Luận văn : KHẢO SÁT HÀM LƯỢNG PROGESTERONE TRONG SỮA BẰNG KỸ THUẬT ELISA ĐỂ CHẨN ĐOÁN MANG THAI SỚM, CHẬM ĐỘNG DỤC HOẶC PHỐI NHIỀU LẦN KHÔNG ĐẬU TRÊN BÕ CHO SỮA TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN BÕ SỮA LONG THÀNH VÀ CÁC HỘ LÂN CẬN TỈNH ĐỒNG NAI part 3 - Pdf 19

11
bò sữa Đức Trọng, Lâm Đồng. Sản lƣợng sữa bò Holstein Friesian nuôi ở Sao Đỏ
(Mộc Châu): trung bình 4.000 – 5.000 kg/chu kỳ vắt sữa 300 ngày, tỷ lệ béo 3,6%.
Ƣu thế của bò Holstein Friesian không chỉ ở khả năng cho sữa cao mà còn có
khả năng cải tạo giống khác theo hƣớng sữa và cải tạo tầm vóc cho các bò địa
phƣơng nhỏ hơn. Để có giống bò sữa nuôi rộng rãi ở nhiều vùng khác nhau của đất
nƣớc, trong nhiều năm qua các nhà khoa học đã tiến hành nghiên cứu lai tạo giống
bò sữa Việt Nam bằng con đƣờng lai giữa bò Holstein Friesian với bò Vàng Việt
Nam đã có máu bò Zebu (Bò Lai Sind).
2.4 Chu kỳ động dục
Một chu kỳ động dục của bò sữa thông thƣờng là 21 ngày và chia làm 4 giai
đoạn (Henshow, 1990)
Giai đoạn tiền động dục
Vào ngày thứ 16 – 18, khi hàm lƣợng progesterone giảm dần do tác động của
PGF
2
, hàm lƣợng FSH tăng dần và kích thích các nang noãn phát triển. Lúc bấy
giờ, hàm lƣợng estrogen đƣợc sản xuất tăng dần cùng với sự trƣởng thành của các
nang noãn gây biểu hiện động dục ở bò cái và kích thích sự phân tiết LH, FSH tại
tuyến yên thông qua việc gia tăng phóng thích GnRH từ vùng dƣới đồi xuống tuyến
yên. Quá trình này xảy ra đến khi nào hàm lƣợng LH và FSH đạt đỉnh cao và đủ để
gây ra “sóng rụng trứng” trên nang noãn “chín”.
Estrogen làm thay đổi hoạt động sinh lý ở bò bao gồm làm gia tăng lƣợng
máu tới tử cung, làm thành âm đạo dầy lên, tăng sự phát triển tế bào và nhung bào ở
vòi trứng, làm cho các tế bào ở cổ tử cung, âm đạo và các tuyến ở tử cung tiết dịch
nhầy. Vào cuối giai đoạn này, con cái thƣờng thể hiện thích gần con đực.
Giai đoạn động dục
Giai đoạn này, estrogen ảnh hƣởng lên hệ thống thần kinh trung ƣơng gây

(yên tĩnh)
Ngày của chu kỳ động dục
13
do tế bào hạt trong xoang bao noãn tiết ra (Bard và ctv, 1991; dẫn liệu của Hoàng
Kim Giao và ctv, 1997). Về lâm sàng, sự tiết chất nhày giảm, tử cung trở nên mềm,
dẻo và giãn nở. Thành tử cung trở nên dày hơn để chuẩn bị cho sự mang thai. Cổ tử
cung bắt đầu đóng lại. Giai đoạn này kéo dài khoảng 3 – 4 ngày.
Giai đoạn nghỉ ngơi
Giai đoạn này kéo dài từ ngày thứ 5 đến ngày thứ 16 – 18 của chu kỳ động
dục. Thể vàng thành thục và tiết progesterone ảnh hƣởng đến đƣờng sinh dục.
Trong suốt giai đoạn này, sự tuần hoàn của progesterone với hàm lƣợng cao đã ngăn
cản sự phát triển của các nang noãn. Progesterone ức chế sự sản xuất và phân tiết
LH và FSH tại tuyến yên bằng cách ngăn cản sự phóng thích các GnRH từ vùng
dƣới đồi xuống tuyến yên. Đây là cơ chế phản hồi “âm tính” của progesterone.
Trong đƣờng sinh dục, nội mạc tử cung dày lên, chất nhầy âm đạo trở nên ít và
dính, cơ tử cung giãn nở.
Nếu trứng không đƣợc thụ tinh, thể vàng chỉ tồn tại trong vòng 10 – 12 ngày
(Henshow, 1990) hoặc dài nhất là 15 – 17 ngày (Hoàng Kim Giao và ctv, 1997).
Hàm lƣợng progesterone cao do thể vàng tiết ra sẽ gây ra sự phân tiết PGF
2
từ
thành tử cung vào ngày thứ 16 của chu kỳ. PGF
2
sẽ gây phân hủy thể vàng thông
qua việc co mạch làm giảm lƣu lƣợng máu đến nuôi thể vàng (Navy và Cook,
1978). Thể vàng thoái hóa dẫn tới giảm lƣợng progesterone đƣợc phân tiết, giải
phóng ức chế ở vùng dƣới đồi và tuyến yên, dẫn đến sự tiết FRF và FSH, kích thích

2.5.1 Bệnh ấu trĩ (hay còn gọi là chứng thiểu năng sinh dục)
Bò cái khi đến tuổi thành thục nhƣng ngoại hình của chúng nhƣ một con bê,
bộ phận sinh dục chƣa phát triển hoàn toàn không sinh sản đƣợc và cũng do tuyến
yên phát triển không bình thƣờng hoặc do cơ năng tuyến giáp trạng bị rối loạn nên
các hormone ảnh hƣởng đến việc thúc đẩy sự phát triển của cơ quan sinh dục cái.
Bệnh ấu trĩ gây bò cái đến tuổi thành thục về tính trạng mà không động dục, hoặc đã
phối giống nhiều lần mà vẫn không đậu thai. Khi kiểm tra, bằng cách khám qua trực
tràng thấy bộ phận sinh dục phát triển không đầy đủ nhƣ: sừng tử cung nhỏ, buồng
trứng không phát triển hoặc âm hộ và âm đạo bé không thể phối giống đƣợc.
Nguyên nhân chủ yếu do nuôi dƣỡng kém hoặc rối loạn nội tiết tố, khi kiểm tra phát
PGF
2

Vòng tuần hoàn địa phƣơng
Tử cung
Buồng trứng
Làm co mạch máu ngoại vi đến nuôi thể vàng
Hoàng thể thoái hóa
Progesterone 
Hình thành chu kỳ động dục mới
PGF
2

15
hiện thú đã mắc bệnh này cần nên loại thải không sử dụng làm giống (Vƣơng Ngọc
Long, 2001).
2.5.2 Hiện tƣợng Free – Matin

2.5.4 U nang buồng trứng
Nguyên nhân là do chăm sóc nuôi dƣỡng kém, thức ăn không tốt, rối loạn nội
tiết tố, hoặc bò bị mắc bệnh truyền nhiễm. Bò biểu hiện động dục mãnh liệt, kéo dài
không theo chu kỳ nhất định.
Khối u buồng trứng là bệnh thƣờng gặp trong sản khoa khi chẩn đoán, rất
khó phân biệt giữa u nang noãn và u nang hoàng thể.
U nang noãn là những nang chín không bị vỡ vào những ngày qui định của
chu kỳ lên giống nên không thành lập hoàng thể, nhƣng chúng tiếp tục lớn dần
thành khối u mỏng, cấu trúc khối u mềm. Khi bị u nang, nang noãn tiết rất nhiều
folliculin nên con vật biểu hiện mãnh liệt không theo chu kỳ nhất định. Một số
trƣờng hợp tế bào thƣợng bì nang noãn bị thoái hóa không hình thành đƣợc
folliculin nên con đực không động dục, trên buồng trứng hình thành một hoặc một
số u nang trong chứa dịch, kiểm tra qua trực tràng phát hiện u nang nổi lên trên bề
mặt buồng trứng.
U hoàng thể: thƣờng lớn hơn u nang noãn, có thể xuất hiện một hoặc cả hai
bên buồng trứng, khối u rắn chất thành khối u dày hơi nhám, bên trong chứa chất
hoàng thể sánh đặc. Biểu hiện của bò không động dục hoặc động dục yếu không
theo chu kỳ, một số bò vẫn không động dục nhƣng khi phối giống đúng chu kỳ thì
không đậu thai (Cao Thanh Phú, 2003).
2.5.5 Thoái hóa buồng trứng
Khi tổ chức tế bào buồng trứng bị thoái hóa, teo lại, các tổ chức tăng sinh
thay thế. Nguyên nhân buồng trứng bị viêm không phát hiện và không điều trị kịp
thời; đồng thời, cũng có thể nuôi dƣỡng chăm sóc kém, chẩn đoán qua trực tràng sẽ
thấy một phần hoặc toàn bộ buồng trứng bị chai cứng, mặt buồng trứng không còn
trơn chu mà lồi lõm, thể tích teo nhỏ.
Biện pháp điều trị chủ yếu là cải thiện chế độ nuôi dƣỡng chăm sóc, sử dụng
kích thích tố sinh dục và bổ sung các vitamin A, D, E giúp cho việc phục hồi cơ
năng của buồng trứng, nên loại thải.
C – 129
0
C.
Thực tế không tan trong nƣớc, tan trong cồn, tan trong ete, dễ tan trong
chloroform, ít tan trong dầu.
Phản ứng màu Zimmernam cho màu đỏ.
Phản ứng tạo bis dinitrophenylhyrazon-progesterone.
Đun nóng progesterone và dinitro-2,4-phenylhydrazin trong cồn với sự có
mặt của HCl thì có sự xuất hiện kết tủa đỏ nâu của bis dinitrophenylhyrazon-
progesterone, chất nóng chảy ở 270
0
C – 280
0
C (Nguyễn Minh Thanh, 2005).
18
2.6.3 Vận chuyển và chuyển hóa progesterone và tác dụng của progesterone
Vận chuyển và chuyển hóa: Khi đƣợc vận chuyển trong máu dƣới dạng gắn
chủ yếu với albumin huyết tƣơng và các globulin gắn đặc hiệu với progesterone, vài
phút sau khi đƣợc bài tiết tất cả progesterone đƣợc thoái hóa thành các steroid khác
không còn tác dụng của progesterone. Gan rất quan trọng trong quá trình chuyển
hóa này. Progesterone có sản phẩm cuối cùng là pregnandiol đƣợc bài xuất theo
nƣớc tiểu; vì vậy, có thể đánh giá mức độ tạo thành progesterone trong cơ thể thông
qua mức bài xuất progesterone qua đƣờng tiểu.
Sự tác dụng của progesterone lên tử cung: Kích thích sự bài tiết của niêm
mạc tử cung ở trạng thái sẵn sàng đón trứng đã thụ tinh và làm tổ. Kích thích tế bào
tuyến niêm mạc tử cung bài tiết một lớp dịch quánh dày và tác dụng lên vòi Fallope,
progesterone kích thích tế bào niêm mạc, vòi Fallope bài tiết dịch chứa chất dinh

19
đƣợc nuôi dƣỡng và bài tiết nhiều progesterone. Ngƣợc lại, nếu mà tuyến yên bài
tiết ít LH, hoàng thể sẽ bị thoái hóa và progesterone sẽ đƣợc bài tiết ít.
Tóm lại, progesterone có tác dụng đặc biệt quan trọng nó làm cho quá trình
có thai xảy ra bình thƣờng và có các tác dụng nhƣ sau:
Phát triển tế bào nội mạc tử cung, những tế bào này đóng vai trò quan trọng
trong việc nuôi dƣỡng bào thai ở thời kỳ đầu.
Progesterone giảm co bóp tử cung khi có thai, do đó ngăn cản sẩy thai.
Progesterone làm tăng bài tiết dịch và niêm mạc tử cung để cung cấp dinh
dƣỡng cho phôi.
Progesterone ảnh hƣởng đến quá trình phân chia của trứng đã thụ tinh.
Progesterone có tác dụng làm phát triển thùy và bọc tuyến vú.
Với những tác động trên, gọi progesterone là hormone an thai… Vì lý do nào
đó nồng độ progesterone giảm đi, và sự phát triển bào thai sẽ bị ảnh hƣởng.
Cơ quan sinh dục chuẩn bị là tổ hợp tử nuôi dƣỡng bào thai, progesterone
làm cho tử cung yên tĩnh; đồng thời, giúp cho lớp niêm mạc tử cung phát triển và
làm cho các tuyến ống thẳng phân nhánh, xoắn lại để chuẩn bị tiết sữa sau này.
Khi hàm lƣợng progesterone tăng cao trong máu ngoại biên chúng tỏ có sự
hiện diện của hoàng thể trong buồng trứng.
Hiện nay, kiểm soát sinh sản ở thú cái progesterone là chỉ tiêu cần kiểm tra,
chủ yếu là tính ổn định về nồng độ phản ánh ở giai đoạn của chu kỳ động dục và sự
ổn định của bào thai (Nguyễn Minh Thanh, 2005).
2.6.4 Động thái progesterone trong chu kỳ động dục bình thƣờng, mang thai
2.6.4.1 Động thái progesterone trong chu kỳ động dục bình thƣờng
Hàm lƣợng progesterone thấp nhất vào ngày động dục với mức nhỏ hơn 1
ng/ml. Sau đó tăng dần lên từ ngày thứ 3 của chu kỳ. Hàm lƣợng progesterone đạt
đỉnh cao từ ngày 9 đến ngày 18 của chu kỳ động dục với mức lớn hơn 3 ng/ml.
Đỉnh cao của hàm lƣợng progesterone không cố định vào một ngày nào trong
khoảng thời gian từ ngày thứ 9 đến ngày thứ 18 của chu kỳ động dục. Từ ngày thứ


DỤC
(Estrus
phase)
GIAI
ĐOẠN
SAU
ĐỘNG
DỤC
(Post
estrus
phase)
Progesteron trong máu(ng/ml)
Ngày trong chu kỳ động dục
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21
GIAI ĐỌAN NGHỈ NGƠI
(Anestrus phase)
GIAI ĐỌAN TIỀN
ĐỘNG DỤC
(Proestrus phase)
GIAI
ĐOẠN
ĐỘNG
DỤC
(Estrus
phase)
GIAI
ĐOẠN
SAU
ĐỘNG
DỤC


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status