Giáo trình luận ngữ - Bài mở đầu - Pdf 19

Luận ngữ
PHN biên dịch
1 ĐẠI HỌC AN GIANG

Phùng Hoài Ngọc
Nghiên cứu- biên dịch
论语
Luận ngữ
孔子 Khổng tử

(Văn học Trung Quốc)
14. Hiến vấn (Nguyên Hiến hỏi) 44 bài
15. Vệ Linh công (vua nước Vệ) 42 bài
16. Quí thị (dòng họ Quý, đại thần nước Lỗ) 14 bài
17. Dương Hóa (quan nước Lỗ) 26 bài
18. Vi Tử (quan chức nhà Ân xưa) 11 bài
19. Tử Trương (học trò của Khổng tử) 25 bài
20. Nghiêu viết (vua Nghiêu nói) 03 bài.
Tài liệu tham khảo

8
12
18
25
30
38
46
55
60
68
75
83
90
99
111
120
126
134
139
146
149


Ở Việt Nam, học thuyết Khổng- Mạnh được học từ thời Lý-Trần khi nhà nước Đại Việt tự chủ,
mở đầu kỷ nguyên mới của lịch sử dân tộc và lên đỉnh cao ở thời nhà Lê. Về sau, nhà Nguyễn
lại lấy Nho học thời Tống (Tống nho) làm nền tảng giáo dục (bởi nhà Tống đạt đến trình độ
cao nhất thời phong kiến Trung Hoa).

Khi đã được đông đảo dân chúng hâm mộ, coi trọng thì Nho học được gọi là Nho giáo (hoặc
Khổng giáo) xem như một tôn giáo.

Nho học gồm hai bộ sách cơ bản Tứ thư (4 quyển) và Ngũ kinh (5 quyển).
Tứ thư gồm: Đại học, Trung dung, Luận ngữ và Mạnh tử,
Ngũ kinh gồm: Kinh Thi, Kinh Xuân thu, Kinh Thư, Kinh Dịch và Kinh Lễ
Nếu Ngũ kinh là “phần cứng” cần học thuộc thì Tứ thư là “phần mềm” nhằm vận dụng linh
hoạt vào thực tiễn. Đây là một bộ sách có tính khoa học và tính sư phạm rất cao.

Ngũ kinh có hai tác phẩm quan trọng là Kinh Dịch và Kinh Thi (Kinh Thi đã được học trong
chương trình đại học Ngữ văn rồi). Trong Tứ thư, Luận ngữ được coi là then chốt bởi sách này
miêu tả được những hằng số của con người và xã hội một cách độc đáo, sinh động và còn hứa
hẹn sức sống mãi về sau.

Luận ngữ
PHN biên dịch
4

Các danh nhân văn hóa Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Phùng Khắc Khoan, Bà Huyện
Thanh Quan, Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến… và nho sinh ngót nghìn năm đều là học trò nho
học. Di tích 82 tấm bia đá ghi tên 1304 tiến sĩ chỉ tính riêng hai triều Lê và Mạc (chưa kể nhà
Trần nhà Nguyễn) đặt tại Văn Miếu Hà Nội. 82 tấm bia cũng vừa được UNESCO công nhận là
di tích văn hoá thế giới vào năm 2010. Văn Miếu Huế lưu giữ 32 tấm bia ghi tên hơn 293 tiến
sĩ thời Nguyễn.

một đối thoại, một câu chuyện rất ngắn).

Toàn bộ Luận ngữ có 511 bài, tức là 511 câu nói hoặc đối thoại, mẩu chuyện cực ngắn. Nội
dung bao trùm hầu hết những quan niệm về nhân, đức, trung, nghĩa, lễ, trí, tín, dũng, liêm…
cho đến âm nhạc, giải trí, ăn uống và những tình huống đối nhân xử thế phong phú trong cuộc
sống. Qua những câu chuyện ngắn, hình ảnh người quân tử và tiểu nhân hiện lên tương phản rõ
nét, trong đó tấm gương vua hiền, quan cai trị mẫu mực và kẻ sĩ chân chính được đặt ở vị trí
trung tâm của cuốn sách.
Luận ngữ
PHN biên dịch
5

Đọc qua Luận ngữ, ta thấy nội dung các thiên dường như rời rạc, không có liên hệ với nhau.
Thực ra, người quân tử chính là sợi chỉ đỏ kết nối, xuyên suốt tập sách. Chữ nhân (hai chữ
nhân:人, 仁) là phẩm chất của quân tử, là khái niệm mở ra từ hẹp tới rộng, đến vô cùng.
Nội dung chính của Luận ngữ là Quân tử. Chữ Hiếu là điều kiện tiên quyết của quân tử.
Khổng tử coi chữ Hiếu là tiên quyết thì các vua chúa đời sau như Hán, Đường, Tống, Nguyên,
Minh, Thanh đẩy nó xuống hàng thứ 2 và đặt chữ Trung (trung quân: trung thành với nhà vua)
lên hàng đầu (
1
)
Đọc sách này, người ta hiểu được phẩm chất tư cách của thầy trò Khổng tử và những người
khác. Về phương pháp giáo dục, Khổng tử thấu hiểu tâm lý của từng học trò, khéo đem lời
giảng dạy thích hợp với từng trình độ, từng hoàn cảnh của mỗi người. Có khi cùng một câu hỏi
mà ông trả lời cho mỗi người một cách khác nhau.
Luận Ngữ trình bày đạo quân tử qua lời nói, câu chuyện sinh động, không giảng giải lý thuyết
dài dòng nhưng rất ấn tượng, dễ hiểu. Nhân vật chính là thầy Khổng tử với bao vui, buồn, lo
âu, lạc quan, thất vọng. Thầy Khổng cũng mắc khuyết điểm mà không giấu diếm.
Luận ngữ có 5 mục tiêu rõ rệt:
Học làm người

6

Thầy giáo Trung Quốc ngày nay vẫn phải giảng (dịch) cổ văn cho học trò Trung Quốc, cũng
như thầy giáo phong kiến Việt Nam từng giảng sách cho học trò thời xưa.Có lẽ đó là một lí do
của thành ngữ “Không thầy đố mày làm nên”. (Ta càng cảm phục tiến sĩ thời Lý, Trần, Lê,
Mạc, Nguyễn đã khổ công biết bao khi học và làm bài thi. Trong số họ, có hơn 200 người từng
làm sứ giả nước Việt sang Tàu với một món hành trang Khổng tử-Nho học “đem chuông đi gõ
xứ người” khiến giới trí thức phong kiến Trung Hoa không thể không công nhận trí thức Việt
Nam).

Sách Luận ngữ (cùng với sách khác) được dạy trong các nhà trường từ thời nhà Hán do học trò
đời sau của Khổng tử biên soạn lại, truyền đến đời Tống mới biên tập thành sách. Những người
biên soạn cố giữ nguyên lời nói Khổng tử xưa. Lời cổ nhân được truyền bá nguyên văn, mang
tính cổ kính thiêng liêng thì có trọng lượng và sức thuyết phục hơn.

Luận ngữ đem lại sự sâu rễ bền gốc cho con người mọi thời đại, mọi chế độ.

Ngày nay bạn có thể thấy vài điều trong Luận Ngữ đã lạc hậu thì cứ bỏ qua đi. Chỉ giữ lại
những bài học đã trở thành hằng số của con người và xã hội.

Người Việt đã từng quen sử dụng khá nhiều “thành ngữ, tục ngữ” như:
Tứ hải giai huynh đệ (anh em bốn bể một nhà)
Dục tốc bất đạt (muốn nhanh lại không đến / hỏng việc)
Nhân chi sơ, tính bản thiện (người mới sinh thì tính hiền lành)…
Tam thập nhi lập, Tứ thập bất hoặc, Ngũ thập tri thiên mệnh (Ba mươi tuổi lập thân,
bốn chục tuổi hết nghi ngờ, năm chục tuổi biết mệnh trời…)
Ôn cố tri tân (ôn cũ để biết mới)
Kiến nghãi bất vi, vô dũng dã ! (thấy việc nghĩa không dám làm, chẳng phải người dũng)
Con chim sắp chết, tiếng kêu bi thương, con người sắp chết thì lời nói phải (Tăng Tử học
trò Khổng tử nói: Điểu chi thương tử, kỳ minh dã ai; Nhân chi thương tử, kỳ ngôn dã thiện)

Đại học An Giang mùa hè năm 2010
Biên giả


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status