạo điều kiện cho việc
chuyển hoá hình thái của vốn trong quá trình luân chuyển được thuận lợi. Do
Trên thực tế những năm vừa qua, hiệu qủa sử dụng vốn nói chung và
VLĐ nói riêng của các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp Nhà nước
đạt thấp. Nguyên nhân chính là các doanh nghiệp chưa bắt kịp với cơ chế thị
trường nên còn nhiều bất cập trong công tác quản lý và sử dụng vốn.
Mặt khác, hiệu quả sử dụng VLĐ là chỉ tiêu chất lượng phản ánh tổng
hợp những cố gắng, những biện pháp hữu hiệu về kĩ thuật, về tổ chức sản
xuất, tổ chức thúc đẩy sản xuất phát triển. Nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐ là
đảm bảo với số vốn hiện có, bằng các biện pháp quản lý và tổng hợp nhằm
khai thác để khả năng vốn có thể mang lại nhiều lợi nhuận hơn cho doanh
nghiệp.
23
Nguyễn Hải Bằng Lớp: Tài chính K36
Chuyên đề tốt nghiệp
Lợi ích kinh doanh đòi hỏi các doanh nghiệp phải sử dụng một cách
hợp lý, hiệu quả từng đồng VLĐ nhằm làm cho VLĐ được thu hồi sau mỗi
chu kỳ sản xuất. Việc tăng tốc độ luân chuyển vốn cho phép rút ngắn thời
gian chu chuyển của vốn, qua đó, vốn được thu hồi nhanh hơn, có thể giảm
bớt được số VLĐ cần thiết mà vẫn hoàn thành được khối lượng sản phẩm
hàng hoá bằng hoặc lớn hơn trước. Nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐ còn có ý
nghĩa quan trong trong việc giảm chi phí sản xuất, chi phí lưu thông và hạ giá
thành sản phẩm.
Hơn nữa, mục tiêu hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là
thu được lợi nhuận và lợi ích xã hội chung nhưng bên cạnh đó một vấn đề
quan trọng đặt ra tối thiểu cho các doanh nghiệp là cần phải bảo toàn VLĐ.
Do đặc điểm VLĐ lưu chuyển toàn bộ một lần vào giá thành sản phẩm và
hình thái VLĐ thường xuyên biến đổi vì vậy vấn đề bảo toàn VLĐ chỉ xét
trên mặt giá trị . Bảo toàn VLĐ thực chất là đảm bảo cho số vốn cuối kỳ được
đủ mua một lượng vật tư, hàng hoá tương đương với đầu kỳ khi giá cả hàng
hoá tăng lên, thể hiện ở khả năng mua sắm vật tư cho khâu dự trữ và tài sản
lưu động định mức nói chung, duy trì khả năng thanh toán của doanh nghiệp.
* Do trình độ quản lý: trình độ quản lý của doanh nghiệp mà yếu kém
sẽ dẫn đến thất thoát vật tư hàng hoá trong quá trình mua sắm, dự trữ, sản
xuất và tiêu thụ sản phẩm, dẫn đến sử dụng lãng phí VLĐ, hiệu quả sử dụng
vốn thấp.
* Do kinh doanh thua lỗ kéo dài, do lợi dụng sơ hở của các chính sách
gây thất thoát VLĐ, điều này trực tiếp làm giảm hiệu quả sử dụng VLĐ.
1.3.2 Nhân tố khách quan
25
Nguyễn Hải Bằng Lớp: Tài chính K36