Luận văn tốt nghiệp: Phân bổ chi tiêu để tiết kiệm giá thành sản xuất hợp lý pot - Pdf 19

Lời mở đầu
1.ý nghĩa và tính cấp thiết của đề tài cần nghiên cứu.
Kể từ năm 1986 cho đến nay, nền kinh tế Việt Nam đã bớc sang một hớng
mới, đó là chuyển từ nền kinh tế với cơ chế quản lý tập trung sang nền kinh tế thị
trờng. Trong bối cảnh nh vậy các doanh nghiệp sản xuất đang đứng trớc những
thử thách gay gắt của quy luật cạnh tranh. Do vậy trong điều kiện hiện nay, muốn
tồn tại và phát triển đợc trong sự khắc nghiệt của nền kinh tế thì doanh nghiệp
phải nắm bắt đợc thị trờng, tạo chỗ đứng cho sản phẩm của mình trên thị trờng.
Để đạt đợc mục đích tiêu đó, các doanh nghiệp cần phải có một hệ thống
quản lý tài chính cung cấp thông tin chính xác để ra quyết định đứng đắn trong quá
trình hoạt động kinh doanh của mình. Trong đó, hạch toán kế toán là một bộ phận
chức năng, một công cụ có tầm quan trọng với vai trò Thực hiện kiểm tra và xử lý
thông tin cung cấp cho lãnh đạo và các cơ quan quản lý kinh doanh phục vụ cho
công tác quản lý. Hạch toán kế toán nh một phần thông tin kinh tế quan trọng
trong cấu thành hệ thống thông tin kinh tế của đơn vị.
Và để có thể tạo chỗ đứng cho sản phẩm và cạnh tranh đợc với các doanh
nghiệp trên thị trờng thì doanh nghiệp phải quan tâm đến các khâu của quá trình
sản xuất kinh doanh, đặc biệt là chất lợng sản phẩm v.v Không những thế doanh
nghiệp còn phải tổ chức tốt hạch toán chi phí sản phẩm và tính giá sản phẩm nhằm
đánh giá đợc mọi khía cạnh và chi tiết của mọi nhân tố ảnh hởng đến chi phí sản
xuất và giá thành sản phẩm, từ đó tìm ra nguyên nhân và có những biện pháp thích
hợp phát huy các yếu tố tích cực, hạn chế các yếu tố tiêu cực để tiết kiệm chi phí
sản xuất nhằm hạ giá thành sản phẩm một cách có hiệu quả. Có nh vậy doanh
nghiệp mới đạt chỉ tiêu lợi nhuận và có thể mở rộng sản xuất để có thể tăng sức
cạnh tranh trong nền kinh tế thị trờng .
Trong công tác quản trị doanh nghiệp, kế toán đợc coi là một công cụ quan
trọng nhất phục vụ đắc lực cho các nhà quản trị doanh nghiệp, trong đó công tính
giá thành sản phẩm là một phần kế toán quan trọng đối với tất cả các doanh nghiệp
sản xuất bởi thông qua khâu này, doanh nghiệp xác định đợc hao phí bỏ ra trong
quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp tốt hay xấu.


à
i
i
:
:T
T
í
í
n
n
h
hG
G
i
i
á
áT
T
h
h
à

aS
S


n
nP
P
h
h


m
mS
S


n
nX

n
n
g
gv
v


n

đ

ềl
l
í
íl
l
u
u

n
n
h
hg
g
i
i
á
át
t
h
h
à
à
n
n
h
hs
s



c
cd
d
o
o
a
a
n
n
h
hn
n
g
g
h
h
i
i


p
p
doanh nghiệp.
1.3 Nhiệm vụ của kế toán tính giá thành sản phẩm.
Xác định đối tợng tính giá thành phù hợp với đặc điểm tổ chức sản
xuất , kinh doanh và qui trình công nghệ sản xuất ở doanh nghiệp để tổ chức tính
giá thành sản phẩm.
Lựa chọn phơng pháp tính giá thành phù hợp để tính giá.
Thông qua ghi chép kế toán mà kiểm tra tiến độ thực hiện kế hoạch sản
xuất, kiểm tra việc tuân thủ các định mức tiêu hao nguyên vật liệu, kiểm tra việc sử
dụng các nguồn lực trong quá trình sản xuất kinh doanh.
Lập báo cáo về giá thành sản xuất của sản phẩm, lao vụ sản xuất đợc
trong kì nhằm cung cấp thông tin phục vụ cho việc điều hành, quản lý hoạt động
SX của doanh nghiệp. I
I
I
IG
G
i
i

m
m
.
. 2.1. Bản chất và nội dung kinh tế của giá thành sản phẩm.
Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các khoản hao phí về
lao động sống và lao động vật hoá có liên quan đến khối lợng công tác,sản phẩm ,
lao vụ đã hoàn thành.
Giá thành sản phẩm là một phạm trù của sản xuất hàng hoá, phản ánh lợng
giá trị của những hao phí lao động sống và lao động vật hoá đã thực sự chi cho sản
xuất và tiêu thụ sản phẩm. Trong giá thành sản phẩm chỉ bao gồm những chi phí
tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào quá trinh sản xuất, tiêu thụ phải đợc bồi hoàn
để tái sản xuất ở doanh nghiệp mà không bao gồm những chi phí phát sinh trong kỳ
kinh doanh của doanh nghiệp. Những chi phí đa vào giá thành sản phẩm phải phản
ánh đợc giá trị thực tế của các t liệu sản xuất tiêu dùng cho sản xuất, tiêu thụ và
các khoản chi tiêu khác có liên quan tới việc bù đắp giản đơn hao phí lao động
sống. Mọi cách tính toán chủ quan, không phản ánh đúng các yếu tố giá trị trong
giá thành đều có thể dẫn đến việc phá vỡ các quan hệ hàng hoá- tiền tệ , không xác
định đợc hiệu quả kinh doanh và không thực hiện đợc tái sản xuất giản đơn và tái
sản xuất mở rộng.
2.2. Phân loại giá thành.
Trong nền kinh tế thị trờng, giá thành sản xuất là một phạm trù kinh tế, phản
ánh mức hao phí lao động sản xuất ra sản phẩm hoặc hoàn thành sản phẩm dịch vụ.
Hạ thấp chi phí sản xuất là điều kiện quan trọng để hạ giá thành sản phẩm. Xét về
bản chất, giá thành sản xuất là lợng hao phí lao động kết tinh trong sản phẩm hoặc
dịch vụ hoàn thành đợc bằng tiền.
Giá thành vừa mang tính khách quan vừa mang tính chủ quan. Tính khách
quan của giá thành sản phẩm dịch vụ thể hiện ở chỗ nó là sự dịch chuyển giá trị

( thờng là ngày đầu tháng) nên giá thành định mức luôn thay đổi phù hợp với sự
thay đổi của các định mức chi phí đạt đợc trong quá trình thực hiện kế hoạch giá
thành.
Giá thành thực tế : giá thành thực tế là chỉ tiêu xác định sau khi kết thúc quá
trình sản xuất sản phẩm dựa trên cơ sở các chi phí thực tế phát sinh trong quá trình
sản xuất sản phẩm.
Cách phân loại này có tác dụng trong việc quản lý và giám sát chi phí , xác định
đợc các nguyên nhân vợt ( hụt ) định mức chi phí trong kỳ hạch toán. Từ đó ,
điều chỉnh kế hoạch hoặc hoạch định mức chi phí cho phù hợp.
2.2.2.Phân theo phạm vi phát sinh chi phí.
Theo phạm vi phát sinh chi phí, chỉ tiêu giá thành đợc chia thành giá thành sản
xuất và giá thành tiêu thụ.
Giá thành sản xuất ( còn gọi là giá thành công xởng): là chỉ tiêu phản ánh
tất cả những chi phí phát sinh liên quan đến việc sản xuất , chế tạo sản phẩm trong
phạm vi phân xởng sản xuất .
Giá thành tiêu thụ (hay còn gọi là giá thành toàn bộ hay giá thành đầy đủ ):
là chỉ tiêu phản ánh toàn bộ các khoản chi phí phát sinh liên quan đến việc sản
xuất, tiêu thụ sản phẩm. Giá thành tiêu thụ đợc tính theo công thức sau:

Giá thành Giá thành Chi phí Chi phí
toàn bộ = sản xuất + quản lý + bán hàng
của SP của SP DN

Cách phân loại này có tác dụng giúp cho nhà quản lý biết đợc kết quả kinh
doanh ( lãi, lỗ) của từng mặt hàng, từng loại dịch vụ mà doanh nghiệp kinh doanh.
Tuy nhiên, do những hạn chế nhất định khi lựa chọn tiêu thức phân bổ chi phí bán
hàng và chi phí quản lý cho từng mặt hàng, từng loại dịch vụ nên cách phân loại
này chỉ còn mang tính học thuật, nghiên cứu.

I

v
à
àp
p
h
h


ơ
ơ
n
n
g
gp
p
h
h
á
á
p
pt

s


n
np
p
h
h


m
m.
3.1. Xác định đối tợng tính giá thành sản phẩm.
Do có sự khác nhau cơ bản về giới hạn tập hợp chi phí trong hạch toán chi
phí sản xuất và sản phẩm hoàn thành cần phải tính giá thành một đơn vị , việc hạch
toán quá trình sản xuất có thể phân thành 2 giai đoạn là giai đoạn xác định đối t-
ợng tập hợp chi phí và xác định đối tợng tính giá thành sản phẩm. Về thực chất
xác định đối tợng tính giá thành chính là việc xác định thành phẩm , bán thành
phẩm, công việc lao vụ nhất định đòi hỏi phải tính giá thành một đơn vị. Đối tợng
đó có thể là sản phẩm cuối cùng của quá trình sản xuất hay đang trên dây chuyền
sản xuất tuỳ theo yêu cầu của hạch toán kinh tế nội bộ và tiêu thụ sản phẩm.
Để phân biệt đợc đối tợng hạch toán chi phí sản xuất và đối tợng tính giá
thành ngay cả khi chúng đồng nhất là một, cần dựa vào đặc điểm qui trình công
nghệ sản xuất( giản đơn hay phức tạp) , vào loại hình sản xuất( đơn chiếc , hàng
loạt), vào yêu cầu và trình độ quản lý, tổ chức kinh doanh( cao hay thấp) v.v
3.2. Xác định phơng pháp tính giá thành sản phẩm.
Do có sự khác nhau cơ bản giữa đối tợng hạch toán chi phí sản xuất và đối tợng

các loại sản phẩm đã tập hợp để tính giá thành sản phẩm gốc và giá thành từng loại
sản phẩm:

Giá thành đơn vị Tổng giá thành của tất cả các loại sản phẩm
sản phẩm gốc Tổng số sản phẩm gốc( kể cả qui đổi)
= Giá thành đơn vị = Giá thành đơn vị * Hệ số qui đổi
sản phẩm từng loại sản phẩm gốc sản phẩm từng loại

Tổng giá thành Giá trị SP Tổng chi phí Giá trị
sản xuất của các = dở dang + SX phát - sản phẩm DD
loại sản phẩm đầu kỳ sinh trong kì cuối kì

Phơng pháp tỷ lệ : Trong các doanh nghiệp sản xuất nhiều loại sản phẩm có
quy cách , phẩm chất khác nhau nh : may mặc, dệt kim, đóng giầy, cơ khí chế tạo(
dụng cụ , phụ tùng) v.v để giảm bớt khối lợng hạch toán, kế toán thờng tiến
hành tập hợp chi phí sản xuất theo nhóm sản phẩm cùng loại. Căn cứ vào tỷ lệ giữa
chi phí sản xuất thực tế với chi phí sản xuất kế hoạch( hoặc định mức), kế toán sẽ
tính ra giá thành đơn vị và tổng giá thành sản phẩm cùng loại.
Giá thành thực tế đơn = Giá thành kế hoạch (hoặc định mức) * tỷ lệ chi
vị sản phẩm từng loại đơn vị sản phẩm từng loại phí

Tỷ lệ Tổng giá thành thực tế của các loại sản phẩm
chi phí x 100
Tổng giá thành kế hoạch của các loại sản phẩm

Phhơng pháp loại trừ giá trị sản phẩm phụ: Đối với các doanh nghiệp mà
trong cùng một quá trình sản xuất, bên cạnh các sản phẩm chính thu đợc còn có thể

quặng , hải sản; các doanh nghiệp sản xuất động lực ( điện, nớc, hơi nớc, khí
nén , khí đốt) Do số lợng mặt hàng ít nên đối tợng hạch toán chi phí sản xuất đ-
ợc tiến hành theo sản phẩm, mỗi mặt hành sản xuất đợc mở một sổ (hoặc thẻ)
hạch toán chi phí sản xuất. Công việc tính giá thành thờng đợc tiến hành vào
cuối tháng theo phơng pháp trực tiếp (giản đơn) hoặc phơng pháp liên hợp.

Phiếu tính giá thành sản phẩm
Tên sản phẩm. Tháng nămĐơn vị : Khoản mục chi phí
CPSXD
D ĐK
CPSX
PSTK
CPSX
ĐCK
Tổng
giá thành

Giá
thành
đơn vị
1. Ng. vật liệu trực tiếp
2. Nhân công trực tiếp
3. Sản xuất chung
Cộng

3.3.2. Doanh nghiệp sản xuất theo đơn đặt hàng.
Đối với các doanh nghiệp sản xuất theo đơn đặt hàng của khách hàng, đối t-

Hoạt động SX kinh doanh phụ là hoạt động SX kinh doanh mà D N tiến hành
thêm ngoài nhiệm vụ SX kinh doanh chính đợc giao hoặc đã đăng ký SX kinh
doanh khi thành lập DN. Hoạt động kinh doanh phụ cũng tạo ra sản phẩm , lao vụ
để tiêu thụ. Hoạt động kinh doanh phụ cũng có quá trình kinh doanh nh SX kinh
doanh chính nên kế toán kinh doanh phụ cũng tiến hành trình tự kế toán tập hợp chi
phí sản xuất và tính giá thành SX của sản phẩm nh hoạt động kinh doanh chính và
cũng sử dụng các tài khoản kế toán cấp 1 cùng với hoạt động SX kinh doanh chính(
mở tài khoản chi tiết). Sản phẩm, lao vụ của sản xuất kinh doanh phụ đợc sử dụng
phục vụ cho nhu cầu sản xuất- kinh doanh chính, phần còn lại có thể cung cấp ra
bên ngoài. Phơng pháp tính giá thành sản phẩm , lao vụ của sản xuất kinh doanh
phụ tuỳ thuộc vào đặc điểm công nghệ và mối quan hệ giữa các bộ phận sản xuất
phụ trong doanh nghiệp, cụ thể là:
Trờng hợp không có sự phục vụ lẫn nhau giữa các bộ phận sản xuất, kinh
doanh phụ hoặc giá trị và khối lợng phục vụ không đáng kể.
Chi phí sản xuất sẽ đợc tập hợp riêng theo từng bộ phận, từng hoạt động sản xuất
kinh doanh phụ. Giá thành sản phẩm , lao vụ của từng bộ phận đợc tính theo từng
phơng pháp trực tiếp .
Trờng hợp có sự phục vụ lẫn nhau đáng kể giữa các bộ phận sản xuất kinh
doanh phụ.
Với các doanh nghiệp có tổ chức nhiều bộ phận sản xuất kinh doanh phụ và giữa
chúng có sự phục vụ lẫn nhau thì có thể áp dụng một trong các phơng pháp khác
tính giá thành sau đây:
Phơng pháp đại số .
Là phơng pháp xây dựng và giải các phơng trình đại số để tính giá thành sản
phẩm , lao vụ của sản xuất -kinh doanh phụ phục vụ các đối tợng.
Phơng pháp phân bổ lẫn nhau theo giá thành ban đầu :
Theo phơng pháp này trớc hết tính giá thành đơn vị ban đầu của từng bộ phận
sản xuất kinh doanh phụ và xác định giá trị phục vụ lẫn nhau giữa chúng.
Tiếp theo, xác định giá trị sản phẩm, lao vụ của sản xuất phụ phục vụ cho các bộ
phận khác theo giá thành đơn vị mới.

đầu tháng để thuận lợi cho việc thực hiện định mức cũng nh việc kiểm tra thi hành
định mức. Trờng hợp thay đổi định mức diễn ra vào ngày giữa tháng thì đầu tháng
sau mới phải điều chỉnh giá thành định mức. Những khoản chi phí phát sinh ngoài
phạm vi định mức và dự toán qui định đợc gọi là chênh lệch so với định mức hay
thoát ly định mức.
3.3.5 . Doanh nghiệp sản xuất phức tạp theo kiểu chế biến liên tục .
Doanh nghiệp sản xuất phức tạp theo kiểu chế biến liên tục là doanh nghiệp có
quy trình công nghệ chế tạo sản phẩm bao gồm nhiều bớc (giai đoạn ) nối tiếp
nhau theo một trình tự nhất định , mỗi bớc tạo ra một loại bán thành phẩm và bán
thành phẩm của từng bớc trớc là đối tợng hay nguyên liệu chế biến của bớc
sau. Trong những doanh nghiệp này, phơng pháp hạch toán chi phí thích hợp nhất
là hạch toán theo bớc chế biến ( giai đoạn công nghệ) .Theo phơng pháp này, chi
phí sản xuất phát sinh thuộc giai đoạn nào sẽ đợc tập hợp cho giai đoạn đó. Riêng
với chi phí sản xuất chung sau khi đợc tập hợp theo phân xởng sẽ đợc phân bổ
cho các bớc theo tiêu thức phù hợp.
Tuỳ theo tính chất hàng hóa của bán thành phẩm và yêu cầu công tác quản lý, chi
phí sản xuất có thể tập hợp theo phơng án có bán thành phẩm và theo phơng án
không có bán thành phẩm. Phơng pháp tính giá thành thờng là phơng pháp trực
tiếp kết hợp phơng pháp tổng cộng chi phí hay hệ số (hoặc tỷ lệ).
3.3.5.1. Tính giá thành phân bớc theo phơng án hạch toán có bán thành phẩm.
Phơng án hạch toán này thờng đợc áp dụng ở các doanh nghiệp có yêu cầu
hạch toán nội bộ cao hoặc bán thành phẩm bán ra ngoài. Đặc điểm của phơng án
hạch toán này là khi tập hợp chi phí sản xuất của các giai đoạn công nghệ, giá trị
bán thành phẩm của các bớc trớc chuyển sang bớc sau đợc tính theo giá thành
thực tế và đợc phản ánh theo từng khoản mục cho đến bớc cuối cùng tính ra giá
thành thành phẩm nên còn gọi là kết chuyển tuần tự.(Mỗi công đoạn sản phẩm đều
đợc tính giá thành theo phơng pháp giản đơn trên cơ sở số liệu về chi phí SX tập
hợp đợc ở những tài khoản kế toán chi tiết trong từng công đoạn. Bán thành phẩm
công đoạn trớc kết chuyển sang công đoạn sau tuần tự đến giai đoạn cuối cùng,
Nếu kết chuyển từ công đoạn nọ sang công đoạn kia là bán thành phẩm( gọi là kết

trong từng giai đoạn mà chỉ tính giá thành thành phẩm hoàn thành bằng cách tổng
hợp chi phí nguyên vật liệu chính và các chi phí chế biến khác trong các giai đoạn
công nghệ .

Chi phí NVL trực
tiếp
Trị giá vốn bán
thành phẩm công
đoạn 1 chuyển sang
Trị giá vốn bán
thành phẩm công
đoạn 2 chuyển sang
Chi phí chế biến
công đoạn 1
Tổng giá thành và
giá thành đơn vị
BTP công đoạn 1
Chi phí chế biến
ở công đoạn 2
Tổng giá thành và
giá thành đơn vị
BTP công đoạn 2
Tổng giá thành v
à
giá thành đơn vị
thành phẩm
Chi phí chế biến
ở công đoạn 2
+


phát sinh ở công
đoạn 2
Chi phí sản xuất
phát sinh ở công
đoạn cuối
Chi phí sản xuất ở
công đoạn 1 tính
cho thành phẩm
Chi phí sản xuất ở
công đoạn 2 tính
cho thành phẩm
Chi phí sản xuất ở
công đoạn cuối
tính cho thành
phẩm
Tổng giá thành sản xuất của thành phẩm theo khoản mục giá thành
Chi phí nguyên vật liệu chính
tính cho thành phẩm
Chi phí bớc 1 tính cho

thành phẩm
Chi phí bớc 2 tính cho

thành phẩm
Chi phí bớc . tính cho

thành phẩm
Chi phí bớc n tính cho

thành phẩm

Số lợng TP
sản xuất đợc

+

Số lợng sản
phẩm dở dang
x
Số lợng
SP DD
cuối kỳ

4.2.Đánh giá khối lợng sản phẩm dở dang theo khối lợng sản phẩm hoàn
thành tơng đơng .
Theo cách này doanh nghiệp phải kiểm kê sản phẩm dở dang còn ở trong dây
chuyền sản xuất xác định mức độ hoàn thành tơng đơng (tức là tỷ lệ hoàn thành
so với thành phẩm) sau đó quy đổi số lợng sản phẩm dở dang xem tơng đơng
bằng bao nhiêu thành phẩm để tính.
Cần phân biệt hai trờng hợp:
Nếu nguyên vật liệu phân bổ vào một lần từ công đoạn đầu của quy
trình sản xuất thì phải phân bổ chi phí nguyên vật liệu trực tiếp cho thành phẩm và
sản phẩm dở dang nh nhau. Cách tính phân bổ nguyên vật liệu nh ở (4.1) trên.
Còn chi phí sản xuất chung và chi phí nhân công trực tiếp phân bổ cho sản
phẩm dở dang nh sau:

Trị giá Trị giá NVL CPNC và CPSXC
SPD D = trong SP + phân bổ cho
cuối kỳ dở dang sản phẩm DD

Nếu nguyên vật liệu phân bổ dần trong suốt quá trình sản xuất thì tính

Theo chế độ kế toán hiện hành việc sử dụng các tài khoản kế toán để tổng hợp
chi phí sản xuất và tính giá thành sản xuất của sản phẩm phụ thuộc vào doanh
nghiệp sử dụng phơng pháp kê khai thờng xuyên hay phơng pháp kiểm kê định
kỳ hàng tồn kho. Sự khác nhau về sử dụng tài khoản kế toán và trình tự ghi chép kế
toán đợc khái quát nh sau:

Phơng pháp kê khai thờng
xuyên
Sử dụng tài khoản:TK
621, TK 622, TK 627 để tập hợp chi
phí phát sinh trong kỳ.
Sử dụng tài khoản TK 154
vừa phản ánh vốn sản phẩm dở dang
vừa để tính giá thành sản xuất của
sản phẩm. Phơng pháp kiểm kê định kỳ
Sử dụng các TK 621,TK
622, TK 627 để tập hợp chi phí phát
sinh trong kỳ.
TK 154 sử dụng phản ánh
vốn sản phẩm dở dang cuối kỳ này,
đầu kỳ sau; còn sử dụng tài khoản
631 để tập hợp chi phí sản xuất và
tính giá thành sản xuất của sản phẩm. TK 155 chỉ sử dụng phản
ánh thành phẩm tồn kho cuối kỳ này,

trực tiếp (2)

TK 627 TK 632

Kết chuyển chi phí SXC Tiêu thụ thẳng(6)
( 3)
5.2.2. Phơng pháp kiểm kê định kỳ
Kết chuyển giá trị SPDD đầu kỳ

TK 621 TK 631 TK 154

Kết chuyển CPNVL trực
tiếp(1) Giá trị SPDD cuối kỳ

TK 622

Kết chuyển CPNC
trực tiếp (2)

TK 627 TK 632

Kết chuyển chi phí SXC Tổng giá thành SX SP
( 3) ( 4 )

6. Lập bảng tính giá thành sản xuất của sản phẩm.
Bảng tính giá thành SX của sản phẩm là phơng tiện để kế toán ghi
chép, phản ánh việc tính giá thành ( chứng từ nghiệp vụ nội sinh ) đồng thời là ph-
ơng tiện cung cấp thông tin về sản lợng sản xuất và giá thành SX của sản phẩm đã
SX đợc phục vụ cho yêu cầu quản lý SXKD của DN.
Bảng tính giá thành sản xuất của sản phẩm nhằm phản ánh đợc kết

Sản lợng sản xuất đợc . T
T

Khoản mục giá thành
SPD D
đầu kỳ

CPSX
phát sinh
trong kỳSPD D
cuối kỳ

Tổng giá
thành
sản xuất

Giá
thành S
X đơn
vị
1 Vật liệu chính

Thực
hiện
Số tiền Tỷ lệ(%)

1 Gạch xây
2 Xi măng
3 Sắt
4 Đá
5 Sỏi
6 Cát
7 Chi phí NC
8 Chi phí tiền điện
9 Chi phí tiền nớc
10 Chi phí
Cộng

Tính giá thành sản xuất của sản phẩm sản xuất đợc là công việc bắt buộc của kế
toán trong quá trình hệ thống hoá và xử lý thông tin kế toán hay còn gọi là nghiệp
vụ nội sinh. Các nghiệp vụ nội sinh đều phải lập chứng từ kế toán để làm căn cứ ghi
sổ kế toán. Trong chứng từ nghiệp vụ nội sinh phải ghi rõ căn cứ số liệu để tính
toán, các phơng pháp tính toán xử lý thông tin để xác định các chỉ tiêu tính toán,
ghi sổ , có thể kiểm tra đợc tính hợp lý và tin cậy đợc của số liệu kế toán : Bảng
tính giá thành SX của sản phẩm sản xuất đợc chính là chứng từ kế toán về nghiệp
vụ tính giá thành làm cơ sở cho việc ghi sổ kế toán.

C
C
h
h


t
h
h
i
i


n
nh
h

ệt
t
h
h


n
n
g
gp

hg
g
i
i
á
át
t
h
h
à
à
n
n
h
ht
t
r
r
o
o
n

h
i
i


p
ps
s


n
nx
x
u
u


t
t
.
.

t
t
r
r


n
n
g
gv
v


n
nd
d


n
n
g
gt
t
í
í
n
n
h
hg
g
i
i
á
át
t
h
h
à
à
n
n
h
h
c
c
á
á
c
cd
d
o
o
a
a
n
n
h
h

n
n
g
g
h
h

hợp với đặc điểm kinh doanh của từng doanh nghiệp và chấp hành chế độ, chính
sách thể lệ về tài chính kế toán của Nhà nớc.
Các doanh nghiệp đều tôn trọng nguyên tắc giá phí trong việc xác định giá trị
của các đối tợng cần tính giá; trị giá vốn thực tế của hàng xuất kho đợc tính toán
theo các phơng pháp chuẩn phù hợp với thực tế của đơn vị , đảm bảo nguyên tắc
nhất quán quy định trong chế độ kế toán hiện hành. Đặc biệt giá thành sản phẩm
đều đợc tính theo các khoản mục chi phí quy định trong chế độ kế toán bao gồm:
chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất
chung.
Việc tổ chức công tác tính giá cho các đối tợng cần tính giá theo các yếu tố cấu
thành giá mà các doanh nghiệp đang thực hiện là rất tốt, phù hợp.
Giá thành đã đợc tính toán một cách cụ thể chi tiết phục vụ cho yêu
cầu quản trị của các doanh nghiệp và xác định kết quả kinh doanh đối với từng
nghiệp vụ.
Đối tợng tính giá thành , kỳ tính giá thành đợc xác định một cách
đứng đắn phù hợp với đặc điểm tổ chức quản lý kinh doanh của ngành và từng
doanh nghiệp phù hợp chu kỳ sản xuất sản phẩm dịch vụ hoàn thành bởi mỗi doanh
nghiệp đều nhận thức đợc vai trò quan trọng của công tác xác định đối tợng tính
giá,kỳ tính giá đối với tổ chức kế toán tính giá thành sản phẩm dịch vụ .Ngoài ra
việc vận dụng các phơng pháp tính giá thành trong các doanh nghiệp rất linh hoạt
, phù hợp với từng loại hình sản xuất kinh doanh.
Hệ thống sổ sách kế toán đợc mở tơng đối đầy đủ và phù hợp với việc
ghi chép thờng xuyên đúng quy định hạch toán tạo điều kiện thuận lợi cho công tác
kế toán trong việc đối chiếu.
Bên cạnh những u điểm nói trên do tính chất phức tạp và đặc điểm , đặc thù
kinh doanh của từng ngành nên quá trình kế toán tính giá thành cũng không tránh
khỏi những tồn tại:
Việc sử dụng các tài khoản kế toán để tính giá thành sản phẩm dịch vụ
còn mang tính gợng ép của hệ thống kế toán hiện hành còn cha phù hợp với đặc
điểm của từng ngành , từng loại hình kinh doanh.

o
o
à
à
n
n

t
t
h
h
i
i


n
n
.
.Từ những đánh giá có tính khái quát về thực trạng công tác kế toán tính giá
thành sản phẩm trong các doanh nghiệp hiện nay cũng nh nguyên nhân chủ yếu
của những thực trạng đó. Để có thể đa ra những phơng hớng hoàn thiện đúng đắn
trớc hết trong chơng này sẽ phải phân tích yêu cầu cơ bản của việc hoàn thiện.
Phải dựa trên cơ sở tuân thủ các qui định, thể lệ và chính sách tài chính
kế toán của Nhà nớc và của ngành đã ban hành.

sở đó lãnh đạo DN có thể ra các quyết định kinh doanh tối u. Vì vậy , tổ chức
kinh tế thế nào để đáp ứng đợc vai trò của kế toán mới là yêu cầu quan trọng về
mặt lý luận cũng nh trên thực tế. Công tác quản lý kinh tế , kế toán chỉ phát huy
vai trò tích cực khi nó đợc tổ chức hợp lý và khoa học
Các yêu cầu trên phải có mối quan hệ mật thiết với nhau, nó phải đợc thực
hiện một cách đồng bộ nhằm đảm bảo cho việc đa ra các phơng án hoàn thiện.

2.1. Trao đổi thêm về việc phân loại các phơng pháp tính giá thành sản
phẩm hiện nay ở DN.
Cùng với kế toán tập hợp chi phí sản xuất , kế toán giá thành đợc coi là khâu
trọng tâm trong công tác kế toán ở DN.
Theo các tài liệu mà bản thân em thu thập đợc hiện nay đều có đề cập đến
phân loại các phơng pháp tính giá thành ở doanh nghiệp, song các tiêu thức để
làm căn cứ phân loại đều không đợc đề cập tới hoặc có đề cập tới nhng cha rõ
ràng. Trong phần này em xin bày tỏ những ý kiến cá nhân nhằm trao đổi thêm về
việc phân loại các phơng pháp tính giá thành sản phẩm ở DN.
Em thống nhất quan điểm rằng : Phơng pháp tính giá thành là phơng pháp
sử dụng số liệu kế toán tập hợp CPSX cung cấp; bằng phơng pháp tính toán nhất
định để xác định tổng giá thành và giá thành đơn vị các loại sản phẩm, công việc ,
lao vụ đã hoàn thành.
Nh vậy, một phơng pháp tính giá thành nào đó bao hàm hai nội dung chính
là việc sử dụng số liệu kế toán CFSX đã tập hợp và thuật tính toán đợc vận dụng
Trong các tài liệu kế toán của các trờng ĐH và tài liệu kế toán của các cá
nhân mà em su tập đợc thì có ba cách phân loại các phơng pháp tính giá thành
nh sau:
Cách phân loại thứ nhất:
Theo cách phân loại này tiêu thức chủ yếu để phân biệt là phép tính toán (
phép toán tài chính) để xác định tổng hợp giá thành và giá thành đơn vị.
Có thể chia ra:
- Phơng pháp trực tiếp

Các tài liệu đề cập cách phân loại này không nói đến các tiêu thức để phân loại
mà chỉ nêu những đặc trng chính của các phơng pháp tính giá thành đó nh: đối t-
ợng tính giá thành, điều kiện vận dụng, công thức tổng quát
Em cho rằng để phân biệt một phơng pháp tính giá thành này với phơng
pháp tính giá thành khác phải căn cứ vào những đặc trng riêng của từng phơng
pháp.
Theo em cần phân biệt các phơng pháp tính giá thành bằng 3 tiêu thức sau:
1.Đối tợng tính giá thành : Tiêu thức này cho phép nhận biết các loại sản
phẩm cụ thể của quy trình sản xuất phải tính giá thành.
2. Nội dung công việc tính giá thành sẽ thực hiện: Phần này vừa nêu tổng quát
bằng lời văn, vừa thiết lập công thức và phép tính sẽ sử dụng để tính giá thành.
3. Điều kiện vận dụng thích hợp nh : Tổ chức sản xuất của DN, đặc điểm sản
phẩm, chu kỳ sản xuất sản phẩm
Nh vậy trong cách phân loại thứ nhất chỉ đơn thuần là phép tính khi tính giá
thành sản phẩm. Các phép tính đó có thể vận dụng cho nhiều ngành khoa học quản
lý và cho một số phần hành kế toán khác mà không riêng gì cho kế toán giá thành.
ở cách phân loại thứ ba có thể nói là không căn cứ vào tiêu thức nào cả để
phân loại các phơng pháp tính giá thành. Những nội dung nêu trên trong phơng
pháp đó chỉ là cụ thể hoá những điểm cần thiết khi vận dụng tính giá thành ở một
DN nào đó mà thôi.
Cách phân loại các phơng pháp tính giá thành thứ ba có thể tạm coi là hợp lý
hơn cả. Các phơng pháp ấy đều chứa cả ba nhân tố nh em đã trình bày ở trên.
Em xin phân tích phơng pháp tính giá thành giản đơn để thấy rõ nhận xét rút
ra này:
Phơng pháp tính giá thành giản đơn vận dụng cho quy trình sản xuất
giản đơn:( Quy trình khép kín, không gián đoạn kỹ thuật, chu kỳ sản xuất rất
ngắn)
Đối tợng tính giá thành chỉ là sản phẩm hoàn thành ở cuối quy trình
công nghệ sản xuất. Tuỳ theo quy trình sản xuất ngời ta có thể thu đợc một loại
sản phẩm hay vài loại sản phẩm khác nhau( các sản phẩm này cùng chung một loại

việc.
Phơng pháp tính giá thành theo công việc đợc vận dụng trong phơng
pháp tiính giá thành theo đơn đặt hàng.
Phơng pháp tính giá thành theo quy trình sản xuất. Phơng pháp này
vận dụng trong phơng pháp tính giản đơn, phơng pháp tính giá thành phân bớc
và một số phơng pháp kĩ thuật truyền thống tuỳ thuộc vào đặc điểm quy trình
công nghệ và tính chất sử dụng của sản phẩm.
- Quy trình công nghệ giản đơn: Thông thờng đối tợng kế toán
tập hợp chi phí sản xuất là toàn bộ quy trình, vì vậy kế toán vận dụng phơng pháp
tính trực tiếp. Ngoài ra còn kết hợp với các phơng pháp khác nh phơng pháp hệ
số nếu quy trình đó sản xuất nhiều loại sản phẩm chính khác nhau; phơng pháp tỷ
lệ nếu trong cùng một quy trình sản xuất ra nhiều nhóm sản phẩm có quy cách
phẩm chất khác nhau; phơng pháp loại trừ chi phí nếu cùng một quy trình thu đ-
ợc sản phẩm chính và một số sản phẩm phụ.
- Quy trình công nghệ phức tạp
+ Quy trình công nghệ phức tạp kiểu liên tục: Tuỳ thuộc vào đối
tợng tính giá thành mà vận dụng phơng pháp tính giá thành phân bớc có tính
nửa thành phẩm hay không tính nửa thành phẩm và kết hợp với các phơng pháp
khác của phơng pháp truyền thống.
+ Quy trình công nghệ song song: Có thể kết hợp phơng pháp
phân bớc , phơng pháp khác của phơng pháp truyền thống.
2.3. Hệ thống số liệu kế toán quản trị và kế toán tài chính.
Xuất phát từ tầm quan trọng của bộ phận kế toán quản trị trong hệ thống kế
toán của DN , Luật kế toán đợc Quốc hội khoá XI kỳ họp thứ 3 thông qua ngày
19/5/2003 đã quy định kế toán ở đơn vị kế toán gồm kế toán tài chính và kế toán tài
chính.
Theo quan điểm hiện nay kế toán giá thành đợc sắp xếp vào phần kế toán
quản trị. Do đó việc vận dụng các phơng pháp tính giá thành vào doanh nghiệp
cụ thể mang tính linh hoạt cao.
Kế toán tài chính và kế toán quản trị đều thu thập và xử lý thông tin trên cùng

thực, hợp lý về tình hình tài chính, kết quả hoạt động của DN để ngời sử dụng
thông tin tài chính có thể đa ra các quyết định đứng đắn. Hiểu theo nghĩa
này,KTTC phải tuân thủ các chuẩn mực kế toán đợc chấp nhận rộng rãi, phải
mang tính khách quan, có thể kiểm chứng, thận trọng , có thể so sánh
Trong khi đó, KTQT theo nghĩa là kế toán phục vụ nội bộ thì không cần phải
tuân thủ các chuẩn mực KT nh KTTC. Thay vào đó, nó đợc nhấn mạnh đến tính
thích hợp nghĩa là khả năng hữu dụng trong việc dự toán tơng lai ,và tính linh
động phù hợp với đặc thù của DN. Do đó không thể nói rằng số liệu KTTC hay
KTQT là chính xác hơn, mà phải thấy rằng mỗi loại kế toán đáp ứng những yêu cầu
riêng cho đối tợng phục vụ mình. Nếu cần số liệu mang tính chính xác, pháp lý,
khách quan thì đó là số liệu KTTC. Ngợc lại, nếu cần số liệu phù hợp với đơn vị,
có thể làm cơ sở cho các quyết định quản trị thì phải là số liệu KTQT.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status