Bình giảng 20 dòng thơ mở đầu bài thơ Việt Bắc để
thấy được thơ Tố Hữu đậm đà tính dân tộc "Việt Bắc" được coi là đỉnh cao của thơ ca kháng chiến
chống Pháp, nhưng trước hết là một trong những đỉnh cao
của thơ Tố Hữu. Bởi nó không chỉ thể hiện những tình
cảm lớn lao của nhà thơ đối với kháng chiến, cách mạng
mà nó còn kết tinh trong đó những đặc sắc trong thế giới
nghệ thuật của Tố Hữu. Đó là những đặc trưng về chất trữ
tình chính trị của thơ THữu, là đặc trưng về tính dân tộc,
về màu sắc dân gian trong ngôn ngữ thơ của Tố Hữu. Vì
thế bài thơ vừa đem đến cho người đọc những nhận thức
sâu sắc về niềm tự hào đối với cuộc khchiến thần thánh
của chúng ta, lại vừa đem đến cho người đọc những rung
cảm thẩm mỹ hết sức mạnh mẽ. Có thể thấy những đặc
sắc này ngay từ những dòng thơ mở đầu của "Việt Bắc".
"Mình về mình có nhớ ta
Tân Trào, Hồng Thái, mái đình,cây đa"
Người ta thường nói đến một đặc trưng nổi bật của thơ Tố
Hữu, đó là chất trữ tình chính trị vì mỗi chặng đường thơ
của Tố Hữu dường như đều gắn liền với mỗi chặng
đường cmạng của dtộc chúng ta, từ thuở "Từ ấy" cho đến
"Một tiếng đờn" sau này. Nói như thế cũng là nói về "Việt
Bắc", bài thơ đã tạo nên một trong những đỉnh cao vời vợi
của thơ Tố Hữu. Bởi vì bài thơ đã ra đời từ một sự kiện
từ câu thơ mở đầu cho tới những dòng thơ cuối cùng luôn
luôn khơi gợi những tình cảm mặn nồng, không bao giờ
phai nhạt giữa V Bắc và cách mạng, kháng chiến.
Trong cuộc tiễn đưa đầy lưu luyến, bịn rịn của VBắc đối
với người về xuôi, khúc hát chia tay đã được bắt đầu cất
lên từ chính lòng người ở lại. Tố Hữu như muốn nói lòng
người VBắc thuỷ chung với cách mạng biết nhường nào.
Ngay từ câu thơ mở đầu, trong 6 tiếng đã có tới 2 tiếng
"mình" thân thương Sự trở đi trở lại tiếng gọi đối với
"mình" như để nói lòng người VBắc không nguôi nhớ
người về xuôi, nhưng lại cũng như xoáy sâu vào ký ức
của người về xuôi những kniệm chan chứa nghĩa tình.
Cũng ngay từ câu thơ mở đầu, những chữ "mình", "ta" đã
như quấn quýt lấy nhau như sự gắn bó không muốn chia
xa giữa người ở và người về. Âm điệu của câu thơ chủ
yếu được tạo bởi thanh bằng: "Mình về mình có nhớ ta",
với một chữ "ta" ở cuối làm cho tcảm nhớ thương vừa
lắng vào lòng người trong cuộc chia tay lại vừa lan xa
mênh mang.
Kết cấu của 2 câu thơ mở đầu là kết cấu của một câu hỏi
tu từ, câu hỏi khơi gợi những kniệm thiết tha mặn nồng,
câu hỏi bao trùm cả không gian của 15 năm ấy. Câu hỏi
thường có tác dụng khơi sâu vào lý trí của người nghe
nhưng ở đây câu hỏi lại khơi gợi những kniệm đầy xúc
động của 15 năm cách mạng đã gắn bó với Việt Bắc để
làm nên một VNam dchủ c hoà, bởi THữu đã sử dụng một
thứ ngôn ngữ chan chứa cảm xúc. Những chữ "mười lăm
năm ấy" gợi ta nhớ tới "cái thuở ban đầu" của tình yêu đã
"Mình về mình có nhớ ta- Mười lăm năm ấy thiết tha mặn
nồng - Mình về mình có nhớ không - Nhìn cây nhớ núi,
nhìn sông nhớ nguồn"
Ta ngỡ như câu ca dao:
"Qua đình ngả nón trông đình - Đình bao nhiêu ngói
thương mình bấy nhiêu - Qua cầu ngả nón trông cầu- Cầu
bao nhiêu nhịp dạ sầu bấy nhiêu"
Thơ Tố Hữu viết về những vấn đề chtrị mà vẫn thấm cái
hồn của ca dao, dân ca. 4 câu thơ như bài ca dao vậy,
chất trữ tình gắn liền với những băn khoăn, trăn trở của
người ở lại, của VBắc vô cùng thuỷ chung với cmạng.
THữu đã chọn được cách nói để khơi nguồn cho cxúc
xuyên suốt "VBắc" hết sức đặc sắc. Mạch thơ trong
những câu mở đầu này cứ thế mà tuôn chảy dào dạt.
Nằm trong mạch hát đối đáp, bài thơ đã dành đúng 4
dòng thơ diễn tả tâm trạng người về xuôi, tạo nên sự cân
đối với 4 dòng thơ mở đầu, tạo nên sự tương xứng của
lòng người về xuôi với VBắc, tương xứng với sự thuỷ
chung của VBắc. ở 4 dòng thơ này như có sự nhớ thương
đáp lại nhớ thương, tha thiết đáp lại với thiết tha, cái bịn
rịn không nỡ rời chân đáp lại cái mặn nồng của người ở
lại. Nằm trong mạch cảm xúc như của tiếng hát giữa đôi
lứa yêu nhau, THữu buông một câu thơ rất tình tứ:
"Tiếng ai tha thiết bên cồn"
"áo chàm đưa buổi phân ly"
Cả VBắc như "ngẩn ngơ" trong cuộc chia tay lsử ấy. Hình
ảnh "áo chàm" dùng để chỉ hình ảnh của VBắc trong thủ
pháp hoán dụ. Cái "ngẩn ngơ" của VBắc hiện ra ở những
chữ "đưa buổi phân ly". Trong khi đó, câu thơ
"Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay"
Không chỉ thể hiện cái lặng đi trong giây phút xđộng của
người về xuôi mà còn diễn tả cái ngập ngừng, bịn rịn, lưu
luyến trong bước chân của người về xuôi qua sự đột biến
của nhịp điệu câu thơ, bởi câu thơ lục bát vốn có kết cấu
của những nhịp chẵn đều đặn, mang cái dìu dặt của khúc
hát chia tay, đã chuyển thành nhịp lẻ: 3/3/2
" Cầm tay nhau / biết nói gì / hôm nay"
Nhịp điệu ấy gợi ta nhớ tới cảnh chia tay trong câu thơ
"Bước đi một bước, giây giây lại dừng"
Sự thay đổi nhịp điệu của câu thơ còn làm cho đoạn thơ
có sự đổi mới đối với cảm xúc của người đọc. Câu thơ
làm cho người đọc không rơi vào cái tiết tấu qúa đều đặn
qua suốt 8 dòng thơ mà trở nên mòn, chán.
Sự tiếp nối của 12 dòng thơ nằm trong mạch cấu trúc của
hoài niệm như một sự xuất hiện tất yếu, bởi sau những
cmạng để dựng nên cộng hoà, vì thế mỗi câu 8 trong cặp
lục bát là mỗi câu nhắc nhở một kniệm không bao giờ
quên, như kỷ niệm về những ngày gian khổ xây dựng
phong trào trong hình ảnh "mưa buồn suối lũ những mây
cùng mù", về những ngày "miếng cơm chấm muối, mối
thù nặng vai", về những ngày náo nức trong phong trào
kháng Nhật của thuở còn Việt Minh và những ngày tưng
bừng chuẩn bị cho Cách mạng tháng Tám nơi "mái đình
Hồng Thái, cây đa Tân Trào". Song cái đặc sắc trong câu
8 này là ở chỗ tiết tấu rất giàu nhạc điệu của nghệ thuật
đối. THữu đã sử dụng nghệ thuật đối một cách triệt để
qua tất cả các câu 8 ở đây, nghệ thuật đối làm cho nhạc
điệu của đoạn thơ trở nên réo rắt và tạo nên những ấn
tượng mạnh mẽ, sâu sắc đối với từng kniệm.
Đó là lối đối giữa các vế câu với nhau như: "Miếng cơm
chấm muối /mối thù nặng vai" để làm nổi bật sự đồng tâm
nhất trí giữa nhân dân và cmạng. Khó khăn lại càng làm
chồng chất mối thù đối với thực dân phát xít. Đó cũng là
sự tương phản giữa csống gian khổ và lòng người qua
những hình ảnh đối chọi nhau
"Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son"
Đó là những vế đối làm nổi bật nỗi buồn của VBắc đvới
cuộc chia tay
"Trám bùi để rụng, măng mai để già"
Nghthuật đối vốn rất quen thuộc trong ca dao, tục ngữ,