Đề tài "Định hướng và giải pháp hoàn thiện các công cụ của chính sách tiền tệ ở Việt Nam" doc - Pdf 19

Luận văn
Định hướng và giải pháp hoàn thiện các công
cụ của chính sách tiền tệ ở Việt Nam
1 1
MỤC LỤC
2 2
30DANH SÁCH TỔ 2:
1. Trần Minh Hảo (nhóm trưởng)
2 . Trần Thị Lương
3. Nguyễn Thị Dung
4 . Nguyễn Thị Thu Hường
5. Nguyễn Thị Phương
6 . Lại Thị Thơ
7 . Hoàng Thị Thảo
8 . Phạm Thanh Thảo
9 . Vũ Thị Thắm
10. Nguyễn Văn Điệp
11. Hoàng Văn Quý
3 3
LỜI MỞ ĐẦU
Chính sách tiền tệ luôn là nhu cầu để ổn định kinh tế vĩ mô với hạt
nhân là ổn định tiền tệ, tạo lập nền tảng cho sự phát triển chung. Mặt khác,
nền kinh tế thị trường bản chất là một nên kinh tế tiền tệ. Do đó việc ổn định
giá trị đồng tiền cùng với việc thiết lập nền Tài Chính Quốc Gia mạnh là cơ
sở đầu tiên cho việc kiềm chế lạm phát, và ổn định nền kinh tế.
Ngày nay việc làm và phân phối thu nhập vừa là vấn đề bức thiết trước
mắt, vừa là vấn đề lâu dài để ổn định và tăng trưởng kinh tế. Vì vậy mà việc
đẩy lùi và kiểm soát lạm phát, tạo công ăn việc làm là vấn đề thường trực.
Giải pháp cho việc đẩy lùi lạm phát, trách thất nghiệp nhiều cần tập trung vào
chính sách tiền tệ nhưng việc lựa chọn giải pháp nào để xây dựng và điều
hành chính sách tiền tệ quốc gia có hiệu quả nhất vẫn còn là một ẩn số phức

quan hệ chặt chẽ với các chính sách kinh tế vĩ mô khác như chính sách tài
khoá,chính sách thu nhập,chính sách kinh tế đối ngoại.
Đối với Ngân hàng trung ương ,việc hoạch định và thực thi chính sách
chính sách tiền tệ là hoạt động cơ bản nhất ,mọi hoạt động của nó đều nhằm
làm cho chính sách tiền tệ quốc gia được thực hiện có hiệu quả hơn.
1.2 Mục tiêu của chính sách tiền tệ :
*ổn định giá trị đồng tiền: NHTW thông qua CSTT có thể tác động đến
sự tăng hay giảm giá trị đồng tiền của nước mình.Giá trị đồng tiền ổn định
được xem xét trên 2 mặt: Sức mua đối nội của đồng tiền(chỉ số giá cả hàng
5 5
hoá và dịch vụ trong nước)và sức mua đối ngoại(tỷ giá của đồng tiền nước
mình so với ngoại tệ).Tuy vậy ,CSTT hướng tới ổn định giá trị đồng tiền
không có nghĩa là tỷ lệ lạm phát bằng 0 vì như vậy nền kinh tế không thể phát
triển được,để có một tỷ lệ lạm phát giảm phải chấp nhận một tỷ lệ thất nghiệp
tăng lên.
*Tăng công ăn việc làm: CSTT mở rộng hay thu hẹp có ảnh hưởng
trực tiếp tới việc sử dụng có hiệu qủa các nguồn lực xã hội,quy mô sản xuất
kinh doanh và từ đó ảnh hưởng tới tỷ lệ thất nghiệp của nền kinh tế .Để có
một tỷ lệ thất nghịêp giảm thì phải chấp nhận một tỷ lệ lạm phát tăng lên.
*Tăng trưởng kinh tế :Tăng trưởng kinh tế luôn là mục tiêu của mọi
chính phủ trong việc hoạch định các chính sách kinh tế vĩ mô của mình, để
giữ cho nhịp độ tăng trưởng đó ổn định, đặc biệt việc ổn định giá trị đồng bản
tệ là rất quan trọng ,nó thể hiện lòng tin của dân chúng đối với Chính phủ
.Mục tiêu này chỉ đạt được khi kết quả hai mục tiêu trên đạt được một cách
hài hoà.
Mối quan hệ giữa các mục tiêu :Có mối quan hệ chặt chẽ,hỗ trợ nhau,
không tách rời. Nhưng xem xét trong thời gian ngắn hạn thì các mục tiêu này
có thể mâu thuẫn với nhau thậm chí triệt tiêu lẫn nhau.Vậy để đạt được các
mục tiêu trên một cách hài hoà thì NHTW trong khi thực hiện CSTT cần phải
có sự phối hợp với các chính sách kinh tế vĩ mô khác.

NHTW chủ động trong việc điều chỉnh lượng tiền cung ứng và tác động của
nó cũng rất mạnh (chỉ cần thay đổi một lượng nhỏ tỷ lệ dự trữ bắt buộc là ảnh
hưởng tới một lượng rất lớn mức cung tiền). Song tính linh hoạt của nó không
cao vì việc tổ chức thực hiện nó rất chậm ,phức tạp, tốn kém và nó có thể ảnh
hưởng không tốt tới hoạt động kinh doanh của các NHTM.
1.3.3 Chính sách tái chiết khấu:
7 7
Khái niệm : Đây là hoạt động mà NHTW thực hiện cho vay ngắn hạn
đối với các NHTM thông qua nghiệp vụ tái chiết khấu bằng việc đIều chỉnh
lãI suất táI chiết khấu (đối với thương phiếu) và hạn mức cho vay táI chiết
khấu(cửa sổ chiết khấu)
Cơ chế tác động:Khi NHTW tăng (giảm ) lãi suất tái chiết khấu sẽ hạn
chế (khuyến khích) việc các NHTM vay tiền tại NHTW làm cho khả năng cho
vay của các NHTM giảm (tăng) từ đó làm cho mức cung tiền trong nền kinh
tế giảm (tăng).Mặt khác khi NHTW muốn hạn chế NHTM vay chiết khấu của
mình thì thực hiện việc khép cửa sổ chiết khấu lại.
Ngoài ra, ở các nước có thị trường chưa phát triển (thương phiếu chưa phổ biến để
có thể làm công cụ táI chiết khấu) thì NHTW còn thực hiện nghiệp vụ này thông qua việc
cho vay táI cấp vốn ngắn hạn đối với các NHTM.
Đặc điểm:Chính sách tái chiết khấu giúp NHTW thực hiện vai trò là
người cho vay cuối cùng đối với các NHTM khi các NHTM gặp khó khăn
trong thanh toán ,và có thế kiểm soát đựoc hoạt động tín dụng của các NHTM
đồng thời có thể tác động tới việc đIều chỉnh cơ cấu đầu tư đối với nền kinh tế
thông qua việc ưu đãi tín dụng vào các lĩnh vực cụ thể.Tuy vậy ,hiệu qủa của
cộng cụ này còn phụ thuộc vào hoạt động cho vay của các NHTM, mặt khác
mức lãi suất tái chiết khấu có thể làm méo mó ,sai lệch thông tin về cung cầu
vốn trên thị trường.
Trên đây là 3 công cụ tác động gián tiếp tới qui mô lượng tiền cung
ứng,trong một nền kinh tế nếu NHTW sử dụng có hiệu quả cấc công cụ này
thì sẽ không cần đến bất cứ một công cụ nào khác .Tuy vậy trong những điều

chúng ta chỉ quan niệm lượng tiền cung ứng cho nền kinh tế chỉ bao gồm tiền
mặt và mức cung là bao nhiêu, ở thời kỳ nào là do chính phủ phê duyệt thì
ngày nay việc quan niệm về lượng tiền cung ứng để thay đổi bên cạnh lượng
tiền mặt (C) còn tính đến khả năng tạo tiền của các NHTM, tổ chức tín dụng
khác (D). Bên cạnh đó lượng tiền cung ứng hàng năm phải dựa trên cơ sở: tỉ
lệ lạm phát ước tính, tốc độ tăng trưởng kinh tế theo kế hoạch, vòng quay tiền
tệ
Việc sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ: Được sử dụng một cách
linh hoạt, phù hợp với điều kiện Việt Nam ở các thời điểm cụ thể chứ không
đông cứng, đóng băng như thời kì bao cấp (lãi mất cố định nhiều năm )
Cơ chế điều hành: Năm 1988, Hệ thống NH đã được phân thành 2 cấp
NHNN và các NHTM, trong đó NHNN là cơ quan quản lý Nhà nước trên
lĩnh vực tiền tệ- tín dụng- ngân hàng; trực thuộc chính phủ. Thống đốc NHNN
có quyền chủ động hơn và chịu trách nhiệm trực tiếp trong việc thực hiện
chính sách tiền tệ quốc gia.
2.2 Việc sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ những năm qua.
2.2.1. Công cụ lãi suất:
10 10
ở Việt Nam, lãi suất được sử dụng như công cụ chính của chính sách
tiền tệ, nó là yếu tố đánh dấu sự chuyển biến từ cơ chế kinh tế kế hoạch hoá
tập trung sang cơ chế thị trường, nó còn là công cụ quan trọng để chuyển các
Ngân hàng sang cơ chế tự hạch toán kinh doanh.
Trong năm 1997, với mục tiêu góp phần tăng trưởng kinh tế và phù hợp
xu hướng giảm lãi suất, việc quy định trần lãi suất cho vay giảm mạnh,
T7/1997 lãi suất cho vay ngắn hạn giảm từ 1,2% tháng xuống 1% tháng, lãi
suất cho vay trung dài hạn giảm từ 1,35% tháng xuống 1,1% tháng ,chênh
lệch lãi suất huy động và cho vay bình quân quy định là 0,35% tháng(4,2%
năm)
Tuy nhiên từ quý IV năm 1997, do chịu ảnh hưởng của cuộc khủng
hoảng tài chính tiền tệ trong khu vực, đồng USD có xu hướng lên giá và lãi

phù hợp với chỉ số lạm phát, quan hệ cung cầu về vốn trên thị trường tiền tệ
và thực hiện giải pháp kích cầu về đầu tư của chính phủ , NHNN đã 5 lần điều
chỉnh trần lãi suất cho vay bằng VND theo xu hướng giảm: Từ 1,2% tháng
(ngắn hạn) và (1,25%tháng -trung dài hạn) xuống mức thấp nhất là 0,85%
tháng (thành thị); 1% tháng (nông thôn); 1,15% tháng (NHTMCP nông thôn-
Quỹ TDND cơ sở ); 0,7% (NH phục vụ người nghèo). Trần lãi suất cho vay
bằng USD là 7,5% năm.
Sự điều chỉnh lãi suất trên là quyết định hết sức kịp thời và phù hợp với
diễn biến của nền kinh tế, kích thích tăng trưởng kinh tế trong bối cảnh nguy
cơ giảm phát đang là chậm lại tốc độ tăng trưởng.
Năm 2000, lãi suất trong nước có những diễn biến khá phức tạp .Thực
hiện chủ trương kích cầu của chính phủ, lãi suất cho vay bằng VND vẫn tiếp
tục được điều chỉnh theo xu hướng giảm: lãi suất cho vay phổ biến gỉam từ
0,75% tháng xuống 0,70% tháng. Trong khi đó lãi suất ngoại tệ lại chịu tác
12 12
động của thị trường tài chính quốc tế, trong năm 2000, lãi suất thị trường
quốc tế liên tục tăng buộc lãi suất ngoại tệ trong nước cũng phải tăng theo (từ
3,5% năm lên 4,5% năm ), nhiều khi lãi suất VND thấp hơn lãi suất USD.
Ngày 2/8/2000, NHNN đã quyết định thay đổi cơ chế điều hành lãi suất:
chuyển từ cơ chế điều hành trần lãi suất sang cơ chế điều hành theo lãi suất cơ
bản đối với cho vay bằng VND và cơ chế lãi suất thị trường có quản lý đối
với cho vay bằng ngoại tệ: Đối với cho vay VND, lãi suất cho vay không vượt
quá lãi suất cơ bản được công bố hàng tháng. Hiện nay, lãi suất cơ bản là
0,75% tháng, biên độ cho vay ngắn hạn là 0,3% tháng, biên độ cho vay trung
và dài hạn là 0,5% tháng. Đối với lãi suất cho vay USD, lãi suất cho vay
không vượt quá lãi suất USD trên thị trường liên NH Singapore (SiBOR) kì
hạn 3 tháng đôí với cho vay ngắn hạn, kì hạn 6 tháng đối với cho vay trung
dài hạn tại thời điểm cho vay cộng biên độ do thống đốc NHNN quy định
(Hiện nay biên độ cho vay ngắn hạn là 1% năm , biên độ cho vay trung dài
hạn là 2,5% năm ). Còn đối với các ngoại tệ khác do chiếm tỷ trọng nhỏ trong

Như vậy, chính sách lãi suất linh hoạt và phù hợp cùng với việc ổn định
tỷ giá VND/USD trong những năm qua không những góp phần quan trọng
trong quá trình ổn định kinh tế vĩ mô mà còn làm tăng tính hấp dẫn của đồng
tiền Việt Nam và lòng tin của dẫn chúng vào hệ thống ngân hàng, giảm dần
tình trạng sử dụng hay cất trữ USD, từng bước đẩy lùi tình trạng “đô la hoá” ở
Việt Nam.
Điều đó chứng tỏ rằng: Trong điều kiện nền kinh tế thị trường phát triển
chưa cao, việc sử dụng lãi suất làm công cụ điều hành chính sách tiền tệ của
NHNN Việt Nam là hoàn toàn cần thiết và đúng đắn.
2.2.2 Công cụ Hạn mức tín dụng:
Đây là công cụ được coi là cần thiết ở Việt Nam trong những năm đầu
của thời kì đổi mới hiệu quả của nó đã thể hiện rõ rệt trong việc chống lạm
phát: Những năm 1990-1991do lạm phát còn ở tỉ lệ cao (67,6% tháng ). Để
khống chế lạm phát, NHNN chủ trương thi hành CSTT “thắt chặt” ngay từ
14 14
đầu năm để giảm bớt lượng tiền cung ứng. Dựa trên một số chỉ tiêu vĩ mô dự
kiến năm 1992 là: Tăng trưởng kinh tế (4,5%); chỉ số lạm phát (30%/ năm),
NHNN đưa ra hạn mức tín dụng đối với tất cả hệ thống NHTM là 34,5%
(mức tăng so với năm trước) . Bằng nhiều biện pháp kết hợp, năm đó chúng ta
đã đạt được kết quả thực tế rất khả quan: mức tăng trưởng kinh tế tăng gấp 2
lần so với dự kiến (8,65%), mức lạm phát thấp hơn dự kiến rất nhiều (17,6%),
tiền tệ đi dần vào ổn định.
Ở thời kỳ đầu, công cụ hạn mức TD chỉ áp dụng cho 4 NHTMQD( NH
Ngoại thương, NH Công thương, NH Nông nghiệp, NH đầu tư phát triển)
nhưng sau vài năm đổi mới, do quy mô mở rộng tín dụng của các NHTM quá
nhanh, số lượng các NHTM ngày càng nhiều nên NHNN quyết định áp dụng
hạn mức tín dụng cho hầu hết các NHTM. Tính đến cuối năm 1997 có 26
NHTM trong nước phải áp dụng hạn mức tín dụng còn các NH nước ngoài và
NH liên doanh tuy chiếm thị phần tín dụng đáng kể (10-15% thị phần tín dụng
trong nước) nhưng vẫn chưa phải áp dụng hạn mức tín dụng.

15 15
Hiện tượng trên xuất phát từ hai nguyên nhân cơ bản sau:
Thứ nhất, trong giai đoạn nay tốc độ huy động vốn nhàn rỗi bình quân
hàng năm của các NHTM tăng nhanh (khoảng 26% đến 37% năm) vì vậy các
NHTM tất yếu phải thực hiện đầu tư tăng trưởng tín dụng đối với nền kinh tế
vì con đường để đầu tư qua thị trường tiền tệ, thị trường vốn là khó khăn
trong điều kiện nước ta lúc bấy giờ.
Thứ hai, Do diễn biến lãi suất đang có xu hướng giảm trần lãi suất cho
vay trong khi đó để huy động nguồn vốn nhàn rỗi các NHTM phải tăng lãi
suất huy động (do tâm lý người dân không muốn gửi), điều đó làm cho chênh
lệch giữa lãi suất cho vay với lãi suất huy động giao động ở mức 0,15% -
0,25% tháng, thấp hơn so với trước đây 0,3%-0,45% tháng. Với chênh lệch
như vậy để đảm bảo hoạt động kinh doanh đủ bù đắp chi phí hoạt động thì
buộc các NHTM phải tăng dư nợ đối với nền kinh tế.
Hiện tượng trên cũng góp phần giải thích tại sao trong những năm 1995-
1997 mặc dù lạm phát được kiểm chế ở mức thấp (bình quân 6,9% năm)
nhưng nền kinh tế vẫn đạt tốc độ tăng trưởng cao 9,28% năm.
Tuy nhiên, từ năm 1998 đến nay, công cụ hạn mức tín dụng đã mất dần
vai trò của nó trong việc hạn chế sự gia tăng của tổng phương tiện thanh toán
vì lạm phát có xu hướng giảm và thấp dần ; mặt khác nhu cầu vốn của nền
kinh tế ngày càng tăng và cần phải mở rộng tín dụng để thực hiện mục tiêu
tăng trưởng kinh tế. Do đó từ quý II/1998, NHNN đã không áp dụng công cụ
này như một công cụ thường xuyên để điều hành chính sách tiền tệ (mặc dù
có thể coi nó như một giải phóng tình thế khi cần thiết).
Công cụ này sẽ được xoá bỏ hoàn toàn khi thị trường tiền tệ ổn định , thị
trường vốn phát triển và thị trường mở đi vào hoạt động có hiệu quả.
2.2.3 Công cụ Dự trữ bắt buộc
16 16
Đây là công cụ gián tiếp điều chỉnh mức cung tiễn được sử dụng sớm
nhất ở Việt Nam (từ 1991), theo pháp lệnh Ngân hàng (1990), tỷ lệ DTBB có

vốn của NHNN (VND), từ đó khuyến khích các NHTM thực hiện đúng quy
chế DTBB.
Để luật NHNN có hiệu lực (từ 1/10/1998) ,từ cuối 1998 và trong năm
1999, quy chế DTBB có những thay đổi đáng kể: Đối tượng áp dụng được
mở rộng thêm (quỹ TDND, NH hợp tác);số tiền DTBB phải gửi tại NHNN để
thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia thay cho quy định về cơ cấu tiền DTBB
trước đây: 70% gửi tại NHNN và 30% tiền mặt, ngân phiếu còn thời hạn
thanh toán; việc trả lãi tiền DTBB do chính phủ quy định.
Để tạo đà khôi phục, phát triển kinh tế trong năm 1999 tỉ lệ DTBB được
điều chỉnh nhiều lần theo xu hướng giảm nhằm nới lỏng tiền tệ, kích thích
đầu tư, tiêu dùng.
Biểu 3: Tỷ lệ DTBB đối với các TCTD năm 1999
TCTD
Tỉ lệ DTBB (%)
1/1/99 1/3/99 1/6/99 1/7/99 1/10/99
1. NHTMQD, NHTM của đô thị,
chi nhánh NH nước ngoài, NH
liên doanh & Công ty TC
10 7 6 5 5
- NH nông nghiệp và PTNT 10 7 6 5 3
2. NHTMCP nông thôn, NH hợp
tác, Quỹ TDNDTW, khu vực.
0 5 4 1 1
3. TCTD có số dư tiền gửi phải
tính DTBB dưới 500
trđ
quỹ
TDND cơ sở, HTX tín dụng, NH
phục vụ người nghèo.
0 0 0 0 0

đã ngưng tái cấp vốn cho các NHTM nhằm đẩy mạnh công tác thu hồi nợ và
giảm cho vay tín dụng của các NHTM. Nhờ đó, đến cuối 1995 dư nợ cho vay
chiết khấu của NHNN đã giảm xuống 13% so với 1994. Năm 1996 ,để giải
quyết tình trạng khó khăn trong thanh toán của các NHTM, NH đã thực hiện
việc cho vay ngắn hạn đối với các NHTM trong trường hợp tạm thời thiếu
khả năng thanh toán (qua các phiên thanh toán bù trừ trên từng địa bàn).
Nhưng áp dụng lãĩ suất tái chiết khấu ở mức tối đa. Điều này một mặt bảo
đảm được sự ổn định của hệ thống ngân hàng, mặt khác hạn chế được khả
năng cung ứng vượt qúa về tín dụng của các NHTM đồng thời khuyến khích
việc huy động vốn của các NHTM, cũng hạn chế bớt việc các NHTM vay tiền
của NHNN, vì vậy cuối năm 1996, dư nợ cho vay tái chiết khấu chỉ tăng
3,5% so với 1995.
Trong năm 1997 NHNN đã sử dụng phương thức tái cấp vốn có thế chấp
(bằng chứng từ, tiền gửi ngoại tệ tại NHNN) nhằm bù đắp khó khăn tạm thời
trong thanh toán cho các NHTM. Lãi suất tái cấp vốn được điều chỉnh từ quy
định 100% lãi suất cho vay của các NHTM đối với nền kinh tế sang quy định
mức lãi suất cụ thể (từ tháng 3-tháng 7năm 1997). Mức lãi suất tái cấp vốn
quy định là 1,1% tháng, từ T8/1997là 0,9% ). Do trong năm 1997 các NHTM
đã tích cực hơn trong việc trả nợ NHNN và khả năng huy động vốn tăng nên
đến cuối 1997, dư nợ tái cấp vốn của NHNN giảm 11,9% so với 1996.
Năm 1998, để thực hiện chính sách tiền tệ “thắt chặt” nhằm hạn chế sự
gia tăng lạm phát do ảnh hưởng cuả cuộc khủng hoảng tài chính khu vực,
NHNN đã tăng lãi suất tái chiết khấu từ 1%

tháng 1,1% tháng (thấp hơn tiền
lãi suất cho vay ngắn hạn là 0,1% tháng.
Năm 1999, với mục tiêu khuyến khích tăng trưởng kinh tế, khắc phục
nguy cơ giảm phát NHNN đã 4 lần điều chỉnh giảm lãi suất cho vay tái cấp
vốn từ mức 1,1% tháng đầu năm xuất 0,5% tháng đồng thời quy chế về
nghiệp vụ chất khấu, tái chiết khấu đã được ban hành để phát triển một bước

Tín phiếu kho bạc Nhà nước (KBNN): từ năm 1996 đến hết năm 1998
NHNN đã phối hợp với KBNN tổ chức đấu thầu tín phiếu và trái phiếu kho
bạc. Năm 1996, KBNN đã phát hành gần 100 tỷ đồng tín phiếu qua NHNN,
sau đó chủ yếu là phát hành trái phiếu kho bạc (thời hạn một năm). Tổng
mệnh giá trúng thầu năm 1997 là 2917,5 tỷ VND (37 đợt ); năm 1998 là
4020,7 tỷ VND (46 đợt),năm 1999 là 3011.6 tỉ VND(46 đợt) , năm 2000 là
4441.0 tỉ VND (43 đợt). Các đối tượng trúng thầu chủ yếu là các NHTM
Quốc doanh, các NHTM cổ phần và các Công ty Bảo hiểm. Song nếu theo
quy định của luật NHNN thì các trái phiếu này không thể sử dụng làm công
cho thị trường mở được.
Tín phiếu NHNN: Do NHNN Việt Nam phát hành từ năm 1995, tính đến
thời điểm tháng 7/1999 NHNN đã tổ chức được 6 đợt phát hành tín phiếu
NHNN. Các đợt này đều được tổ chức vào các thời điểm khi mà tổng phương
tiện thanh toán và lạm phát có xu hướng gia tăng nhằm rút bớt tiền trong lưu
thông. Tổng mệnh giá đã phát hành của cả 6 đợt là 3.400 tỉ VND; phần lớn
các tín phiếu này đều có thời hạn 3 tháng.
Cho đến ngày 12/7/2000, NHNN chính thức khai trương đưa nghiệp vụ
thị trường mở vào hoạt động theo phương hướng sử dụng nó như là một công
cụ điều tiết tiền tệ linh hoạt và có hiệu quả của NHNN.
Trong năm 2000, NHNN đã thực hiện được 17 phiên giao dịch thị
trường mở, trong đó có 14 phiên mua được 1353,50 tỷ đồng đạt 71,24% khối
lượng chào mua với lãi suất trong khoảng 4,20%- 5,58% năm và 3 phiên bán
được 550 tỷ đồng đạt 100% khối lượng chào bán với lãi suất trong khoảng
4,0%- 4,6% năm. Đến 31/12/2000 ; NHNN đã bơm 405 tỷ đồng qua thị
trường mở sau khi loại trừ các khoản mua, bán đã đến hạn thanh toán.
Từ 1/1/2001- 7/2/ 2001, NHNN đã thực hiện được 3 phiên giao dịch mua
được 160 tỉ đồng chỉ đạt 50% khối lượng chào mua với mức lãi suất 3,5-4,6
%năm. Đã có 18 tổ chức tín dụng đăng kí là thành viên của thị trường (tuy
22 22
vậy mỗi phiên giao dịch chỉ có thường xuyên từ 1 đến 3 thành viên tham

Biểu 5: Tốc độ tăng trưởng xuất nhập khẩu của Việt Nam
Năm
Chỉ tiêu
1996 1997 1998 1999
- Xuất khẩu (%) 38 24 4 23,3
=11.540 tr USD
- Nhập khẩu (%) 54 -7 11 _
* Góp phần tăng trưởng kinh tế:Việc ổn định giá trị VND đã tạo lòng
tin của nhân dân vào đồng bản tệ, tạo môi trường đầu tư lành mạnh, thu hút
được nguồn vốn đáng kể từ trong và ngoài nước. Đặc biệt việc điều chỉnh các
công cụ CSTT: lãi suất, tỉ lệ dự trữ bắt buộc của NHNN ở các giai đoạn cụ
thể đã có vai trò quan trọng ảnh hưởng tới việc huy động và phân bổ nguồn
vốn có hiệu quả trong nền kinh tế của các TCTD. Cũng từ đó mà góp phần
thúc đẩy tăng trưởng kinh tế liên tục qua các năm.
Biểu 6:Tình hình tăng trưởng kinh tế (GDP) của Việt Nam
Năm
Chỉ tiêu
96 97 98 99 2000
6 DP (tỉ VND) giá so
sánh 1981-1994
213.833 231.264 244.676 256.269 273.439
Tăng trưởng 6DP(%) 9,3 8,8 5,8 4,8 6,7
Từ các kết quả trên cho thấy, việc sử dụng các công cụ điều tiết của
CSTT ở Việt Nam đã góp phần đạt được hai mục đích thường mâu thuẫn nhau
đó là: Vừa đẩy lùi lạm phát vừa tăng trưởng kinh tế. Có được kết qủa này còn
phải kể đến vai trò của nhiều CSKT vĩ mô khác nữa và đặc thù của nền kinh
24 24
tế Việt Nam đó là chúng ta chưa đạt được mức năng suất biên của sản lượng
tiềm năng trong nền kinh tế.
* Ngoài ra, việc sử dụng các công cụ của CSTT cũng góp phần gián tiếp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status