Đề tài " Giải pháp hoàn thiên hoạt động thanh toán xuất khẩu theo phương thức tín dụng chứng từ ở Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam " - Pdf 19

Đề tài
" Giải pháp hoàn thiên hoạt động
thanh toán xuất khẩu theo phương
thức tín dụng chứng từ ở Ngân
hàng Ngoại thương Việt Nam "
1
1
MỤC LỤC
2
2
LỜI MỞ ĐẦU
Kể từ khi Pháp lệnh về Ngân hàng ra đời năm 1990, hệ thống ngân hàng
thương mại Việt Nam (NHTM VN) đã đổi mới một cách căn bản về mô hình và tổ
chức hoạt động. Các nghiệp vụ và dịch vụ ngân hàng thương mại hiện đại đã được
mở rộng và phát triển nhanh chóng, mạnh mẽ, trong đó có nghiệp vụ thanh toán
quốc tế. Thanh toán quốc tế là một mắt xích không thể thiếu trong hoạt động kinh
doanh của ngân hàng thương mại. Hoạt động thanh toán quốc tế của ngân hàng
ngày càng chứng tỏ vị trí và vai trò quan trọng của mình. Hoạt động thanh toán
quốc tế không chỉ đơn giản là sự lựa chọn một phương thức thanh toán cho phù
hợp hay sử dụng một phương tiện thanh toán thông dụng nào đó. Thanh toán quốc
tế là một hoạt động mạnh nhất của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (NHNT
VN). Hoạt động thanh toán xuất khẩu là một nghiệp vụ quan trọng của thanh toán
quốc tế. Yêu cầu đặt ra là: hoạt động thanh toán xuất khẩu phải được thực hiện
nhanh chóng, an toàn chính xác, đạt hiệu quả đối với cả khách hàng và NHNT.
Hoạt động thanh toán xuất khẩu trực tiếp tác động vào việc rút ngắn thời gian chu
chuyển vốn, giảm thiểu rủi ro liên quan tới sự biến động tiến tệ, tới khả năng thanh
toán của khách hàng, tạo điều kiện cho việc mở rộng và phát triển hoạt động ngoại
thương của mỗi nước.
Phương thức tín dụng chứng từ là phương thức thanh toán quốc tế chủ yếu,
phổ biến nhất. Đó là phương thức giải quyết tốt nhất việc đảm bảo quyền lợi của
hai bên, nhưng đồng thời là phương thức xảy ra nhiều tranh chấp nhất do mức độ

I.Tổng quan về Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam:
Ngày 1/4/1963, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam với tên giao dịch quốc
tế là Bank For Foreign Trade Of Việt Nam, tên viết tắt là VIETCOMBANK, được
thành lập và chính thức đi vào hoạt động với tư cách là một pháp nhân Ngân hàng
thương mại giao dịch trên thương trường quốc tế và trong nước. Trải qua 44 năm
xây dựng và phát triển, NHNT VN hiện nay đã đóng vai trò chủ lực trong hệ thống
ngân hàng Việt Nam, được Nhà nước xếp hạng là một trong 23 doanh nghiệp đặc
biệt. NHNTT là một trong những thành viên đầu tiên của Hiệp hội Ngân hàng Việt
Nam và là thành viên của nhiều hiệp hội ngân hàng khác như: Hiệp hội Ngân hàng
Châu Á, Câu lạc bộ Ngân hàng Châu Á Thái Bình Dương.
Thực hiện chủ trương đổi mới của Đảng, Nhà nước, ngành ngân hàng,
NHNT VN đã sớm tiếp cận, thích nghi với kinh tế thị trường, tiếp tục góp phần
vào sự nghiệp phát triển kinh tế, tăng cường sức cạnh tranh, sẵn sàng hội nhập với
bên ngoài. Cơ chế thị trường đặt ra một yêu cầu bức xúc là phải năng động, nhạy
bến, sáng tạo mới thích nghi được với môi trường mới. Với bề dày kinh nghiệm
hoạt động ngân hàng đối ngoại và sau nhiều bước đi quá độ, đến nay NHNT đã
chuyển hẳn sang kinh doanh theo cơ chế thị trường. NHNT VN là NHTM được
Nhà nước tin tưởng, được bạn bè quốc tế đánh giá cao. Đến nay NHNT đã trở
thành một hệ thống, phát triển theo hướng hình thành tập đoàn tài chính với hơn
40 đơn vị thành viên ở trong và ngoài nước, tập hợp gần 5000 cán bộ nhân viên
đang lao động hết sức mình vì sự nghiệp của ngành.
Trong những năm qua, NHNT không ngừng khẳng định sự lớn mạnh của
mình qua việc liên tục mở rộng mạng lưới ra hầu hết các tỉnh thành phố trên cả
5
5
nước. Tính đến nay mạng lưới chi nhánh của NHNT gồm có 01 Sở giao dịch, 26
chi nhánh cấp I, 45 chi nhánh cấp II và 52 phòng giao dịch trên toàn quốc. Ngoài
mạng lưới chi nhánh trên, NHNT có 1 công ty tài chính, 3 văn phòng đại diện
nước ngoài, 3 công ty trực thuộc, 5 công ty con ở trong nước, 1 công ty con ở
nước ngoài, 2 công ty liên doanh.

còn thực hiện các dịch vụ: mở tài khoản, nhận gửi tiết kiệm, phát hành kỳ phiếu,
cho vay, bảo lãnh, thuê mua tài chính, chiết khấu chứng từ, thanh toán quốc tế,
chuyển tiền, nhờ thu trơn, mua bán ngoại tệ, ngân hàng đại lý, bao thanh toán, bảo
hiểm nhân thọ
Với năng lực và khả năng của mình, NHNT được chọn lựa làm ngân hàng
chính của Việt Nam trong việc quản lý và phục vụ cho các khoản vay nợ, viện trợ
của Chính phủ và nhiều dự án ODA tại Việt Nam.
2.Cơ cấu tổ chức:
Để đáp ứng đòi hỏi về tăng trưởng và phát triển của Ngân hàng, cùng với
nhận thức nguồn nhân lực chính là vốn quý của ngân hàng, NHNT không ngừng
nỗ lực tăng cường đồng thời số lượng và chất lượng của đội ngũ cán bộ. Hiện tại
đội ngũ cán bộ của Ngân hàng lên tới 6.700 người (tăng gần 2,5 lần so với cuối
năm 2000). Cơ cấu lao động theo trình độ tại thời điểm 31/12/2005 như sau:
Bảng 3: Cơ cấu lao động theo trình độ của NHNT
Nguồn:
Báo cáo
thường
niên
NHNT
7
7
Trình độ Tỷ lệ (%)
Tiến sỹ 0,37
Thạc sỹ 3,45
Đại học 79,12
Cao cấp ngân hàng 6,04
Trung học chuyên nghiệp 4,85
Trình độ khác 6,17
Tổng số 100
năm 2005

Kế toán quốc tế
rủi ro
Văn phòng
rủi ro
Các phòng ban
hỗ trợ khác
rủi ro
Kế toán – Tài chính
rủi ro
Trung tâm tin học
rủi ro
Trung tâm thanh toán
rủi ro
Dich vụ tài khoản KH
rủi ro
Quản lý Vốn
Liên doanh - Cổ phần
Quản lý các đề án công nghệ
Quan hệ
Ngân hàng đại lý
Tổng hợp và PTKT
rủi ro
Quản lý thẻ
rủi ro
Tài trợ Thương mại
rủi ro
Thanh toán
Liên ngân hàng
Thông tin tuyên truyền
rủi ro

ĐÀ NẴNG
QUẢNG NGÃI
QUY NHƠN
NHA TRANG
ĐẮC LẮC
GIA LAI
VŨNG TÀU
BÌNH DƯƠNG
ĐỒNG NAI
TP HỒ CHÍ MINH
BÌNH TÂY
KCX TÂN BÌNH
CẦN THƠ
AN GIANG
CÀ MAU
KIÊN GIANG
CÔNG TY CON TRONG NƯỚC
Công ty quản lý nợ và khai thác tài sản
Công ty cho thuê tài chính
Công ty chứng khoán
Công ty Vinafico Hongkong
Văn phòng đại diện tại Singapore
CÁC ĐƠN VỊ Ở NƯỚC NGOÀI
Văn phòng đại diện tại Paris
TỔNG GIÁM ĐỐC
HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ
MÔ HÌNH TỔ CHỨC NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM
9
9
II.Các hoạt động chính của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam:

hệ thống Ngân hàng Ngoại thương.
Ngoài việc hoàn thành nghĩa vụ với Ngân sách Nhà nước, bình ổn tỷ giá
góp phần giữ vững sự phát triển của nền kinh tế khi có biến động mạnh trên thị
trường quốc tế, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp đổi mới kinh tế của Đảng và Nhà
nước, Ngân hàng Ngoại thương đã góp phần không nhỏ trong các hoạt động xã
hội, qua đó đã giúp cho mối quan hệ giữa Ngân hàng Ngoại thương với các địa
phương ngày thêm gắn bó chặt chẽ đồng thời nó cũng phục vụ có hiệu quả cho
chính sách Đền ơn đáp nghĩa của Đảng, Nhà nước, cụ thể:
• Ngân hàng Ngoại thương góp 200 tỷ VND cho Ngân hàng phục vụ người
nghèo với lãi suất thấp, dành một phần quỹ phúc lợi ủng hộ trường trẻ em
mồ côi, khuyết tật.
• Nhận phụng dưỡng suốt đời 118 bà mẹ Việt Nam anh hùng với mức
150.000đ/mẹ/tháng.
• Cấp 62 sổ tiết kiệm trị giá 2.000.000đ/sổ cho các trường hợp chính sách
khác.
• Góp 5 tỷ Đồng để xây nhà Tình nghĩa, nhà Tưởng niệm liệt sĩ Bến Dược -
Củ Chi, xây dựng công viên thiếu nhi tại thành phố Nha Trang.
• Đóng góp vào quỹ vì trẻ thơ Việt Nam trên 100 triệu đồng hàng năm, tặng
quà cho hội người cao tuổi, ủng hộ cán bộ hưu trí Ngân hàng
• Luôn tích cực tham gia vào việc đóng góp ủng hộ đồng bào các tỉnh bị
thiên tai, lũ lụt.
• Huy động CBCNV trong toàn hệ thống ủng hộ huyện An Lão tỉnh Bình
Định xây dựng trường cấp II cho đồng bào dân tộc thiểu số.
11
11
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN XUẤT KHẨU
BẰNG PHƯƠNG PHÁP TÍN DỤNG CHỨNG TỪ Ở
NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM (2000-2006)
I.Kết quả hoạt động của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (2004-

vốn ngày càng được tăng cường. Cơ cấu vốn huy động VND/ngoại tệ năm 2005 là
41,8%/57,2%, thay đổi khá lớn so với 39,2%/60,8% của năm 2004. Cơ cấu kỳ hạn
không có biến động lớn, tỷ trọng vốn có kỳ hạn từ dân cư và tổ chức kinh tế vẫn
chiếm 45,5% năm 2005 so với 46,6% năm 2004.
Vốn chủ sở hữu:
Trong những năm gần đây, vốn chủ sở hữu của NHNT liên tục tăng .Từ khi
bắt đầu thực hiện Đề án đến nay, NHNT đã được Chính phủ cấp thêm 1.400 tỷ
vốn Điều lệ dưới dạng Trái phiếu đặc biệt (năm 2002: 1.000 tỷ VND, năm 2003:
400 tỷ VND).Ngoài vốn do Chính phủ cấp, NHNT cũng có phương án tăng vốn
điều lệ từ nguồn lợi tăng thêm. Phương án trên được chính phủ đồng ý và bắt đầu
thí điểm vào năm 2003. Tính cả nguồn vốn NHNT tự bổ sung (bao gồm cả các
quỹ và lợi nhuận để lại), vốn chủ sở hữu của NHNT năm 2004 đạt gần 5735 tỷ
13
13
Bảng 2: Vốn chủ sở hữu
VND tăng 30% so với năm 2002. Tính đến nay, vốn chủ sở hữu của NHNT đã đạt
gần 9000 tỷ đồng (theo chuẩn mực kế toán Việt Nam).
Với mục tiêu phấn đấu đạt mức chuẩn quốc tế về tỷ lệ an toàn vốn, cùng
với 800 tỷ đồng vốn điều lệ được Chính phủ cấp bổ sung, NHNT đã tích cực tự bổ
sung vốn bằng nguồn lợi nhuận để lại. Hệ số an toàn vốn được cải thiện hơn nhiều
so với thời điểm trước khi thực hiện Đề án.
Nguồn: Báo cáo thường niên NHNT năm 2005
2.Hoạt động tín dụng:
Hoạt động tín dụng luôn là hoạt động được NHNT chú trọng phát triển
mạnh. Song song với việc tìm các giải pháp tín dụng, NHNT đã chú trọng áp dụng
và hoàn thiện giải pháp nâng cao quản trị rủi ro tín dụng như: xác định giới hạn tín
dụng, tăng cường kiểm tra rà soát tín dụng,
Tính đến cuối năm 2003, tổng dư nợ tín dụng của toàn hệ thống NHNT VN
là 39.269 tỷ VND, tăng 35,2% so với năm 2002, vượt kế hoạch tăng trưởng đề ra
từ đầu năm (27,1%).

Giá trị
(tỷ USD)
Thị phần
trong nước
Giá trị
(tỷ USD)
Thị phần
trong nước
Giá trị
(tỷ USD)
Thị phần
trong nước
DSTT XK 5.692 28,2% 6.968 26,3% 9.375 28,9%
DSTT NK 6.576 26,8% 9.414 29,5% 11.583 31,3%
Tốc độ tăng so
với năm trước 21,9% 31,6% 27,9%
Nguồn: Báo cáo thường niên NHNT năm 2005
Thanh toán quốc tế vốn là một sản phẩm truyền thống và là thế mạnh của
NHNT. Trong thời gian qua cũng phải chịu sức ép cạnh tranh gay gắt, đặc biệt từ
phía các ngân hàng nước ngoài cóưu thế vượt trội về mạng lưới quốc tế, về công
nghệ và các sản phẩm tiên tiến. Tuy nhiên Vietcombank vẫn tiếp tục duy trìđược
doanh số thanh toán quốc tế chiếm khoảng 29% tổng doanh số thanh toán xuất
nhập khẩu cả nước.
Về thanh toán xuất khẩu năm 2001 đạt 4340 triệu USD, năm 2002 tăng
7,7% đạt 4675 triệu USD. Năm 2003 con số này tiếp tục tăng với tỷ lệ cao
21,8% . Những mặt hàng chủ lực trong thanh toán xuất khẩu là dầu thô, thuỷ sản
và gạo. Về thanh toán nhập khẩu, năm 2001, doanh số thanh toán nhập khẩu chỉđạt
4447 triệu USD, sang đến năm 2002 con số này đã lên đến 5541 triệu USD, tăng
24.6%. 6756 triệu USD là doanh sốđạt được của năm 2003, tốc độ tăng đạt 21,9%.
Các mặt hàng chủ yếu trong thanh toán nhập khẩu là xăng dầu (khoảng 25-30%),

nước. Duy trì tốc độ tăng trưởng khá, DSTT xuất nhập khẩu qua NHNT năm 2004
đạt 16,4% tỷ USD, tăng 32,3% so với năm trước. DSTT XK qua NHNT năm 2004
đạt 6.967 triệu USD, tăng 22,4% so với năm 2003, chiếm 26,7% thị phần của cả
nước. DSTT NK năm 2004 đạt 9.409 triệu USD, tăng 39,3% thị phần của cả nước.
17
17
Đối với các giao dịch trong nước, NHNT đạt tổng doanh số mua bán là 13.601
triệu USD, tăng 36,3% so với năm 2003, lượng mua vào và bán ra tương đối cân
bằng. Lượng ngoại tệ mua vào của NHNT chủ yếu vẫn là từ các tổ chức kinh tế
thanh toán nhập khẩu, chiếm 99,5%. Đối với các giao dịch kinh doanh với mức
ngoài, nhu cầu khác hàng tăng cao cùng với việc áp dụng rộng rãi các hình thức
mua bán ngoại tệ đa dạng giúp mảng kinh doanh này có tốc độ tăng trưởng trên
130% đạt 7.047 triệu USD.
Giữ vững vị trí số một trong hệ thống ngân hàng Việt Nam về tài trợ xuất
nhập khẩu, năm 2005 đã đánh dấu một bước tiến quan trọng của hoạt động này tại
NHNT VN. Doanh số đạt gần 21 tỷ USD, tăng 27,9% so với năm 2004, chiếm thị
phần 30% so với kim ngạch xuất khẩu của cả nước. DSTT XK qua NHNT năm
2005 đạt trên 9,4 tỷ USD, tăng 34% và chiếm khoảng 29% thị phần xuất khẩu.
DSTT NK qua NHNT năm 2005 đạt trên 11 tỷ USD, tăng 23%, chiếm 31% thị
phần nhập khẩu. Các mặt hàng xuất khẩu thanh toán qua NHNT chủ yếu là dầu
thô, gạo, thuỷ sản trong khi các mặt hàng thanh toán nhập khẩu là xăng dầu, sắt
thép, phân bón, máy móc thiết bị. Tuy nhiên năm 2005 cả hoạt động thanh toán
xuất và nhập khẩu lại có xu hướng giảm sút.
4. Kết quả kinh doanh:
Năm 2004, với sự nỗ lực của toàn hệ thống, hoạt động kinh doanh tiếp tục
mang lại cho NHNT hàng nghìn tỷ đồng lợi nhuận. Tổng thu nhập của NHNT đạt
6.562 tỷ VND tăng 33,6% so với năm 2004. Hầu hết các nguồn thu đều tăng
trưởng khá. Nhờ dư nợ tín dụng tăng với tốc độ lớn và các công tác quản trị lãi
suất được tăng cường, thu lãi cho vay đạt 3.430 tỷ VND, tăng 36,0% và chiếm tỷ
trong 52,3% tổng thu nhập. Hoạt động kinh doanh tiền gửi có kỳ hạn ở NH nước

Người chuyển tiền Người hưởng lợi
3
Ngoài phương thức thanh toán bằng L/C NHNT còn thực hiện các phương
thức thanh toán khác như:
• Nhờ thu D/A (Nhờ thu theo hình thức chấp nhận thanh toán giao
chứng từ)
• Nhờ thu D/P (Nhờ thu theo hình thức thanh toán giao chứng từ)
• Nhờ thu D/OT (Nhờ thu giao chứng từ theo điều kiện khác)
• Hoặc chuyển tiền đến
1.Phương thức chuyển tiền:
Phương thức chuyển tiền là một phương thức thanh toán trong đó khách
hàng (người trả tiền, người mua, người nhập khẩu, ) yêu cầu ngân hàng của mình
chuyển một số tiền nhất định cho người hưởng lợi (người bán, người xuất khẩu,
người cung ứng dịch vụ, ) ở một địa điểm nhất định bằng phương tiện chuyển
tiền do khách hàng yêu cầu.
Chi phí chuyển tiền do người chuyển tiền hoặc người trả tiền thanh toán.
Ngân hàng chuyển tiền được hưởng các chi phíđó. Tiền chuyển có thể làđồng tiền
của nước trả tiền, hoặc người hưởng lợi, hoặc một nước thứ ba.
Trình tự tiến hành nghiệp vụ:
(1). Giao dịch thương mại
(2) Viết đơn yêu cầu chuyển tiền (bằng thư hoặc bằng điện) cùng với ủy nhiệm chi
(nếu có tài khoản mở tại ngân hàng )
(3) Chuyển tiền ra nước ngoài qua ngân hàng.
20
20
(4) Ngân hàng chuyển tiền cho người hưởng lợi
1.Phương thức nhờ thu:
Phương thức nhờ thu là một phương thức thanh toán trong đó người bán
sau khi hoàn thành nghĩa vụ giao hàng hay cung ứng dịch vụ cho khách hàng sẽủy
thác cho ngân hàng của mình thu hộ số tiền ở người mua trên cơ sở hối phiếu của

đường vận chuyển .
Nhờ thu chấp nhận đổi chứng từ (Document Against Acceptance-
D/A):
Nhờ thu chấp nhận đổi chứng từ được sử dụng trong trường hợp nhờ thu trả
sau. Đối với D/A thì người xuất khẩu chịu rủi ro nhiều hơn so với nhờ thu D/P, vì
khi đến hạn trả tiền của hối phiếu, người mua có thể không trả tiền vì một lý do
nào đó trong khi đã nhận hàng. Thời gian thanh toán bị kéo dài do phải phụ thuộc
vào thời gian chứng từ luân chuyển từ ngân hàng bên xuất khẩu đến ngân hàng
bên nhập khẩu, nên người xuất khẩu phải mất khá lâu mới thu được tiền còn người
nhập khẩu thì có lợi hơn.
Với phương thức này, việc ngân hàng khống chế các chứng từ hàng hoá
khiến cho quyền lợi của người xuất khẩu cũng được bảo đảm hơn phương thức
nhờ thu phiếu trơn và chuyển tiền, thời gian thanh toán thì ngắn hơn và chi phíít
hơn so với phương thức thanh toán bằng thư tín dụng. Do vậy, phương thức này
được sử dụng trong phương thức xuất nhập khẩu với những hợp đồng có giá trị
nhỏ và thanh toán dịch vụđối với các khách hàng quen và tin cậy.
2.Phương thức tín dụng chứng từ:
Phương thức tín dụng chứng từ là một sự thoả thuận trong đó một ngân
hàng (ngân hàng mở thư tín dụng) theo yêu cầu của khách hàng (người yêu cầu
mở thư tín dụng) sẽ trả một số tiền nhất định cho một người khác (người hưởng lợi
của thư tín dụng) hoặc chấp nhận hối phiếu do người này ký phát trong phạm vi số
tiền đó. Khi người này xuất trình cho ngân hàng một bộ chứng từ phù hợp với
những quy định đề ra trong thư tín dụng. Một công cụ vô cùng quan trọng không
22
22
thể thiếu được trong phương thức tín dụng chứng từ là thư tín dụng, nếu không
mởđược thư tín dụng thì phương thức thanh toán này cũng không được xác lập.
Thư tín dụng (Letter of Credit_L/C) là một bản cam kết dùng trong thanh
toán, trong đó một ngân hàng (ngân hàng phục vụ người nhập khẩu) theo yêu cầu
của người nhập khẩu tiến hành mở và chuyển đến cho ngân hàng ở nước ngoài

Thông báo qua ngân hàng thông báo khác:
Đối với những thư tín dụng mà ngân hàng phát hành yêu cầu NHNT thông
báo cho một ngân hàng khác, thanh toán viên ngân hàng chuyển thư tín dụng qua
mạng SWIFT hoặc qua đường công văn cho ngân hàng đó. Nếu ngân hàng phát
hành yêu cầu NHNT thông báo kèm xác nhận thì thanh toán viên phải kiểm tra uy
tín của ngân hàng phát hành thông qua lượng giao dịch, qua các ngân hàng đại lý,
độ tin cậy thanh toán với các đơn vị thành viên, không xác nhận đối với những thư
tín dụng mà ngân hàng phát hành không có quan hệ đại lý với NHNT, nghiên cứu
đề xuất mức ký quỹ hoặc miễn ký quỹ với ngân hàng phát hành. Trong trường hợp
không đồng ý xác nhận thì phải thông báo rõ: “Chúng tôi không đồng ý xác nhận
thư tín dụng này”.
Tiếp nhận, kiểm tra chứng từ:
Khi nhận chứng từ do khách hàng xuất trình kèm bản gốc thư tín dụng và
các sửa đổi có liên quan, thanh toán viên ngân hàng phải kiểm tra lại chứng từ, số
lượng từng loại và mức độ phù hợp của chứng từ rồi chuyển cho phụ trách phòng.
Nếu chứng từ có sai sót thì thanh toán viên ngân hàng phải thông báo cho khách
hàng để có biện pháp xử lý kịp thời.
Gửi chứng từ đòi tiền:
Thanh toán viên ngân hàng lập thư đòi tiến như trong chỉ thị thanh toán của
thư tín dụng, kèm với bộ chứng từ để gửi cho ngân hàng phát hành thư tín dụng.
Nếu là thư tín dụng xác nhận thì ngân hàng có quyền đòi tiền bằng điện qua mạng
SWIFT.
24
24
Chiết khấu chứng từ:
NHNT chiết khấu chứng từ dưới hai hình thức: chiết khấu miễn truy đòi
(mua đứt bộ chứng từ) và chiết khấu truy đòi.
Với hình thức chiết khấu miễn truy đòi, ngân hàng chiết khấu miễn truy đòi
đối với bộ chứng từ sau khi kiểm tra các điều kiện sau:
• Bộ chứng từ của L/C trả tiền ngay và cho phép đòi tiền bằng điện.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status