Tổng hợp 3 đề phân tích bài thơ Việt Bắc - Pdf 11

Đóng gói bởi Diễn Đàn Kiến Thức
Đ
ề 1: Phân tích b
ài thơ Việt Bắc của Tố Hữu
Nh
ững bài thơ lớn của Tố Hữu đều sáng tác vào những điểm mốc của lịch sử cách
m
ạng Việt Nam. B
ài thơ "
Vi
ệt Bắc
" - ki
ệt tác của Tố Hữu cũng đ
ược sáng tác trong một
th
ời điểm trọng đại của đất nước. Năm 1954, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
th
ắng l
ợi, ho
à bình
được lập lại. Chủ tịch Hồ Chí Minh, trung ương Đảng, cán bộ, bộ đội
r
ời
Vi
ệt Bắc
tr
ở về Thủ đô Hà Nội. Trong không khí chia tay đ
ầy nhớ th
ương lưu luyến
gi
ữa nhân dân

ầy tình nghĩa.
Tác gi
ả đã chọn thể thơ lục bát và lối hát đối đáp như trong ca da
o dân ca và hình

ợng hoá Việt Bắc và những người cán bộ kháng chiến là Ta
- Mình. Cu
ộc chia li giữa
nhân dân Vi
ệt Bắc v
à những người chiến sĩ cách mạng như là cuộc chia tay của một
đôi b
ạn tình đầy bịn rịn, nhớ nhung, lưu luyến.
M
ở đầu là lời của Việt B
ắc. Để cho Vi
ệt Bắc
- ngư
ời ở lại
- m
ở lời trước là rất tế nhị, vì
trong chia tay thì ng
ười ở lại thường không yên lòng đối với người ra đi
"Mình v
ề mình có nhớ ta

ời lăm năm ấy thiết tha mặn nồng
Mình v
ề m
ình có nhớ không

:
"Áo chàm đưa bu
ổi phân li
C
ầm tay nhau biết nói gì hôm nay "
Đóng gói bởi Diễn Đàn Kiến Thức
Vi
ệt Bắc
l
ại hỏi:
"Mình
đi, có nh
ớ những ngày
Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù
Mình v
ề, có nhớ chiến khu
Mi
ếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai?"
Đ
ể cho
Vi
ệt Bắc
h
ỏi là một cách nhà thơ khơi gợi lại những ngày kháng chiến gian khổ.
Ch
ỉ vài hình ảnh "mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù" là khung cảnh rừng núi hiện
lên
ảm đạm trong những
ngày đ
ầu kháng chiến.

ười kháng chiến. Mình về thì núi rừng
Vi
ệt Bắc
tr
ống vắng "Trám b
ùi để rụng,
măng mai đ
ể già". Quả trám (trám xanh và trám đen) và măng mai là hai món ăn
thường nhật của bộ đội và cán bộ kháng chiến. Mượn cái thừa để nói cái thiếu, thật
hay! Hình th
ức
đ
ối lập giữa cái bên ngoài (hắt hiu lau xám) và bên trong (đậm đà lòng
son) bi
ểu hiện chân thật cuộc sống lam lũ, nghèo đói của người dân Việt Bắc, nhưng
trong lòng thì thu
ỷ chung son sắt với cách mạng.
Cuối lời Việt Bắc hỏi người về:
"Mình
đi, mình có nhớ mình
Tân Trào, H
ồng Thái, mái đ
ình cây đa?"
Giai điệu chính thứ hai của bài thơ xuất hiện: "Mình đi, mình có nhớ mình". Nếu giai
đi
ệu một
là đ
ạo lí của dân tộc với tư tưởng ân nghĩa thì giai điệu hai là cách mạng. Việt
B
ắc nhắn nhủ với người về là chẳng những "nhớ ta" mà còn phải "nhớ mình', nói theo

Đó là câu thơ hay nh
ất của bài thơ "
Vi
ệt Bắc
" mà c
ũng là một sáng tạo tuyệt vời của Tố
H
ữu!
Đón h
ết những lời ân tình ân nghĩa của
Vi
ệt Bắc
, bây gi
ờ người về mới mở lời. Lời
người về cũng chí tình chí nghĩa:
"Ta v
ới mình, mình với ta
Lòng ta sau tr
ước mặn mà đinh ninh,
Mình
đi, mình lại nhớ mình
Ngu
ồn bao nhi
êu nước, nghĩa tình bấy nhiêu "
Hai đại từ Ta - Mình cứ xoắn xuýt, quấn quýt "Ta với mình, mình với ta" thật là nồng
nàn. Ý ngh
ĩa lại không rạch ròi để rồi nhập lại làm một:
"Mình
đi, m
ình lại nhớ mình"

ạng, miêu tả lại
b
ản anh hùng ca kháng chiến của quân dân
Vi
ệt Bắc
.
Đóng gói bởi Diễn Đàn Kiến Thức
Để xua tan những hoài nghi của người ở lại, người về phải nói những lời thật nồng
th
ắm, phải so sánh với những tình cảm
cao quý nh
ất của con người:
"Nh
ớ g
ì như nhớ người yêu
Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương"
T
ừ "nhớ" được điệp lại trùng trùng và mỗi từ lại gợi lên không biết bao nhiêu kỉ niệm
thân thương gi
ữa Ta với M
ình. Những chi tiết nhỏ nhặt đã được hồi tưởn
g (mà cái nh

trong tình yêu chính là cái l
ớn).
"Thương nhau, chia c
ủ sắn lùi
Bát cơm s
ẻ nửa, chăn sui đắp c
ùng"

ừ giọng điệu anh hung ca. Cuộc kháng chiến anh hùng của
Ta và Mình đư
ợc tái hiện
trong hòai ni
ệm của người về:
"Nh
ớ khi
gi
ặc đến giặc lung
R
ừng cây núi đá ta cùng đánh Tây
Núi giăng thành l
ũy sắt d
ày
Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù."
Thiên nhiên Vi
ệt Bắc
như có linh h
ồn là nhờ tác giả sử dụng phép nhân hóa. Núi rừng
Vi
ệt Bắc t
ươi đẹp đã trở thành lũy sắt bảo vệ và che chở cho bộ đội. "vây", "đánh" quân
thù. M
ỗi một tên núi, tên sông, tên phố, tên bản là một chiến công lừng lẫy của quân
dân Việt Bắc. Rồi những đêm hành quân, những đoàn dân công, những đòan xe vận tải
Đóng gói bởi Diễn Đàn Kiến Thức
tấp nập sôi động:
"Nh
ững đường Việt Bắc của ta
Đêm đêm r

ỏi gay cấn của
Vi
ệt Bắc
:
"Mình về mình lại nhớ ta
Mái đ
ình Hồng Thái, cây đa Tân Trào" (2)
(Tr
ả lời cho câu hỏi "Mình đi mình có nhớ m
ình")
Ngh
ĩa là người về muốn nhắn nhủ với
Vi
ệt Bắc
là dù xa cách dù v
ề thành thị xa xôi thì
ngư
ời các bộ kháng chiến năm xưa vẫn giữ gìn và p
hát huy ph
ẩm chất tốt đẹp của
ngư
ời cán bộ cách mạng.
Như vậy là với biến tấu của giai điệu hai, tác giả đã khép lại phần một của bài thơ"Việt
B
ắc". Và chủ đề chung thủy
- chung th
ủy với cách mạng của bài thơ "
Vi
ệt Bắc
" đ

***
*****
Đ
ề 2:
Phân tích đo
ạn th
ơ trích trong Việt Bắc của Tố Hữu:
“Mình v
ề mình có nhớ ta
(…) Tân trào, H
ồng Thái, mái đình cây đa”
B
ốn câu đầu là
l
ời
Vi
ệt Bắc
t
ỏ bày với người cán bộ chiến sĩ khi chia tay:
“Mình v
ề mình có nhớ ta

ời lăm năm ấy thiết tha mặn nồng
Mình v
ề mình có nhớ không
Nhìn cây nh
ớ núi, nhìn sông nhớ nguồn?”
Đi
ệp từ “nhớ” luyến láy trong cấu trúc câu hỏi tu từ đồng dạng, tràn đầy thương nhớ.
Cách xưng hô “m

ảm do vậy dạt d
ào thiết tha.
Vi
ệt Bắc
h
ỏi về:
“Mình v
ề m
ình có nhớ không
Nhìn cây nh
ớ núi, nhìn sông
nh
ớ nguồn?”.
Câu h
ỏi chất chứa t
ình cảm lưu luyến, bao hàm lời dặn dò kín đáo: đừng quên cội
ngu
ồn
Vi
ệt Bắc
- c
ội nguồn cách mạng.
B
ốn câ
u ti
ếp theo là nỗi lòng của người về:
“Ti
ếng ai tha thiết b
ên cồn
Bâng khuâng trong d

ủa người miền núi
Vi
ệt Bắc
- tác gi
ả hướng nỗi nhớ
Vi
ệt Bắc
qua hình
ảnh cụ thể “áo
chàm”, chi
ếc áo, m
àu áo bình dị, đơn sơ, mộc mạc của vùng quê nghèo thượng du đồi
núi nhưng sâu n
ặng nghĩa tình, đã góp phần không nhỏ và
o s
ự nghiệp kháng chiến cứu
nước.
Câu thơ “C
ầm tay nhau biết nói gì hôm nay…” đầy tính chất biểu cảm
- bi
ết nói gì
không ph
ải không có điều để giải b
ày mà chính vì có quá nhiều điều muốn nói không
bi
ết phải nói điều gì. Ba dấu chấm lửng đặt cuối câu là m
ột dấu lặng tr
ên khuôn nhạc
để tình cảm ngân dài, sâu lắng…
12 câu ti

ình c
ảm tha thiết đậm đà của
Vi
ệt Bắc
. Tình c
ảm
lưu luyến của người đưa tiễn, gửi đi nỗi nhớ mong, gài lại niềm thương theo cách:
“Thuy
ền về
có nh
ớ bến chăng
B
ến th
ì một dạ khăng khăng đợi thuyền”
Việt Bắc nhắc người cán bộ chiến sĩ đừng quên những năm tháng gian lao vất vả, hoạ t
đ
ộng chiến đấu trong điều kiện trang bị tiếp tế còn thô sơ, thiếu thốn.
“Mình v
ề có nhớ chiến khu
Mi
ếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai?”
Đóng gói bởi Diễn Đàn Kiến Thức
“Miếng cơm chấm muối” là chi tiết thực, phản ánh cuộc sống kháng chiến gian khổ. Và
cách nói “m
ối thù nặng vai”
nh
ằm cụ thể hóa nhiệm vụ chống thực dân cướp nước, đè
n
ặng vai dân tộc ta.
C

Tân Trào, H
ồng Thái, mái đình cây đa”
Tóm l
ại, đoạn thơ trên là nỗi lòng thương nhớ, là lời tâm tình của
Vi
ệt Bắc
. Đo
ạn thơ
trên tiêu bi
ểu sắc thái phong cách Tố Hữu, giọng điệu thơ ngọt ngào truyền cảm, mang
đ
ậm phong vị ca dao dân gian, đề cập đến con ng
ười và c
u
ộc sống kháng chiến. Thông
qua hình t
ượng
Vi
ệt Bắc
, tác gi
ả ca ngợi phẩm chất cách mạng cao đẹp của quân dân
ta, khẳng định nghĩa tình thuỷ chung son sắt của người cán bộ, chiến sĩ đối với Việt
B
ắc.
***
*****
Đ
ề 3: Tính dân tộc trong bài thơ Việt Bắc được biểu
hi
ện cụ t

ới đất nước và nhân dân,
v
ới Đảng và Bác Hồ,
v
ới cuộc kháng
chi
ến đã thành kỉ niệm sâu nặng trong tâm hồn.
Như th
ế nghĩa là trong niềm vui
th
ắng lợi và đón nhận cuộc sống thanh bình nhà thơ
vẫn không quên tình nghĩa gắn bó trong những năm gian khổ đã qua và coi đây là cội
ngu
ồn sức mạnh tinh thần to lớn cho những ngày hiện tại và tương lại. Có thể nói,
bài
thơ Vi
ệt Bắc
là khúc tình ca và c
ũng là khúc hùng ca mà cội nguồn sâu xa của nó là
tình c
ảm qu
ê hương đất nước,
là truy
ền thống ân nghĩa,
đ
ạo lý thuỷ chung của dân tộc.
B-Thân bài
1.Vi
ệt Bắc với vẻ đẹp của cảnh và người
a) Nét đ

ếng mõ trâu về trong rừng chiều,
tiếng “Chày đêm nện cối đều đều suối xa”.
Nhưng có l
ẽ nổi bật nhất là nỗi nhớ
c
ủa
T
ố Hữu
v
ề Việt Bắc là sự hoà quyện với người,

ấn t
ượng không thể phai mờ về những người dân Việt Bắc cần cù trong lao động,
thu
ỷ chung
trong ngh
ĩa tình:
“Ta v
ề mình có nhớ ta

Nh
ớ ai tiếng hát ân t
ình thuỷ chung
”.
Qua đó có thể thấy thiên nhiên Việt Bắc hiện ra với những vẻ đẹp phong phú, đa
d
ạng,thay đổi theo thời tiết,
từng m
ùa.
G

hình
ảnh người mè
“Đ
ịu con l
ên rẫy bẻ từng bắp ngô”,
là nh
ững ng
ày tháng đồng cam cộng khổ:
Đóng gói bởi Diễn Đàn Kiến Thức
“Thương nhau chia c
ủ sắn lùi
Bát cơm s
ẻ nửa,chăn sui đắp cùng

Có th
ể nói âm hưởng trữ tình vang
v
ọng suốt b
ài thơ t
ạo nên khúc ca ngọt ngào,
đ
ằm
thắm của tình yêu đồng chí với đồng bào, của tình yêu thiên nhiên, yêu đất nước, yêu
đ
ời.
2.Vi
ệt Bắc h
ào hùng trong chiến đấu
a)Khung cảnh sử thi
b)Vai trò Vi

Dân t
ộc ấy đã vượt qua bao gian khổ hi sinh để lập nên những kì tích,những chiến
côngh
ủ Thông, đ
èo Giàng, sông L
ô, ph
ố R
àng, Hoà Bình, Tây Bắc, Điện Biên
… Nhưng T
ố Hữu
không th
ể miêu tả diễn biến của cuộc kháng chiến mà chỉ còn đi sâu
vào lý giải những cội nguồn sức mạnh đã dẫn tới chiến thắng. Đó là sức mạnh của lòng
căm thù: “Mi
ếng cơm chấm muối,
m
ối thù nặng vai”,
s
ức mạnh tình nghĩa thủy chung:
“Mình
đây ta đó,đắng cay ngọt bùi” nhất là sức mạnh của khối đoàn kết toàn dân,của
s
ự ho
à quyện gắn bó giữ
a con ngư
ời với thi
ên nhiên
-t
ất cả tạo th
ành hình ảnh “đất

Đóng gói bởi Diễn Đàn Kiến Thức
dần từ mờ xa “mưa nguồn suối lũ , những mây cùng mù” cho đến xác định như chiến
khu kiên cư
ờng nơi nuôi dưỡng bao sức mạnh đấu tranh, nơi sản sinh nh
i
ều địa danh
đ
ã đi vào lịch sử dân tộc.
“Mình v
ề có nhớ núi non
Nhớ khi kháng Nhật, thủa còn Việt Minh
Mình
đi mình có nhớ mìn
h
Tân Trào, H
ồng Thái, mái đình
, cây đa”.
Trong nh
ững năm tháng kháng chiến gian lao Việt Bắc là nơi có “cụ Hồ soi sáng”,

“Trung ương, Chính phủ luận bàn việc công để kiên định niềm tin yêu của cả nước đối
v
ới Việt Bắc,
T
ố Hữu
l
ại dùng những câu thơ mang sắc thái ca da
o d
ạt dào những âm


ợc xuôi tàu chạy
, b
ốn bề lưới giăng
Than Ph
ấn Mễ,
thi
ết Cao Bằng
Ph
ố ph
ường như nấm như măng g
i
ữa trời

Những hình ảnh ấy là mơ ước, khát vọng và cũng là tình nghĩa mà những người cán
b
ộ kháng chiến muốn đền đáp nơi từng là cội nguồn của cách mạng,
nơi đ
ã cưu mang,
che ch
ở họ trong những ngày đầy gian nan hi sinh.
Đ
ặc biệt ở những dòng cuối cùng của
bài thơ ngư
ời đọc càng hiểu sâu thêm sự sắc
sảo, nhạy bén của bài thơ Tố Hữu khi hướng về ngày mai, nhà thơ không quên,một nét
đ
ẹp trong đạo
lý truy
ền thống của dân tộc đó là tình nghĩa thuỷ chung,
có m

xưa.
C- K
ết luận
Vi
ệt Bắc là một bài thơ trữ tình, chính trị bởi vì thơ ở đây là thơ với căn cứ các
h m
ạng,
v
ới truyền thống cách mạng, với đất nước và nhân dân. Nhưng quan trọng hơn cả
chuy
ện công tác cái đ
ã làm cho người ta cảm động là bài thơ đã thể hiện hết được
truy
ền thống ân nghĩa của dân tộc Việt Nam, thể hiện một khát vọng về một chiến sĩ
chan hoà tình yêu thương, hạnh phúc, thanh bình, bền vững mãi mãi trên đất nước,
quê hương.
(Sưu t
ầm) .


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status