Luận văn
1
Đề tài: "Một số giải pháp nhằm hoàn thiện, nâng
cao hiệu quả công tác hạch toán tiền lương và các
khoản trích theo lương ở Công ty may Thăng
Long"MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU
Lịch sử phát triển xã hội loài người từ trước đến nay đã trải qua nhiều
hình thái kinh tế xã hội khác nhau, phản ánh trình độ phát triển của lực lượng
sản xuất và quan hệ xã hội. Sự phát triển từ thấp đến cao qua các thời kỳ lịch
sử khác nhau quyết định sự thay thế quan hệ sản xuất bằng quan hệ sản xuất
mới cao hơn đã đưa xã hội loài người phát triển qua nhiều hình thái kinh tế
xã hội khác nhau. Sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ
phát triển của lực lượng sản xuất được thể hiện ở chế độ sở hữu về tư liệu sản
xuất và hình thức phân phối sản phẩm thích ứng với quan hệ sở hữu về tư
liệu sản xuất.
Trong môi trường cạnh tranh gay gắt của kinh tế thị trường hiện nay, để
đạt được hiệu quả sản xuất kinh doanh cao là một vấn đề phức tạp, đòi hỏi
các doanh nghiệp phải có các biện pháp quản lý phù hợp với sự biến đổi của
thị trường cũng như tình hình thực tế của doanh nghiệp mình. Việc đảm bảo
lợi ích cá nhân của người lao động là một động lực cơ bản trực tiếp khuyến
khích người lao động đem hết khả năng của mình lỗ lực phấn đấu sáng tạo
trong sản xuất. Một trong những công cụ hiệu quả nhất nhằm đạt tới mục tiêu
trên là hình thức trả lương cho người lao động. Tiền lương thực sự phát huy
được tác dụng của nó khi các hình thức tiền lương được áp dụng hợp lý nhất,
sát với tình hình thực tế của các đơn vị sản xuất kinh doanh, đúng với sự
2
cống hiến của người lao động, công bằng và hợp lý giữa những người lao
động trong doanh nghiệp. Có như vậy tiền lương mới thực sự trở thành đòn
bẩy kinh tế kích thích sản xuất phát triển. Việc trả lương theo lao động là tất
yếu khách quan. Nhưng lựa chọn hình thức trả lương nào cho phù hợp với
độ tài chính hiện hành, doanh nghiệp còn phải tính vào chi phí kinh doanh
một bộ phận chi phí gồm các khoản BHXH, BHYT và KPCĐ.
1.1.2. Bảo hiểm xã hội
BHXH là một khoản tiền trích lập để hỗ trợ cho trường hợp cán bộ công
nhân tạm thời hay vĩnh viễn mất sức lao động như: ốm đau, thai sản, tai nạn
giao thông, bệnh nghề nghiệp, hưu trí, tử tuất
4
Quỹ BHXH được trích lập theo một tỷ lệ phần trăm nhất định của chế
độ tài chính nhà nước quy định trên tổng số tiền lương thực tế phải trả công
nhân viên được tính vào chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, tuỳ
theo chế độ tài chính của mỗi quốc gia mà quy định một tỉ lệ trích BHXH
Như chế độ hiện nay, đối với nước ta tỉ lệ trích bảo hiểm xã hội là 20%,
trong đó 15% được tính vào chi phí sản xuất kinh doanh, còn 5% được trừ
vào thu nhập của người lao động.
1.1.3. Bảo hiểm y tế
BHYT là một khoản trợ cấp cho việc phòng chữa bệnh chăm sóc sức
khoẻ của người lao động.
Quỹ BHYT được hình thành bằng cách tính theo phần trăm quy định
trên tổng số tiền lương phải trả cho nhân viên và được tính vào chi phí sản
xuất kinh doanh. Như chế độ hiện nay, mức tính bảo hiểm y tế là 3% trong
đó 2% là tính vào chi phí sản xuất kinh doanh còn 1% trừ vào thu nhập của
người lao động.
1.1.4. Kinh phí công đoàn
Là quỹ để phục vụ chi tiêu cho hoạt động tổ chức của giới lao động
nhằm chăm lo bảo vệ quyền lợi của người lao động. Hàng tháng, doanh
nghiệp phải trích một tỉ lệ phần trăm theo quy định trên tổng số tiền lương
thực tế phải trả cho người lao động trong doanh nghiệp. Như chế độ hiện nay,
tỷ lệ kinh phí công đoàn là 2% được tính vào chi phí sản xuất kinh doanh.
1.2. Vai trò chức năng của tiền lương
Trong nền kinh tế quốc dân thì tiền lương được coi là một trong những
nghiệp .
2. PHƯƠNG PHÁP LUẬN HẠCH TOÁN KẾ TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC
KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG.
2.1. Các hình thức tiền lương
Trong thực tiễn của đời sống xã hội và trong quan hệ lao động vẫn tồn
tại 2 hình thức trả lương phổ biến:
- Hình thức tiền lương theo sản phẩm.
- Hình thức trả tiền lương theo thời gian.
Việc lựa chọn áp dụng hình thức tiền lương nào trong tổ chức lao động
tuỳ thuộc yêu cầu sản xuất, nghĩa là:
+ Phù hợp tính chất công việc và trình độ tổ chức công việc ở nơi làm
việc
+ Phải có tác dụng khuyến khích người lao động quan tâm đến kết quả
lao động, kết quả sản xuất.
6
+ Làm cho tiền lương thể hiện rõ chức năng đòn bẩy kinh tế trong việc
kích thích sản xuất, kinh doanh.
+ Trả lương phải đem lại hiệu quả kinh tế.
2.1.1. Hình thức trả lương theo sản phẩm
Trả lương theo sản phẩm là hình thức trả lương dựa trên cơ sở; số lượng
sản phẩm giao nộp của người lao động đơn giá trả lương và chất lượng sản
phẩm đã quy định của doanh nghiệp. Đây là hình thức trả lương cơ bản mà
hiện nay được các đơn vị áp dụng chủ yếu trong khu vực sản xuất vật chất.
Tiền lương của công nhân viên phụ thuộc vào đơn giá tiền lương của một đơn
vị sản phẩm và số sản phẩm sản xuất ra.
Hình thức trả lương này phù hợp với nguyên tắc phân phối lao động,
gắn thu nhập của người lao động với kết quả lao động, khuyến khích lao
động hăng say lao động. Hình thức này tỏ ra có hiệu quả hơn so với việc trả
lương theo thời gian, do đó xu hướng hiện nay, hình thức trả lương theo sản
phẩm được mở rộng phổ biến.
*. Trả lương theo sản phẩm nhóm lao động
Việc tiến hành chia lương cho từng người lao động trong nhóm căn cứ
vào lương cấp bậc và thời gian làm việc thực tế của từng người người làm
việc trong tháng.Hình thức này áp dụng đối với công việc đòi hỏi một nhóm
lao động lắp ráp thiết bị, sản xuất ở các bộ phận làm việc theo dây chuyền,
sửa chữa cơ khí .
Trả lương theo sản phẩm nhóm có tác dụng khuyến khích lao động trong
nhóm, nâng cao trách nhiệm trước tập thể, quan tâm đến kết quả cuối cùng
của nhóm. Song, nhược điểm là sản phẩm của mỗi lao động không trực tiếp
tác động đến tiền lương của họ nên ít kích thích sự nâng cao lao động cá
nhân. Mặt khác, chưa xác định được sự cố gắng của mỗi cá nhân trong quá
trình lao động nên chưa tiến hành được phân phối theo lao động và chất
lượng sản phẩm.
*. Trả lương theo sản phẩm gián tiếp
Chế độ trả lương sản phẩm gián tiếp chỉ áp dụng đối với công nhân phụ
mà công việc của họ ảnh hưởng nhiếu đến công việc của công nhân chính
(người hưởng lương theo sản phẩm) như: công nhân sửa chữa, công nhân
điện
DG =
Trong đó:
DG: Đơn giá tính theo sản phẩm gián tiếp
L: Lương cấp bậc của công nhân phụ
Q: Mức sản lượng của công nhân chính
M: Mức phục vụ của công nhân phụ
8
Cách trả lương này kích thích công nhân phục vụ tốt hơn cho công việc
lao động. Nhưng vì tiền lương phụ thuộc kết quả lao động của công nhân
chính, do đó việc trả lương chưa thật chính xác với công nhân phụ.
*. Trả lương theo sản phẩm luỹ tiến
Theo cách trả lương này thì tiền lương gồm 2 phần:
khoán thì chia tiền lương như hình thức trả lương tập thể.
Ưu điểm của chế độ này là: khuyến khích người lao động hoàn thành
công việc vượt thời gian và đảm bảo chất lượng. Tuy nhiên, nếu sự kiểm tra
kém thì hiệu quả thấp.
*. Chế độ trả lương sản phẩm có thưởng.
Chế độ trả lương theo sản phẩm có thưởng, là chế độ trả lương theo sản
phẩm kết hợp với chế độ tiền thưởng, nhằm tác động vào những khâu yếu của
dây chuyền sản xuất, để giải quyết sự đồng bộ trong sản xuất, thúc đẩy năng
suất lao động. Với chế độ trả lương này, toàn bộ sản phẩm đều được trả một
đơn giá cố định, còn tiền thưởng sẽ căn cứ vào mức độ hoàn thành và hoàn
thành vượt mức, các chỉ tiêu về chất lượng và số lượng theo tiêu chuẩn của
chế độ tiền thưởng để thưởng và tiền lương sản phẩm có thưởng sẽ bao gồm
cả tiền lương.
Với chế độ trả lương này cần quy định đúng đắn chỉ tiêu tiền thưởng,
điều kiện thưởng và tỉ lệ thưởng và xác định nguồn tiền thưỏng.
2.1.2 Trả lưởng theo thời gian
Đây là hình thức trả lương căn cứ vào thời gian lao động, vào cấp bậc
lương để tính lương cho từng người lao động. Hình thức này chỉ áp dụng chủ
yếu cho lao động gián tiếp, còn với lao động trực tiếp chỉ áp dụng với bộ
phận không áp dụng được định mức sản phẩm.
Hình thức trả lương theo thời gian được áp dụng với viên chức nhà nước
thuộc khu vực hành chính sự nghiệp, những người hoạt động trong lĩnh vực
quản lý, chuyên môn, kỹ thuật, nghiệp vụ thuộc lĩnh vực sản xuất, kinh
doanh. Với công nhân sản xuất chỉ áp dụng cho những người làm công việc
không thể định mức được sản phẩm lao động chính xác, hoặc do tính chất của
sản xuất nếu trả lương theo sản phẩm sẽ không đạt chất lượng. Chẳng hạn,
công việc sửa chữa, công việc sản xuất hay pha chế thuốc chữa bệnh
Như vậy trả lương theo thời gian là dựa vào độ dài thời gian làm việc,
trình độ chuyên môn khoa học kỹ thuật và mức độ phức tạp của công việc.
Nếu ta so sánh với trả lương theo sản phẩm thì trả lương theo thời gian có thể
Lương giờ =
Lương ngày
=
Lương ngày
Độ dài lao động 8 giờ
*. Hình thức trả lương theo thời gian có thưởng:
Thực chất là sự kết hợp trả lương theo thời gian giản đơn và tiền thưởng
thường xuyên từ quỹ (vì đảm bảo ngày công, giờ công )
Tiền lương =
Tiền lương theo thời gian
lao động đơn giản
+ Tiền thưởng
11
Hình thức trả lương theo thời gian có ưu điểm là dễ tính, dễ trả lương
cho người lao động. Nhưng bản thân hình thức tiền lương theo thời gian cũng
còn nhiều hạn chế như chưa gắn chặt tiền lương với kết quả chất lượng lao
động.
2.1.3. Lương nghỉ phép và các khoản phụ cấp làm đêm, làm thêm.
Theo chế độ hiện hành, khi người lao động nghỉ phép thì được trả 100%
tiền lương theo cấp bậc. Tiền lương nghỉ phép và tiền lương phụ cấp của
người lao động. Hiện nay, một năm một người được nghỉ phép 12 ngày, nếu
làm việc 5 năm liên tục thì tính thêm một ngày vào thời gian nghỉ phép, từ 30
năm trở lên thì nghỉ thêm 6 ngày. Tiền lương nghỉ phép được đưa vào chi phí
sản xuất từng tháng. Nếu doanh nghiệp không chỉnh, bố trí cho người lao
động nghỉ phép ổn định đều đặn giữa các tháng trong năm thì doanh nghiệp
phải trích trước tiền lương nghỉ phép để đảm bảo chi phí ổn định giữa các
tháng trong năm.
Tỷ lệ trích trước
tiền lương
nghỉ phép
Quỹ tiền lương bao gồm:
- Tiền lương thời gian, tiền lương tính theo sản phẩm và tiền lương
khoán.
- Tiền lương trả cho người lao động trong thời gian ngừng sản xuất do
nguyên nhân khách quan, trong thời gian được điều động công tác làm nghĩa
vụ theo chế độ quy định, thời gian nghỉ phép, thời gian đi học.
- Các loại phụ cấp làm đêm, thêm giờ.
- Các khoản tiền thưởng có tính chất thường xuyên.
Quỹ tiền lương kế hoạch trong doanh nghiệp còn được tính cả các khoản
trợ cấp BHXH trong thời gian người lao động ốm đau, thai sản, tai nạn lao
động. Trong doanh nghiệp để phục vụ cho công tác hạch toán, tiền lương có
thể được chia thành hai loại:
Tiền lương lao động trực tiếp và tiền lương lao động gián tiếp, trong đó
chi tiết theo tiền lương chính và tiền lương phụ.
Tiền lương chính: là tiền lương trả cho người lao động trong thời gian
người lao động thực hiện nhiệm vụ chính của họ, gồm tiền lương trả theo cấp
bậc và các khoản phụ cấp kèm theo.
Tiền lương phụ: Là tiền lương trả cho người lao động trong thời gian
người lao động thực hiện nhiệm vụ khác, ngoài nhiệm vụ chính và thời gian
người lao động nghỉ phép, nghỉ tết, nghỉ vì ngừng sản xuất được hưởng
lương theo chế độ.
Tiền lương chính của công nhân trực tiếp sản xuất gắn liền với quá trình
sản xuất ra sản phẩm. Vì vậy việc phân tích chia tiền lương chính và tiền
lương phụ có ý nghĩa quan trọng đối với công tác phân tích kinh tế. Để đảm
bảo hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch sản xuất của doanh nghiệp
thì việc quản lý và chi tiêu quỹ tiền lương phải được đặt trong mối quan hệ
13
phục vụ tốt cho việc thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp và chi tiêu tiết kiệm và hợp lý quỹ tiền lương.
2.3. Quỹ bảo hiểm xã hội , bảo hiểm y tế và kinh phí công đoàn.
14
3. TỔ CHỨC HẠCH TOÁN KẾ TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN
TRÍCH THEO LƯƠNG.
3.1. Chứng từ và tài khoản kế toán.
Hạch toán tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công
đoàn chủ yếu sử dụng các chứng từ về tính toán tiền lương, bảo hiểm xã hội,
thanh toán tiền lương, tiền thưởng bảo hiểm xã hội sau:
- Bảng chấm công (Mẫu số 01 - LĐTL)
- Bảng thanh toán tiền lương (Mẫu số 02 - LĐTL)
- Phiếu nghỉ hưởng lương bảo hiểm xã hội (Mẫu số 03- LĐTL)
- Bảng thanh toán bảo hiểm xã hội (Mẫu số 04 - LĐTL)
- Bảng thanh toán tiền thưởng (Mẫu số 05 - LĐTL)
-Các phiếu chi , các chứng từ, tài liệu khác về các khoản khấu trừ, trích
nộp, liên quan.
Các chứng từ trên có thể là căn cứ để ghi sổ trực tiếp hoặc làm cơ sở để
tổng hợp rồi mới ghi vào sổ kế toán.
Ngoài ra, còn có thể sử dụng các chứng từ hướng dẫn nếu doanh nghiệp
thấy cần thiết và có các nghiệp vụ phát sinh thêm và liên quan đến những
thông tin bổ sung cho việc tính lương, phụ cấp lương, bảo hiểm xã hội như
sau:
- Phiếu xác nhận sản phẩm hoặc công việc hoàn thành (Mẫu số 06 -
LĐTL)
-Phiếu báo làm thêm giờ (Mẫu số 07- LĐTL)
- Hợp đồng giao khoán (Mẫu số 08 - LĐTL)
- Biên bản tai nạn lao động (Mẫu số 09 - LĐTL)
* Tài khoản kế toán:
Kế toán và thanh toán tiền lương, tiền công và các khoản khác với người
lao động, tình hình trích lập và sử dụng các quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y
tế, kinh phí công đoàn, kế toán sử dụng các tài khoản sau:
- Tài khoản 334: “Phải trả công nhân viên” Tài khoản này dùng để phản
và các tỷ lệ trích BHXH, BHYT, KPCĐ được thực hiện trên “Bảng phân bổ
tiền lương và trích BHXH” (Mẫu số 01 /BPB).
16
Ngoài tiền lương và các loại bảo hiểm, KPCĐ, trên bảng phân bổ số một
này còn phản ánh việc trích trrước các khoản chi phí phải trả (như trích trước
lương nghỉ của công nhân sản xuất ).
Thủ tục tiến hành lập “Bảng phân bổ tiền lương và BHXH” (Căn cứ vào
phương pháp lập) như sau: Hàng tháng, trên cơ sở các chứng từ về lao động
và tiền lương trong tháng, kế toán tiến hành phân loại và tổng hợp tiền lương
(tiền công) phải trả theo từng đối tượng sử dụng lao động (quản lý chung của
doanh nghiệp; quản lý và phục vụ sản xuất từng phân xưởng; trực tiếp sản
xuất từng loại sản phẩm ở từng phân xưởng ) trong đó phân biệt tiền lương,
các khoản phụ cấp và các khoản khác để ghi vào các cột thuộc phần ghi có
TK 334 “Phải trả công nhân viên” ở các dòng phù hợp.
Căn cứ vào tiền lương thực tế phải trả và tỷ lệ quy định về các khoản
trích BHXH, BHYT, KPCĐ để trích và ghi vào các cột phần ghi có TK 338
“Phải trả phải nộp khác” (3382, 3383, 3384) ở các dòng phù hợp.
Ngoài ra còn căn cứ vào các tài liệu liên quan (ví dụ: căn cứ vào tiền
lương chính và tỷ lệ trích trước lương nghỉ của công nhân sản xuất ) để tính
và ghi vào cột có TK 335 - “Chi phí phải trả”.
Số liệu về tổng hợp phân bổ tiền lương, trích BHXH, BHYT, KPCĐ và
trích các khoản được sử dụng cho kế toán tổng hợp chi phí sản xuất ghi sổ kế
toán cho các đối tượng liên quan.
3.3. Kế toán tổng hợp tiền lương và các khoản tính theo lương được
thực hiện trên các tài khoản TK 334, TK 338, TK 335 và các tài khoản
liên quan khác.
Phương pháp kế toán các nghiệp vụ chủ yếu được thực hiện như sau:
1. Hàng tháng tính tiền lương phải trả cho công nhân viên và phân bổ
cho các đối tượng, kế toán ghi:
Nợ TK622: Tiền lương phải trả cho công nhân trực tiếp sản xuất .
Nợ TK 138 (1388)
Có TK 334
5. Các khoản khấu trừ vào thu nhập của công nhân viên:
Nợ TK 334: Tổng số các khoản khấu trừ
Có TK 333 (3338): Thuế thu nhập phải nộp
Có TK 141: Số tạm ứng trừ vào lương
Có TK 138: Các khoản bồi thường vật chất, thiệt hại.
18
6. Thanh toán tiền lương, tiền công, BHXH, tiền thưởng cho công nhân
viên.
- Nếu thanh toán bằng tiền:
Nợ TK 334: Các khoản đã thanh toán
Có TK 111: Thanh toán bằng tiền mặt
Có TK 112: Thanh toán chuyển khoản qua ngân hàng
- Nếu thanh toán bằng vật tư hàng hoá
+ Ghi lại giá vốn vật tư hàng hoá
Nợ TK 632
Có TK 152, 153,154, 155,
+ Ghi nhận giá thanh toán
Nợ TK 334: Tổng giá thanh toán (có thuế VAT)
Có TK 512 - Giá thanh toán không có thuế VAT
Có TK 3331 (33311) - Thuế VAT phải nộp
7. Khi chuyển tiền nộp BHXH, BHYT, KPCĐ.
Nợ TK 338 (3382, 3383, 3384)
Có TK 111, 112
8. Chi tiêu kinh phí công đoàn để lại doanh nghiệp
Nợ TK 338 (3382)
Có TK 111, 112
9. Cuối kỳ kết chuyển tiền lương công nhân viên đi vắng chưa lĩnh
Nợ TK 334
Có TK 335
12. Số tiền lương công nhân nghỉ phép thực tế phải trả:
Nợ TK 335
Có TK 334
Đối với doanh nghiệp không tiến hành trích trước tiền lương nghỉ phép
của công nhân trực tiếp sản xuất thì khi tính tiền lương nghỉ phép của công
nhân sản xuất thực tế phải trả kế toán ghi:
Nợ TK 622
Có TK 334
Tuỳ theo hình thức sổ kế toán doanh nghiệp áp dụng mà kế toán tiền
lương BHXH, BHYT, KPCĐ được ghi trên các sổ kế toán phù hợp.
20
TK333, 138, 141 TK134 Lương chính, tiền thưởng trong sản xuất TK 622,627, 641, 642
TK338
Các khoản khấu trừ
BHXH do BHYT người lao động đóng góp
TK111, 112, 512, 3331
Thanh toán các khoản cho người lao động
Nộp BHXH, BHYT, KPCĐ, chi tiêu KPCĐ
Các khoản phải trả
TK335
TK431
TK338
Tiền lương phép của CNSX
Tiền thưởng từ quỹ khen thưởng
BHXH
Trích trước lương phép của CNSX
Trích BHXH, BHYT và KPCĐ
TK111, 112
Số chi vượt
Qua bảng trên ta thấy rằng nhiều năm liên tục Công ty đã hoàn thành
vượt mức kế hoạch và năm sau luôn cao hơn năm trước.
* Thời kỳ đổi mới
Năm 1988, Công ty may Thăng Long bước vào năm thứ ba mươi xây
dựng và trưởng thành đồng thời cũng là năm chấm dứt thời kỳ bao cấp
chuyển sang kinh tế thị trường.
Mặt hàng xuất khẩu truyền thống của Công ty là áo sơ mi nam. Thị
trường xuất khẩu là Liên Xô và các nước Đông Âu. Tính đến năm 1989 Công
ty đã xuất sang thị trường Liên Xô và các nước Đông Âu trên 50 triệu sản
phẩm áo sơ mi quy đổi. Từ những năm 1990 đến năm 1995 Công ty đã đầu tư
hơn 5 tỷ đồng để mua sắm thiết bị của Cộng hoà dân chủ Đức, cải tạo lại nơi
làm việc, nâng cấp nhà xưởng và thiết bị văn phòng.
Hiện nay Công ty đã có một thị trường ổn định rộng lớn ở trên 20 quốc
gia của các châu lục. Đảm bảo việc làm thường xuyên cho hơn 2000 công
nhân viên với mức lương trung bình là 600.000 đ đến 700.000 đ/tháng/người
và hàng năm nộp ngân sách nhà nước hàng chục tỷ đồng. Hiện nay Công ty
đang không ngừng hoàn thiện và mở rộng sản xuất để ngày càng giữ một vị
trí quan trọng trên thị trường hàng may mặc trong nước và quốc tế.
1.1.2. Cơ cấu tổ chức ở Công ty may Thăng Long
Cơ cấu tổ chức ở Công ty may Thăng Long
- Công ty may Thăng Long là một đơn vị hạch toán độc lập, có tư cách
pháp nhân trực thuộc Tổng Công ty Xuất nhập khẩu tạp phẩm. Công ty tổ
chức và quản lý theo kiểu “chức năng trực tuyến có nghĩa là các phòng ban
tham mưu với ban giám đốc theo từng chức năng, nhiệm vụ cụ thể của
mình”. Để giúp ban giám đốc điều hành và ra những quyết định đúng có lợi
cho Công ty. Tất cả được thể hiện qua sơ đồ sau:
23
TỔNG GIÁM ĐỐC
GIÁM ĐỐC ĐIỀU HÀNH SẢN XUẤTGIÁM ĐỐC ĐIỀU HÀNH NỘI CHÍNHGIÁM ĐỐC ĐIỀU HÀNH KỸ THUẬT
PHÒNG KỸ THUẬT
+ Văn phòng tổng hợp: có nhiệm vụ quản lý về mặt nhân sự , mặt tổ
chức của Công ty, tham mưu cho Tổng giám đốc về mặt tổ chức.
+ Phòng kỹ thuật: có nhiệm vụ quản lý, phác thảo, tạo mẫu các mặt hàng
theo đơn đặt hàng của khách và nhu cầu của Công ty.
+ Phòng KCS: có nhiệm vụ kiểm tra đánh giá chất lượng sản phẩm
nhằm loại các sản phẩm hỏng, lỗi trước khi đưa vào nhập kho thành phẩm.
+ Phòng kế hoạch thị trường: có nhiệm vụ nghiên cứu, khảo sát thị
trường và lập kế hoạch sản xuất cho kịp thời, đúng thời hạn trong các hợp
đồng.
+ Phòng tổ chức kế toán tiền lương : là phòng quản lý công tác tổ chức
kế toán theo đúng chế độ chính sách của nhà nước , đảm bảo nguồn vốn cho
sản xuất kinh doanh và yêu cầu phát triển của Công ty . Giải quyết toàn bộ
các vấn đề có liên quan đến tài chính của Công ty và thu nhập của người lao
động.
+ Trung tâm thương mại và giới thiệu sản phẩm: tại đây Công ty trưng
bày các mặt hàng sản xuất, vừa giới thiệu sản phẩm, vừa bán đồng thời cũng
là nơi tiếp nhận các ý kiến đóng góp phản ánh từ người tiêu dùng.
+ Phòng kho: bao gồm kho nguyên vật liệu và kho thành phẩm nơi bảo
quản đầu ra và đầu vào của quá trình sản xuất.
25