Khám bụng ngoại khoa và bệnh án ngoại khoa – Phần 2 - Pdf 19

Khám bụng ngoại khoa và bệnh
án ngoại khoa – Phần 2

Douglas phồng và đau vag dấu hiệu này rất trung thành và có giá trị… Tìm các
điểm đau. Nhắc lại về phân khu vùng bụng Bụng được chia thành 9 vùng do hai
đường thẳng đi từ giữa xương đòn đi xuống cắt vuông góc với hai đường ngang
mà đường ngang thứ nhất tạo bởi đường nối hai gai chậu trước trên và đường
ngang thứ hai nối điểm cắt của đường thẳngvới hai bờ sườn. - Vùng trên rốn
(tương ứng với dạ dày, đại tràng ngang, tuỵ, thuỳ gan trái). - Vùng quanh rốn
(tương ứng với ruột non) Vùng dưới rốn (tương ứng với bàng quang, tử cung). -
Vùng dưới sườn phải (tương ứng với tá tràng, túi mật, gan, thận phải). - Vùng
mạng sườn phải (tương ứng với đại tràng lên, niệu quản phải). - Hố chậu phải
(tương ứng với ruột thừa, manh tràng, phần phụ) Dưới sườn trái (tương ứng với
đuôi tuỵ, lách, đại tràng góc lách, thận trái) Mạng sườn trái (tương ứng với đại
tràng xuống và niệu quản) Hố chậu trái (tương ứng với đaị tràng xích ma, vòi
trứng và buồng trứng trái). Các điểm đau đặc hiệu. Trong khám bụng ngoại khoa
cấp cứu, người ta lưu tâm đến một số điểm như điểm MacBurney trong bệnh
viêm ruột thừa, điểm cạnh ức trái trong trường hợp gan trái nung mủ, điểm sườn
lưng trái trong phù tuỵ hoặc viêm tuỵ cấp. Đồng thời với việc tìm các điểm đau
đặc hiệu, có một số nghiệm pháp thường được tiến hành cùng với động tác khám.
Ví dụ như nghiệm pháp Murphy, nghiệm pháp rung gan, nghiệm pháp kích thích
gây tăng nhu động của dạ dày hai quai ruột. - Nghiệm pháp Murphy nhằm phát
hiện dấu hiệu viêm nhiễm của túi mật. Bệnh nhân nằm ngửa, hai chân chống
xuống giường tạo thành một góc 45 độ. Người thày thuốc ngồi ở bên phải, bàn tay
để ở dưới bờ sườn phải. Khi bệnh nhân hít vào bàn tay người thày thuốc ấn nhẹ và
đẩy lên trên, nếu túi mật viêm, bệnh nhân sẽ ngừng động tác hít vào. Cơ chế của
nghiệm pháp này là khi bệnh nhân hít vào, cơ hoành hạ xuống, đẩy gan và túi mật
xuống theo. Khi người thày thuốc đưa tay lên, túi mật đang bị đẩy xuống do động
tác hít vào chạm vào đầu ngón tay người thày thuốc và vì túi mật bị viêm nên đau
và vì thế bệnh nhân tự nhiên ngừng hít vào. - Nghiệm pháp rung gan nhằm phát
hiện những nung mủ ở trong gan. Các ngón tay của một bàn tay áp lên các khoang

bụng cấp cứu. Động tác thăm khám này bắt buộc vì ba lý do:- Nó xác định tình
trạng ổ phúc mạc thông qua kiểm tra túi cùng
Douglas. Chúng ta đều biết túi cùng
Douglas là chỗ thấp nhất của ổ phúc mạc và tính chất sinh lý của phúc mạc vùng
này là tái hấp thu kém nhất trong toàn ổ bụng vì vậy khi trong ổ bụng có dịch, sẽ
tụ lại ở túi cùng này. Bình thường túi cùng
Douglas là một khoang ảo và khi chứa dịch nó mới đầy lên vì vậy khi thăm trực
tràng hoặc âm đạo, ta sẽ thấy túi cùng này đầy và rất đau. - Qua thăm khám trực
tràng hay âm đạo, ta có thể gián tiếp kiểm tra một số tạng qua thành bên (như ruột
thừa, phần phụ) hoặc thành trước (tuyến tiền liệt, tử cung) Khi thăm trực tràng
hay âm đạo, ta có thể chẩn đoán nguyên nhân một số bệnh như trong tắc ruột ở
người già ta có thể sờ thấy khôí u trực tràng, trong tắc ruột ở trẻ còn bú, nếu đứa
trẻ bỏ bú, ưỡn người, khóc thét cùng với khi thăm trực tràng (bằng ngón tay út) có
máu dính vào găng thì chẩn đoán lồng ruột sẽ được xác định, đối với phụ nữ tự
nhiên xỉu đi, tụt huyết áp mà khi thăm âm đạo có máu ra theo găng thì chắc chắn
là vỡ chửa ngoài dạ con. Thăm trực tràng và âm đạo là một động tác thăm khám tế
nhị vì vậy nó phải được giải thích kỹ về lý do và quy trình thao tác với bệnh nhân
và người nhà của họ trước khi tiến hành. Đối với phụ nữ bao giờ cũng phải có một
người y tá hoặc nhân viên y tế là nữ có mặt trong lúc thăm khám và nếu người phụ
nữ chưa sinh hoạt tình dục thì không được phép thăm khám âm đạo. Thăm khám
được tiến hành trong buồng riêng, bệnh nhân nằm ngửa trong tư thế phụ khoa,
dưới mông được lót một miếng toan nhỏ. Người thăm khám đi găng, sử dụng ngón
trỏ trong thăm trực tràng ở người lớn, ngón út ở trẻ em và ngón trỏ cùng ngón giữa
trong thăm âm đạo. Sau khi đi găng, người khám nhúng ngón tay vào dầu parafin
rồi tiến hành thăm khám. Động tác thăm khám phải hết sức nhẹ nhàng, từ từ và
tuyệt đối không được thô bạo vì sự thô bạo sẽ cho kết quả nhầm do phản ứng của
người bệnh. Trong khi thăm trong, có thể dùng bàn tay còn lại kết hợp nắm trên
thành bụng để phát hiện các dấu hiệu kèm theo. Sau khi tiến hành khám bụng
xong, người thày thuốc phải nghe tim, phổi, khám vùng cổ, cột sống để phát hiện
những bệnh kèm theo và những bệnh kèm theo này có khi giúp đỡ cho chẩn đoán

pháp thăm dò được áp dụng nhiều vì không gây nguy hiểm và đau đớn cho bệnh
nhân. Siêu âm cho phép đánh giá đầu tiên ổ phúc mạc có dịch hay không. Tiếp đến
siêu âm cho phép chẩn đoán xác định một số tạng tổn thương như hình ảnh dãn
đường mật có hoặc không kèm sỏi, viêm và sỏi túi mật, hình ảnh vỡ tạng đặc, tình
trạng tử cung và buồng trứng, tình trạng tuỵ, thận. Đối với tạng rỗng một đôi khi
có thể thấy hình ảnh ruột thừa hoặc khối u của ruột. Đối với mạch máu, siêu âm có
thể xác định được đường kính của tĩnh mạch cửa, phát hiện những túi phình của
động mạch chủ hoặc các động mạch khác trong ổ bụng. Tuy nhiên một nhược
điểm lớn của siêu âm chẩn đoán phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng máy và đặc
biệt là kinh nghiệm và trình độ người đọc siêu âm. - Chụp cắt lớp vi tính. Nhìn
chung hiện nay chụp cắt lớp vi tính chưa là một thăm dò thông thường trong cấp
cứu ở nước ta vả lại giá trị trong chẩn đoán cấp cứu bụng không hơn nhiều siêu
âm. 4. Nội soi đường tiêu hoá (Endoscospy): Trong những trường hợp chảy máu
đường tiêu hoá, một trong những chỉ định rất cần để xác định nguyên nhân chảy
máu là nội soi dạ dày tá tràng. Trước hết nó xác định chảy máu do vỡ búi dãn tĩnh
mạch thực quản hay do ổ loét dạ dày tá tràng hay do đường mật (dịch chảy qua
Oddie có máu hay không), đồng thời nó có thể can thiệp cầm máu tạm thời như
tiêm chất gây xơ vào búi dãn tĩnh mạch thực quản hoặc tiêm thuốc cầm máu ổ
loét. 5. Chọc rửa ổ bụng: Nếu như trong những năm đầu của thế kỷ XX, chọc dò
ổ bụng được đề cập đến trong cấp cứu bụng ngoại khoa nhưng hiện nay phương
pháp này đã đưọc thay thế bằng chọc rửa ổ bụng. Sau khi luồn một catheter ở dưới
rốn hướng xuống Douglas, người ta cho dịch sinh lý chảy vào trong ổ bụng từ 500
đến 1000ml. Sau đó dung nguyên tắc xi phông để cho dịch rửa này tự chảy ra. Nếu
như đại thể xác định rõ dịch chảy ra có máu hoặc dịch tiêu hoá là đủ để chỉ định
mổ nhưng nêú chưa rõ, người ta mang dịch này đi ly tâm đến hồng cầu, bạch cầu
và thử amylase. Chọc rửa ổ bụng cho một giá trị chẩn đoán cao. 6. Nội soi ổ bụng
(Laparoscopy). Trong một số trường hợp nghi ngờ, để tránh mổ bụng thăm dò,
một số cơ sở có điều kiện có thể tiến hành soi ổ bụng để chẩn đoán và qua nội soi
ổ bụng có thể tiến hành các thủ thuật cần thiết như khâu lỗ thủng dạ dày, cắt ruột
thừa, cắt túi mật, gỡ dính ruột. Đây là một hướng mới của ngoại khoa trong thế kỷ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status