Đề tài
“Một số giải pháp nhằm hoàn thiện
và phát triển phương thức thanh
toán tín dụng chứng từ tại Ngân
hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam
chi nhánh Hà Nội”
MỤC LỤC
Lời nói đầu
Trước xu thế kinh tế thế giới ngày càng được quốc tế hóa, các nước trên thế giới
đều thực hiện mở cửa, hợp tác và hội nhập. Trong bối cảnh đó hoạt động kinh tế
đối ngoại đóng vai trò hết sức quan trọng, nó trở thành cầu nối giúp các quốc gia
xích lại gần nhau hơn. Là một nước đang phát triển, Việt Nam cũng sử dụng
thương mại như chiếc cầu nối để tiếp cận với thế giới. Thông qua hoạt động kinh
tế đối ngoại giúp Việt Nam không những khai thác và sử dụng hiệu quả các nguồn
lực, nguồn tài nguyên, nguồn vốn sẵn có của mình mà cong tận dụng được các
nguồn lực, vốn của các nước tiên tiến nhằm đáp ứng tối đa nhu cầu của mình. Do
đó phát triển hoạt động kinh tế đối ngoại là vấn đề thiết yếu đối với mỗi quốc gia
trong giai đoạn phát triển này.
Để hoạt động kinh tế đối ngoại của mỗi quốc gia phát triển thì vấn đề then
chốt là phát triển các hoạt động thanh toán quốc tế. Có rất nhiều phương thức
thanh toán quốc tế khác nhau, mỗi phương thức có những ưu việt riêng của nó, tuy
vậy, trong giai đoạn hiện nay, phương thức thanh toán tín dụng chứng từ là
phương thức thanh toán sử dụng phổ biến nhất do những ưu điểm vượt trội của nó
so với các phương thức thanh toán khác. Tuy nhiên, trong thực tế tham gia quá
trình thương mại quốc tế, có rất nhiều lý do khác nhau đã làm cho hiệu quả
phương thức thanh toán này của chúng ta còn khá thấp và bọ hạn chế nhiều. Điều
này có ảnh hưởng lớn đến hoạt động kinh tế đối ngoại nói chung và hoạt động
xuất nhập khẩu nói riêng. Chính vì vậy việc nâng cao hiệu quả sử dụng phương
thức thanh toán tín dụng chứng từ nhằm bảo vệ quyền lợi cho các doanh nghiệp
xuất nhập khẩu trong nước cũng như quyền lợi chính của các ngân hàng đã và
đang là nhiệm vụ chính đặt ra cho các ngân hàng
về tiền tệ phái sinh trên cơ sở các hoạt động kinh tế và phi kinh tế giữa các tổ
chức, cá nhân nước này với tổ chức, cá nhân nước khác, hay giữa một quốc gia
với tổ chức quốc tế, thông qua quan hệ giữa các ngân hàng của các quốc gia với
nhau.
Hoạt động thanh toán quốc tế được phân chia thành hai lĩnh vực là: Thanh toán
trong ngoại thương ( thanh toán mậu dịch) và Thanh toán phi ngoại thương (thanh
toán phi mậu dịch).
Thạnh toán quốc tế trong ngoại thương: Là việc thực hiện thanh toán trên cơ
sở hàng hóa xuất nhập khẩu và các dịch vụ cung ứng cho nước ngoài theo giá cả
thị trường quốc tế. Cơ sở để các bên tiến hành mua bán và thanh toán cho nhau là
hợp đồng ngoại thương.
Thanh toán phi ngoại thương là việc thực hiện thanh toán không liên quan đến
hàng hóa xuất nhập khẩu cũng như cung ứng lao vụ cho nước ngoài, tức là thanh
toán cho các hoạt động không mang tính thương mại. Đó là việc chi trả các chi phí
cho cơ quan ngoại giao ở nước ngoài, các cho phí đi lại ăn ở của các đoàn khách
nhà nước, tổ chức và cá nhân, các nguồn tiền quà biếu, trợ cấp của cá nhân người
nước ngoài cho cá nhân người trong nước, các nguồn trợ cấp của một tổ chức từ
thiện nước ngoài cho tổ chức đoàn thể trong nước.
1.1.2
Vai trò của Thanh toán quốc tế
a.
Vai trò của Thanh toán quốc tế đối với nền kinh tế
Trước xu thế kinh tế thế giới ngày càng được quốc tế hóa, các quốc gia đang ra
sức phát triển kinh tế thị trường, mở cửa, hợp tác và hội nhập. Thanh toán quốc tế
trở thành chiếc cầu nối giữa kinh tế trong nước và kinh tế thế giơí, có tác dụng bôi
trơn và thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ, đầu tư nước
ngoài, thu hút kiều hối và các quan hệ tài chính, tín dụng quốc tế khác.Trong bối
cảnh hiện nay, mỗi quốc gia đều đặt hoạt động kinh tế đối ngoại lên hàng đầu thì
vai trò của hoạt động thanh toán quốc tế càng đặc biệt quan trọng trong nền kinh
tế quốc dân nói chung và hoạt động kinh tế đối ngoại nói riêng.
động, đặc biệt là vốn bằng ngoại tệ…
Việc hoàn thiện và phát triển hoạt động TTQT có vai trò hết súc quan trọng đối
với hoạt động ngân hàng, nó không chỉ là một hoạt động thanh toán thuần túy, mà
còn là khâu trung tâm không thể thiếu trong dây chuyền hoạt động kinh doanh, bổ
sung và hỗ trợ các hoạt động kinh doanh khác của ngân hàng.
Thông qua cung cấp dịch vụ TTQT cho khách hàng, ngân hàng thu một khoản phí
để bù đắp các chi phí của ngân hàng và tạo ra lợi nhuận kinh doanh cần thiết. Tùy
theo các phương thức thanh toán, môi trường cạnh tranh và độ tín nhiệm của
khách hàng mà biểu phí mà mức phí dịch vụ áp dụng là khác nhau cho các khách
hàng khác nhau. Biểu phí dịch vụ TTQT tạo nên doanh thu và lợi nhuận của
NHTM.
Đối với NHTM hiện đại thì thu nhập từ phí dịch vụ có xu hướng tăng không
những cả về số lượng mà cả về tỷ trọng. Hơn nữa, các NHTM ngày nay hoạt động
là đa năng, tạo ra một dây chuyền kinh doanh khép kín, mỗi nghiệp vụ tạo ra một
mắt xích không thể thiếu, trong đó hoạt động TTQT được xác định là hoạt động
căn bản, làm tiền đề cho các nghiệp vụ khác phát triển như kinh doanh ngoại tệ,
tào trợ xuất nhập khẩu, bảo lãnh ngân hàng trong ngoại thương…
1.1.3
Các phương thức TTQT chủ yếu
1 ) Phương thức ứng trước – advanced payment
a. Khái niệm
Người mua chấp nhận giá hàng của người bán và chuyển tiền thanh toán cùng
với đơn đặt hàng chắc chắn (không hủy ngang), nghĩa là việc thanh toán được
thực hiện trước khi hàng hóa được bán, gửi đi.
c.
Ưu điểm đối với các bên:
Đối với nhà nhập khẩu
- Khả năng chắc chắn nhận được hàng hóa ngay cả khi nhà xuất khẩu vì một lý do
nào đó không muốn giao hàng
- Do thanh toán trước nên người nhập khẩu có thể thương lượng với nhà xuất khẩu
a) Khái niệm:
Là phương thức thanh toán, trong đó nhà xuất khẩu sau khi hoàn thành giao hàng
thì ghi nợ tài khoản cho bên nhập khẩu vào một cuốn sổ theo dõi và việc thanh
toán các khoản nợ này được thực hiện thông thường theo định kì như đã thỏa
thuận.
b) Đặc điểm:
- Không có sự tham gia của ngân hàng với với chức năng là mở tài khoản và
thực hiện thanh toán.
- Chỉ mở tài khoản đơn biên, không mở tài khoản song biên. Nếu người nhập
khẩu mở tài khoản để ghi thì tài khoản này chỉ là tài khoản theo dõi, không có
hiệu lực thanh quyết toán.
- Chỉ có hai bên tham gia thanh toán là nhà xuất khẩu và NK.
- Hai bên mua bán phải thực sự tin tưởng lẫn nhau.
- Dùng chủ yếu trong mua bán hàng đổi hàng hay cho một loạt các chuyến
hàng thường xuyên, định kì trong một thời gian nhất định.
- Giá hàng trong phương thức ghi sổ thường cao hươn giá hàng bán trả tiền
ngay.
3. Phương thức chuyển tiền – Remittance
a/ Khái niệm và đặc điểm
Chuyển tiền là phương thức thanh toán, trong đó khách hàng (người chuyển
tiền) yêu cầu ngân hàng phục vụ mình chuyển một số tiền nhất định cho một
người khác (người hưởng lợi) theo một địa chỉ nhất định và trong một thời gian
nhất định.
Là phương thức đơn giản, người chuyển tiền và người nhận tiền thanh toán
trực tiếp với nhau.
Ngân hàng chỉ đóng vai trò trung gian, và hưởng phí.
Trong thanh toán chuyển tiền, việc có trả tiền hay không phụ thuộc vào
thiện chí của người mua. Người mua sau khi nhận hàng có thể không tiến hành
chuyển tiền, hoặc cố tình dây dưa, kéo dài thời hạn chuyển tiền nhằm chiếm dụng
vốn của người bán do đó làm cho quyền lợi của người bán không được đảm bảo.
đại lý cho mình. NH phục vụ người bán có thể tùy chọn NHTH. Người bán có
được các đại lý uy tín
Và được thừa nhận là các NH, ngay cả tại nước người mua. Hơn nữa, toàn bộ quy
trình nhờ thu được xử lý theo một quy tắc và tập quán thực hành ngân hàng quốc
tế thống nhất (URC). Chính vì thế mà người bán có được vị thế và điều kiện tốt
hơn trong việc xử lý các tình huống khi mà người mua không thanh toán hoặc
chấp nhận thanh toán.
Đối với người mua: Nếu không tính đến các điều kiện đặc biệt, thì người mua chỉ
trả tiền khi sau khi hàng đã tới đích; hơn nữa việc nhận hàng thường diễn ra không
muộn hơn thời điểm phải trả tiền.
1.2 Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ
1.2.1 Khái niệm:
Điều 2, UCP 600 định nghĩa về Tín dụng chứng từ như sau: Tín dụng chứng từ
là một thỏa thuận bất kỳ, cho dù được mô tả hay gọi tên như thế nào, thể hiện một
cam kết chắc chắn và không hủy ngang cua NHPH về việc thanh toán khi xuất
trình phù hợp.
Tên gọi của Tín dụng chứng từ là không bắt buộc, và có thể là bất cứ tên gọi
nào, miễn là nội dung của nó thể hiện một thỏa thuận, theo đó một ngân hàng hành
động theo yêu cầu hoặc theo chỉ thị của một khách hàng hoặc trên danh nghĩa
chính mình phải trả tiền hoặc trả tiền theo lệnh của một người khác hoặc chấp
nhận và trả tiền hối phiếu do ngừời này kí phát, khi bộ chứng từ quy định được
xuất trình và tuân thủ các điều kiện của Tín dụng.
Đặc điểm của giao dịch L/C:
1/ L/C là hợp đồng kinh tế hai bên:
L/C là hợp đồng kinh tế hai bên giữa NHPH và người thụ hưởng. Mọi yêu
cầu và chỉ thị của người xin mở L/C đã do NHPH đại diện, do đó tiếng nói chính
thức của người xin mở L/C không được thể hiện trong L/C.
2/L/C độc lập với hợp đồng cơ sở và hàng hóa:
Về bản chất, L/C là một giao dịch hoàn toàn độc lập với hợp đòng ngoại
thương hoặc hợp đồng khác mà hợp đồng này là cơ sở để hình thành giao dịch
xem xét trên bề mặt chứng từ, chứ không xem xét tính chất bên trong của chứng
từ, chính vì điều bày mà không ít các tranh chấp xảy ra về tính chất tuân thủ chặt
chẽ của chứng từ. Trong thực tế lập được một bộ chứng từ hoàn hảo không có bất
cứ sai sót nào là một việc làm không hề dễ chút nào, hơn nữa, giga phù hợp và sai
sót lại có ranh giới thật mong manh, tùy thuộc vào tập quán, trình độ, quan điểm,
động cơ của những người liên quan. Ngoài ra, do tính chất độc lập của L/C với
hợp đồng cơ sở, nên bọn lừa đảo có thể lợi dụng không giao hàng hoặc giao hàng
không đúng, nhưng vẫn lập bộ chứng từ để thanh toán.
1.2.2 Các bên tham gia:
1. Người yêu cầu, Người mở, Người xin mở (Applicant):
Là bên mà L/C được phát hành theo yêu cầu của họ. Người mở thường là
người NK, yêu cầu NH phục vụ mình phát hành một L/C và có trách nhiệm pháp
lý về việc NHPH trả tiền cho người thụ hưởng L/C.
2. Người thụ hưởng (Beneficiary): Là bên hưởng lợi L/C được phát hành, nghĩa là
được hưởng số tiền thanh toán hay sở hữu hối phiếu đã chấp nhận thanh toán của
L/C. Người thụ hưởng có thể là người bán (seller), nhà XK (exporter), người kí
phát hối phiếu (drawer)…
3. NHPH (Issuing bank):LàNH thực hiện phát hành L/C theo yêu cầu của người
mở, nghĩa là nó đã cấp tín dụng cho Người mở. NHPH thường được hai bên mua
bán thỏa thuận và quy định trong hợp đồng mua bán.
4. NHTB (Advising bank):LàNH thực hiện thông báo L/C cho NTH theo yêu cầu
của NHPH. NHTB thường là Ngân hàng đại lý hay một chi nhánh của NHPH ở
nước nhà XK.
5. NHXN (confiming bank): Là ngân hàng bổ sung sự xác nhận của mình đối với
L/C theo yêu cầu hoặc theo sự ủy quyền của NHPH.
6. NHđCĐ (Nominated bank): Là ngân hàng mà tại đó L/C có giá trị thanh toán
hoặc chiết khấu, hoặc bất cứ ngân hàng nào nếu L/C có giá trị tự do
Quy trình thanh toán TDCT
Bước 1: Hai bên mua bán kí kết hợp đồng ngoại thương với điều khoản thanh toán
theo phương thức L/C.
- Địa điểm và ngày phát hành thư tín dụng:
Địa điểm phát hành thư tín dụng là nơi ngân hàng phát hành mở thư tín dụng
để cam kết trả tiền cho người thụ hưởng. Địa điểm còn cóý nghĩa quan trọng, liên
quan đến việc tham chiếu luật lệđể giải quyết khi có những bất đồng.
Ngày phát hành thư tín dụng, là ngày bắt đầu phát sinh và có hiệu lực về sự
cam kết của ngân hàng phát hành thư tín dụng đối với người thụ hưởng. Là ngày
bắt đầu tính thời hạn hiệu lực thư tín dụng và cũng là căn cứđể người xuất khẩu
kiểm tra xem người nhập khẩu có thực hiện mở thư tín dụng đúng thời hạn nhưđã
thoả thuận trong hợp đồng thương mại.
- Loại thư tín dụng:
Trong đơn đề nghị mở thư tín dụng người nhập khẩu phải nêu rõ loại thư tín
dụng cần mở.
Tên, địa chỉ của những thành phần liên quan đến phương thức thanh toán tín
dụng chứng từ.
- Số tiền của thư tín dụng ( kim ngạch).
Số tiền của thư tín dụng phải được ghi rõ bằng số và bằng chữ và phải thống
nhất với nhau. Đơn vị tiền tệ phải rõ ràng không nên ghi số tiền dưới dạng một số
tuyệt đối vì như vậy sẽ gây khó khăn trong việc giao hàng và thanh toán cho người
xuất khẩu. Trong thư tín dụng thường ghi số tiền ở một số lượng giới hạn mà
người xuất khẩu có thể thực hiện được.
- Thời hạn hiệu lực của thư tín dụng.
Thời hạn hiệu lực của thư tín dụng là khoảng thời gian mà ngân hàng phát
hành cam kết trả tiền cho người thụ hưởng, khi người này xuất trình bộ chứng từ
trong thời hạn đó và phù hợp với các điều khoản của thư tín dụng.
Thời hạn hiệu lực của thư tín dụng có liên quan đến một số thời hạn sau:
+ Ngày giao hàng. Ngày giao hàng phải nằm trong thời hạn hiệu lực của thư
tín dụng và không được trùng với ngày cuối cùng hết hiệu lực của tín dụng.
+ Ngày xuất trình chứng từ thanh toán. Sau khi giao hàng, trong một thời
gian hợp lý người xuất khẩu phải lập bộ chứng từ theo quy định, xuất trình tới
ngân hàng để thanh toán. Ngày xuất trình chứng từ cũng nằm trong hiệu lực của
+ Hối phiếu thương mại.
+ Hoáđơn thương mại đã ký.
+ Vận đơn đường biển.
+ Bảng kêđóng gói chi tiết.
+ ……….
…………….
- Cam kết của ngân hàng phát hành thư tín dụng.