Đề tài: "Huy động vốn từ dân cư tại ngân hàng " - Pdf 19

Luận văn
Đề tài: "Huy động vốn từ dân cư tại ngân hàng "
Mục lục
Chương 1 tổng quan về huy động vốn từ dân cư ở ngân hàng
thương mại
1.1. Vai trò huy động vốn đối với ngân hàng thương mại
1.1.1 Các loại vốn của ngân hàng thương mại
1.1.1.1 khái niệm về vốn của ngân hàng thương mại
các ngân hàng có thể tổ chức theo nhiều hình thức khác nhau như ngân
hàng thương mại quốc doanh,ngân hàng thương mại cổ phần, ngân hàng
liên doanh,ngân hàng 100% vốn nước ngoài… nhưng dù tổ chức ở một loại
hình nào các ngân hàng muốn tồn tại và phát triển đều cần một yếu tố hết
sức quan trọng đó là vốn.vốn là cơ sở hinh thành,tổ chức hoạt động của
ngân hàng cũng như quyết định quy mô và năng lục cạnh tranh của ngân
hàng.
Vốn của ngân hàng thương mại là những giá trị tiền tệ mà ngân hàng có
thể huy động được dùng đê cho vay, đầu tư hoặc thực hiện các dịch vụ kinh
doanh khác.
Thực chất vốn của ngân hàng thương mại là một bộ phận của thu nhập
quốc dân tạm thời nhàn rỗi trong quá trình sản xuất, phân phối và tiêu dùng
mà người chủ của chúng gửi vào ngân hàng để thực hiện những mục đích
khác nhau.Hay nói cách khác họ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn tiền tệ
cho ngân hàng để ngân hàng phải trả cho họ một khoản thu nhập.Ngân
hàng đã thực hiện vai trò tập trung và phân phối lại vốn dưới hình thực tệ
,làm tăng nhanh quá trình luân chuyển vốn,kích thích hoạt động kinh doanh
phát triển.Các hoạt động đó quyết định sự tồn tại và phát triển hoạt động
kinh doanh của ngân hàng.
1.1.1.2 Các loại vốn của ngân hàng thương mại
a. Vốn chủ sở hữu của ngân hàng
Vốn chủ sở hữu là vốn do chủ sở hữu đóng góp và lợi nhuận được tích lũy
trong quá trình kinh doanh.Đây là loại vốn mà ngân hàng có thể sử dụng

ngân hàng.
- Lợi nhuận không chia phản ánh lợi nhuận phát sinh trong hoạt động
của ngân hàng không được chia cho cổ đông dưới dạng cổ tức bằng
tiền và lập các quỹ theo quy định của pháp luật
Vốn huy động của ngân hàng
Vốn huy động của ngân hàng là khoản tiền được hình thành trong quá
trình hoạt động của ngân hàng .Bản chất vốn huy động của ngân hàng là
những khoản tiền thuộc sở của nhiều cá nhân tổ chức khác nhau mà ngân
hàng chỉ có quyền sử dụng và có nhiệm vụ hoàn trả cả gốc và lãi khi đến
hạn hoặc khi khách hàng có nhu cầu rút vốn.
Vốn huy động chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn của ngân
hàng(chiếm từ 70%-80% tổng nguồn vốn ).Vốn huy động quyết định
một phần đến lợi nhuận thu được của ngân hàng bởi vì khi huy động vốn
ngân hàng phải trả phí huy động.Muốn kinh doanh có hiệu quả,ngân
hàng phải có những biện pháp nhằm giảm đến mức tối thiểu chi phí của
việc huy dộng ,chú ý đến nguyên tắc quản lí vốn trong ngân hàng.
b. Nguồn vốn huy động của ngân hàng bao gồm:
-Tiền gửi :
Tiền gửi của khách hàng là nguòn tài nguyên quan trọng nhất của ngân
hàng thương mại.Khi một ngân hàng thương mại bắt đầu hoật động
,nghiệp vụ đầu tiên là mở các tài khoản tiền gửi để giữ hộ và thanh toán
hộ khách hàng,bằng cách đó ngân hàng huy động tiền gửi của các cá
nhân doanh nghiệp, tổ chức và dân cư.
Tiền gửi là nguồn tài nguyên quan trọng chiếm tỉ trọng lớn trong tổng
nguòn vốn huy động của ngân hàng.Để gia tăng tiền gửi trong môi
trường cạnh tranh và để có được nguồn tiền chất lượng ngày càng
cao,các ngân hàng đã đưa ra và thực hiện nhiều hình thức huy động
khác nhau.Nhìn chung các khoản mục ngân hàng huy động bao gồm :
+Tiền gửi thanh toán (tiền gửi giao dịch hoặc tiền gửi thanh toán):
Đây là tiền cảu doanh nghiềp hoặc cá nhân gứi vào ngân hàng để nhờ

mở rộng mạng lưới huy động ,đưa ra các hình thức huy động đa dạng và
lãi suất cạnh tranh hấp dẫn (ví dụ như tiền gửi với các khoản khác
nhau ,tiết kiệm bằng vàng bằng ngoại tệ…).Ngân hàng có thể mở cho
mỗi người tiết kiệm nhiều sổ tiết kiệm cho mỗi kì hạn và mỗi lần gửi
khác nhau.Sổ tiết kiệm không được dùng để thanh toán tiền hàng và dịch
vụ song có thể thế chấp để vay vốn nếu ngân hàng cho phép.
+Tiền gửi của các ngân hàng khác :
Nhằm mục đích thanh toán hộ và một số mục đích khác,ngân hàng
thương mại này có thể gửi tiền tại ngân hàng thương mại khác .Tuy
nhiên quy mô nguồn này thường không lớn
c.Nguồn đi vay và nghiệp vụ đi vay của ngân hàng thưong mại
Tiền gửi là nguồn quan trọng nhất của ngân hàng thương mại.Tuy
nhiên,khi cần, ngân hàng thường vay thêm.Tại nhiều nước,ngân hàng
Trung ương thưòng quy định tỷ lệ giữa nguồn tiền huy động và vốn
của chủ.Do vậy nhiều ngân hàng vào những giai đoạn cụ thể phải
vay mượn để đáp ứng nhu cầu chi trả khi khả năng huy động bị hạn
chế.
*Vay ngân hàng Trung ương
Đây là khoản vay nhằm giải quyết nhu cầu cấp bách trong chi trả của ngân
hàng thương mại.Trong trường hợp thiếu hụt dự trữ(thiếu dự trữ bắt
buộc,dự trữ thanh toán),ngân hàng thương mại thường vay ngân
hàng nhà nước .Hình thức cho vay chủ yếu của ngân hàng Nhà nước
là tái chiết khấu(hoặc tái cấp vốn).Các thương phiếu đã được các
ngân hàng thương mại chiết khấu(hoặc tái chiết khấu) trở thành tài
sản của họ.Khi cần tiền ngân hàng thương mại mang những thương
phiếu này lên tái chiết khấu tại các ngân hàng Nhà nước.Nghiệp vụ
này làm thương phiếu của ngân hàng thương mại giảm đi và dự
trữ(tiền mặt hoặc tiền gửi tại các ngân hàng Nhà nước) tăng lên.Ngân
hàng Nhà nước điều hành vay mượn này một cách chặt chẽ,ngân
hàng thương mại phải thực hiện các điều kiện đảm bảo và kiểm soát

ngân hàng nhỏ thường khó vay mượn trực tiếp bằng cách này,họ
thường phải vay mượn thông qua các ngân hàng đại lí hoặc được báo
lãnh của ngân hàng Đầu tư.Khả năng vay mượn còn phụ thuộc vào
trình độ phát triển của thị trường tài chính,tạo khả năng chuyển đổi
cho các công cụ nợ dài hạn của ngân hàng .Nghiệp vụ vay mượn của
ngân hàng tương đối phức tạp.Ngân hàng cần nghiên cứu kĩ thị
trường để quyết định quy mô,mệnh giá ,lãi suất và thời hạn vay
mượn thích hợp .Các vấn đề chuyển nhượng, điều chỉnh lãi suất,bảo
quản hộ cũng được các ngân hàng quan tâm.
d.Các nguồn khác
Loại này bao gồm nguồn uỷ thác,nguồn trong thanh toán và các nguồn
khác.
*Nguồn uỷ thác
Ngân hàng thương mại thực hiện các dịch vụ uỷ thác như uỷ thác cho
vay,uỷ thác đầu tư,uỷ thác cấp phát,uỷ thác giải ngân và thu hộ…Các
hoạt động này tạo nên nguồn uỷ thác tại ngân hàng.Ví dụ:Ngân hàng
Nông nghiệp và phát triển nông thôn cho vay uỷ thác hộ cho Nhà
nước đối với một số dự án trồng rừng với nguồn ngân sách hay
nguồn ODA.Theo hợp đồng giữa các bên,các nguồn vốn được
chuyển về ngân hàng Nông nghệp và Phát triển nông thôn, để từ đó
chuyển tải đến các địa điểm đã được xác định trước.Cùng với sự
phát triển của các mối quan hệ đa phương ,rất nhiều các tổ chức kinh
tế xã hội có cùng mục tiêu phát triển của ngân hàng,có nguồn tài
chính, đã sử dụng mạng lưới ngân sách như các kênh dẫn vốn tới các
mục tiêu.Kết quả là hình thành các nguồn ủy thác ,làm gia tăng
nguồn vốn ngân hàng.
*Nguồn vốn trong thanh toán
Các hoạt động thanh toán không dung tiền mặt có thể hình thành nguồn
trong thanh toán (séc trong quá trình chi trả,tiền kí quỹ để mở
L/C…) Những ngân hàng là ngân hàng đầu mối trong đồng tài trợ có

thanh toán thường biến động mạnh(kém ổn định) hơn tiền gửi tiết
kiệm.
Các ngân hàng cần nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến tiền gửi thông
qua nghiên cứu đặc điểm thị trường nguồn tiền của các ngân hàng để
có biện pháp quản lí và sử dụng thích ứng.Tuy nhiên ngân hàng
thường khó biết được chính xác việc thay đổi quy mô và kết cấu của
tiền gửi.
1.2.2. Đặc điểm nguồn đi vay và các nhân tố ảnh hưởng khác.
Tỷ trọng của loại nguồn này trong tổng nguồn thường thấp hơn nguồn tiền
gửi,trừ đi một số ngân hàng hoạt động bán buôn.Các khoản đi vay
thường là với thời hạn và quy mô xác định trước,do vậy tạo thành
nguồn ổn định cho các ngân hàng.Khác với nhận tiền gửi ngân
hàng,không nhất thiết phải đi vay thường xuyên:ngân hàng chỉ vay
lúc cần thiết ,ngân hàng hoàn toàn chủ động quyết định khối lượng
vay với nhu cầu sử dụng.Nguồn vay có thể không phải chịu dự trữ
bắt buộc và bảo hiểm tiền gửi.Tuy nhiên,do rủi ro lớn hơn nên lãi
suất trả cho tiền vay thường lớn hơn lãi suất cho tiền gửi với cùng kì
hạn.Các khoản vay ngân hàng Nhà nước và vay ngân hàng khác tuy
lãi suất thấp song thường có thời hạn ngắn,chỉ nhằm đảm bảo thanh
toán tức thời cho ngân hàng.Việc cho vay của ngân hàng Nhà nước
phụ thuộc rất lớn vào chính sách tiền tệ mà ngân hàng Nhà nước theo
đuổi trong từng thời kì.Việc vay mượn các ngân hàng khác trên cùng
địa bàn cũng gặp khó khăn khi nhiều ngân hàng đang thiếu phương
tiện thanh toán .Muốn mở rộng quy mô vay mượn trên thị trường
liên ngân hàng,một ngân hàng cần vươn tới thị trường liên ngân hàng
quốc tế với khả năng phân tích rủi ro lãi suất và rủi ro hối đoái.
Vậy thông qua phát hành các giấy nợ trung và dài hạn đóng vai trò quan
trọng trong việc tạo và gia tăng các nguồn trung và dài hạn ổn định
cao cho các ngân hàng.Ngân hàng có thể sử dụng các nguồn này để
cho vay các dự án,tài trợ trang thiết bị và bất động sản của các doanh

tháng 12 năm 2004 của Hội đồng Quản trị Ngân hàng Nông Nghiệp và
Phát triển nông thôn Việt Nam.
Ban giám đốc:Gồm 1 giám đốc và các phó giám đốc trực tiếp quản ly
điều hành toàn diện hoạt động kinh doanh tại trung tâm và các chi nhánh
trục thuộc
2.1.1.1 .mạng lưới hoạt động của chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp và
phát triển nông thông Hà Nội
Là một chi nhánh ngân hàng thương mại quốc doanh lớn nhất trên đia
bàn thủ đô Hà Nội ,cơ cấu tổ chức của Chi nhánh Ngân hàng Nông Nghiệp
và Phát triển Nông thôn Hà nội lại thường xuyên có sự biến động,
Tháng 9 năm 1991,7 chi nhánh Ngân hàng huyện thị Mê Linh,Hoài
Đức, Đan Phượng,Thạch Thất,Ba Vì,Phú Thọ,Thị xã Sơn Tây được bàn
giao về Vĩnh Phú, Hà Tây.
Tháng 10 năm 1995, có 5 Chi nhánh Sóc Sơn, Đông Anh,Thanh Trì,Từ
Liêm,Gia Lâm trở thành đơn vị trưch thuộc của Ngân hàng Nông Nghiệp
và Phát Triển nông thôn Việt Nam.Lúc này Chi nhánh Ngân Hàng Nông
nghiệp và Phát Triển Nông thôn Hà Nội chỉ hoạt động trong pham vi thành
phố Hà Nội.
Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Hà Nội đã
nhận rõ trách nhiệm của mình trong việc phát triển kinh tế nông
nghiệp,nông thôn,góp phần đổi mới nông thôn ngoại thành, đẩy mạnh công
nghiệp hóa,hiện đại hóa kinh tế Thủ đô Hà Nội.Do đó,Chi nhánh Ngân
hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Nội đã tìm các giải pháp tích
cực khai thác được nhiều nguồn vốn để đầu tư cho các thành phần kinh tế
mà trước hết là đầu tư cho nông nghiệp. Để tồn tại và phát triển trong cơ
chế thị trường,Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Hà Nội trước hết đã mở rộng mạng lưới hoạt động để huy động và đáp ứng
nhu cầu vốn tín dụng của các thành phần kinh tế trên địa bàn
Năm 1994 thành lập Ngân hàng khu vực Chợ Hôm(nay la Hai Bà
Trưng)

cá nhân trong và ngoài nước trên đia bàn đồng bằng Việt Nam và ngoại tệ
dưới nhiều hình thức linh hoạt
- Phát hành chứng chỉ tiền gửi,trái phiếu,kỳ phiếu ngân hàng và thực
hiện các hình thức huy động khác nhau theo quy đinh của Ngân hàng Nông
Nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam
- Được phép vay vốn của các tổ chức khác trên địa bàn .
- tiếp nhận các nguồn vốn tài trợ, vốn ủy thác cua chính phủ, chính
quyền địa phương và các tổ chúc cá nhân trong nước và ngoài nứơc
theo quy định cua ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
Việt Nam.
- Cho vay ngắn hạn, trung và dài hạn bằng Việt Nam đồng và bằng
ngoại tệ đối với tất cả các thành phần kinh tế để sản xuất kinh doanh
và tieu dùng.
- thực hiện thu chi tiền mặt, cân đối diều hòc vốn với các chi nhánh
NHNo&PTNT trực thuộc.
- thực hiện kinhh doanh mua bán, thu đổi ngoại tệ, thanh toán quốc tế
và các dịch vụ khác về ngoại tệ theo quy định cua Ngân hàng nhà
nước Việt Nam.
- Cung cấp các dịch vụ ngân hàng cho khách hàng như dịch vụ thẻ
ATM,dịch vụ chuyển tiền trong và ngoài nước, bảo lãnh,L/C ,két sắt,
mô giới, cầm cố chứng từ co giá,vàng và bất động sản , thu chi
hộ,dịch vụ tư vấn,dịch vụ kiều hối,dịch vu ngân quỹ và dịch vu khác
- thực hiện đầu tư dưới các hình thức hùn vốn kinh doanh và các hình
thức khác với các tổ chức cá nhân trong nền kinh tế.
- Thực hiện công tác thanh tra kiểm tra kiểm toán nội bộ và với các chi
nhánh ngân hàng trực thuộc.
2.1.2 tình hình hoạt động kinh doanh tại ngân hàng
Trong những năm qua Chi nhánh Ngân hàng Nông Nghiệp và phát
triển nông thôn Hà Nội đã tận dụng thuận lợi,khắc phục khó khăn để góp
phần phát triển kinh tế thủ đô theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành Phố

huy động bằng VNĐ vừa huy động bằng ngoại tệ như USD , EUR;áp dụng
nhiều hình thức trả lãi như trả lãi trước,trả lãi sau,trả lãi hàng tháng,trả lãi
hàng quý với các hình thức huy động như tiết kiệm bậc thang,tiết kiệm
khuyến mãi đối với khách hàng có số dư tiền gửi lớn,tiết kiệm dự
thưởng,tiết kiệm dư thưởng bằng vàng…đông thời chi nhánh cũng linh
hoạt điều chỉnh lãi suất huy động vốn nội tệ,ngoại tệ kịp thời đã góp phần
nâng cao chất lượng,số lượng huy động vốn tư các thành phần kinh tế và
dân cư.Không những thế phong cách giao dịch được thay đổi ngay một tốt
hơn nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất trong giao dịch với khách hàng…
2.1.2.2 Sử dụng vốn
Cho vay là chức năng kinh tế quan trọng hàng đầu của Ngân hàng
thương mại nói chung và của Chi Nhánh Ngân hàng nông nghiệp và phát
triển nông thôn Hà Nội nói riêng.Hoạt động cho vay của ngân hàng có hiệu
quả có mối quan hệ mật thiết với tình hình phát triển của kinh tế thủ đô Hà
Nội,bởi cho vay thúc đẩy sự tăng trưởng của các doanh nghiệp,tạo sức sống
mới cho nền kinh tế.
(đơn vị: tỉ đồng)
năm
chỉ tiêu
2005 2006 2007
Doanh số cho vay 5452 18460 21223
Doanh số thu nợ 5901 18471 22125
tổng dư nợ 2690 2457 3462
(nguồn: báo cáo kết quả kinh doanh 2005-2007)
Trong đó doanh số cho vay ngắn hạn chiếm tỉ trọng cao nhất(70%).Loại
hinh cho vay này co thời hạn dưới 12 tháng và được sử dụng để bù đắp sự
thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp và các nhu cầu chi tiêu ngắn
hạn của cá nhân.Chi nhánh ngân hàng Nông nghiệp va Phát triển nông thôn
Hà Nội đã không ngừng củng cố,duy trì các mối quan hệ với khách hàng
truyền thống,nghiên cứu thị trường để tìm khách hàng mới,đồng thời chú

mình.
*về xuất khẩu
Đơn vị:ngàn USD
năm
chỉ tiêu
2005 2006 2007
số món số tiền số món số tiền
số
món
số tiền
chứng chi đòi tiền
53 1.028 54 1.464 126 3.200
Thu tiền
46 996 52 1.427 115 2.800
chuyển tiền tới
230 6.080 408 12.132 520 14.000
(nguồn :báo cáo kết quả kinh doanh 2005-2007)
Về nhờ thu xuất khẩu: Năm 2006 đã gửi 54 bộ chứng từ đòi tiền trị giá
1464 ngàn USD tăng 1 món ,436 ngàn so với 2005.năm 2007 gửi 126 bộ
chứng từ có trị giá 3200 ngàn USD,tăng 72 món so với 2006.
Về thu tiền:năm 2006 thu 52 món giá trị 1427 ngàn USD tăng 6 món, 431
ngàn USD so với 2005;năm 2007 đã thu tiền 115 món trị giá 2800 ngàn
USD tăng 62 món so với 2006.
Về chuyển tiền đến: Năm 2006 với 408 món trị giá 12132 ngàn USD tăng
178 món,6046 ngàn USD so với 2005.Năm 2007 với 520 món trị giá 14000
ngàn USD tăng 112 món ,1868 ngàn USD so với 2005
*về nhập khẩu:
Đơn vi: triệu USD
Năm
chỉ tiêu

hiểm,dịch vụ bảo lãnh,ATM,thẻ tín dụng nội địa,thẻ ghi nợ.,thanh toán thẻ
ACB,Master Card,Visa Card,American Express,thanh toán séc du lich…
Đến hết 2007 có trên 60000 tài khoản cá nhân có số dư trên 150 tỷ VNĐ
trong đó có gần 51600 thẻ ghi nợ với số dư gần 100 tỉ đồng.Doanh số hoạt
động với trên 350000 món.Việc phát hanh thẻ ghi nọ thực sự đem lại thuận
tiện đối với nhân dân và hiệu quả kinh doanh cho chi nhánh ngân hàng
nông nghiệp và phát triển nông thôn Hà Nội.Chi nhánh đã triển khai chi
lương qua tài khoản cho 146 đơn vị: trong đó 94 đơn vị hành chính sự
nghiệp,52 đơn vị kinh doanh,trả lương hưu trí 11 phuờng và nhiều cá
nhân… với tổng số thẻ đã phát hành 51644 tăng 14810 thẻ so với 2006.
2.1.2. 4. Các hoạt động khác
* công tác đào tạo cán bộ: Năm 2007 đã thực hiện tốt công tác đào tạo và
đào tạo lại, bồi dưỡng học tập các văn bản mới các mặt nghiệp vụ Ngân
hàng,căn cứ trình độ, sở trường năng lực của cán bộ đã tham mưu giúp ban
lãnh đạo phân công đúng người đúng việc đã phát huy được hiệu quả trong
công việc.Đã đào tạo 25 lớp tại chi nhánh với 1700 lượt cán bộ các mặt
nghiệp vụ như Tín dụng,Thanh toán Quốc tế,Kế toán ngân quỹ…Cử đi đào
tạo 17 lớp với 68 lượt cán bộ…Bình quân 25 ngày /1 cán bộ/1năm.
* công tác kiểm tra kiểm soát, phúc tra được chú trọng cả số lượng và chất
lượng,kết hợp cả 2 hình thức kiểm soát tại chỗ và kiểm soát từ xa.Chi
nhánh ngân hàng coi đây là nhiệm vụ thường xuyên và hết sức quan trọng
nhằm nâng cao chất lượng hoạt động kinh doanh nhất là công tác tín
dụng,an toàn kho quỹ,quản lý thẻ phiếu trắng trong an toàn giao dịch,an
toàn tài sản hạn chế rủi ro trong kinh doanh.
*công tác thi đua khen thưởng được phát động thường xuyên,đẩy mạnh vai
trò đoàn thể Công đoàn,Đoàn thanh niên,Phụ nữ…phát huy sáng kiến cải
tiến nghiệp nghiệp vụ,động viên khen thưởng kịp thời tổ chức và cá nhân
lao động xuất sắc
2.2 Thực trạng huy động vốn tiền gửi từ dân cư tại chi nhánh ngân
hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Hà Nội.

dự thưởng
54 1,7 57 1,6 64 2,2
(nguồn :báo cáo huy động tiền gửi 2005-2007 tại NHNo&PTNT Hà Nôi )
Số liệu trong bảng cho thấy các sản phẩm huy động tiền gửi dân cư của chi
nhánh NHNo-PTNT Hà Nội đã ssược đa dạng hóa.Trước 2005,chỉ có 1
hành thức huy động tiét kiệm thông thường ,nhưng từ khi ra đời 2 sản
phẩm mới này có nhiều ưu thế ,đem lại cho khác hàng nhiều tiện ích nên
được khách hàng quan tâm và tham gia rộng rãi.Tuy vậy,tiết kiệm thông
thường vẫn là hình thức huy động chủ yếu và huy động được lượng tiền gửi
lớn nhất cho ngân hàng.
Tỷ trọng tiết kiệm thông thường qua các năm là:năm 2005 chiếm 75% ,năm
2006 là 73,6% và năm 2007 là 64,9% so với tổng nguồn tiền gửi tiết kiệm
từ dân cư.Điều này cho thấy hình thức huy động tiết kiệm thông thường
vẫn có sức hấp dẫn với khách hàng.Tuy nhiên đang có sự tăng lên trong tỷ
trọng của tiết kiệm bậc thang và tiết kiệm dự thưởng do khách hàng đã hiểu
rõ hơn về hình thức huy động mới này và nhân thấy được tiện ích mà nó
mang lại
2.2.1.1.Tiết kiệm thông thường
Đây là hình thức huy động các khoản tiền tạm thời nhàn rỗi từ dân cư cũng
như công dân nước ngoài có thời hạn lưu trú hợp pháp tại Việt Nam bằng
VNĐ và ngoại tệ.Loại hình tiết kiệm này có nhiều kì hạn linh hoạt :không
kì hạn,có kì hạn 1 tháng ,2 tháng,3 tháng,6 tháng,9 tháng,12 tháng ,18
tháng,24 tháng và lớn hơn 24 tháng;tươgn ứng với mỗi kì hạn và loại tiền
lại có 1 mức lãi suất phù hợp để khách hàng lựa chọn.Đối với tiền gửi tiết


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status