Website: Email : Tel : 0918.775.368
Lời nói đầu
Sau hơn 15 năm thực hiện chính sách mở cửa nền kinh tế, hội nhập và phát
triển. Kinh tế Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn. Có được những
thành tựu đó một phần la do công đóng góp của hoạt động xuất nhập khẩu.
Trong thời gian qua, hoạt động xuất khẩu đã đem về cho đất nước lượng ngoại
tệ đáng kể, góp phần tăng dự trữ ngoại tệ, trang trải một phần cho nhu cầu nhập
khẩu, phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước, đưa nước
ta hội nhập với nền kinh tế khu vực và trên thế giới.
Hoạt động xuất khẩu của Việt Nam không thể đạt được những thành tựu như
vậy nếu không có sự hậu thuẫn từ phía các ngân hàng thương mại, trong đó
không thể kể đến Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam. Thanh toán quốc tế nói
chung và thanh toán xuất khẩu nói riêng luôn là thế mạnh của NHNTVN. Hiện
nay, trong các phương thức thanh toán quốc tế, phương thức thanh toán tín dụng
chứng từ được xem là phương thức thanh toán thông dụng và an toàn nhất. Với
quy trình nghiệp vụ chặt chẽ, trang thiết bị hiện đại và quan trọng hơn cả là đội
ngũ thanh toán viên được trang bị đầy đủ kiến thức, trình độ nghiệp vụ chuyên
môn, NHNTVN luôn duy trì được vị trí của mình là ngân hàng có bề dày kinh
nghiệm nhất và là ngân hàng chiếm tỷ trọng cao nhất trong cả nước về doanh số
thanh toán bằng phương thức tín dụng chứng từ.
Qua quá trình thực tập tại NHNTVN, được làm quen và tìm hiểu về hoạt
động thanh toán xuất khẩu của ngân hàng, em đặc biệt chú ý đến phương thức
tín dụng chứng từ. Nhằm đưa ra một vài giải pháp nhằm hoàn thiện hơn công tác
thanh toán xuất khẩu bằng phương thức tín dụng chứng từ tại NHNTVN và vận
dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn, em chọn đề tài: " Giải pháp nhằm
hoàn thiện hoạt động thanh toán xuất khẩu theo phương thức tín dụng
chứng từ tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam" làm chuyên đề thực tập cho
mình.
Kết cấu chuyên đề gồm 3 phần:
- 1 -
Website: Email : Tel : 0918.775.368
khác. Nội tệ với chức năng là phương tiện thanh toán theo luật định trong phạm
vi một nước, sẽ không thể vượt qua giới hạn sử dụng của nó nếu như hai bên
liên quan trong hợp đồng mua bán không có một thoả thuận cụ thể nào về vấn đề
đó. Do vậy khi ký kết hợp đồng thương mại, tín dụng, hay dịch vụ các bên
thường đàm phán, thống nhất về ngoại tệ nào được dùng trong giao dịch là đồng
tiền của nước người bán hay người mua hay có thể là đồng tiền của nước thứ ba.
Các đồng tiền được sử dụng trong thanh toán quốc tế chủ yếu là các laọi
ngoại tệ mạnh có khả năng chuyển đổi tự do như đôla Mỹ (USD), bảng Anh
(GBP), mác Đức (DEM), yên Nhật (JPY), frăng Pháp (FRF). Đặc biệt với sự ra
đời của đồng tiền chung châu Âu (EURO) ngày 1/1/1999 của liên minh châu Âu
- 3 -
Website: Email : Tel : 0918.775.368
sẽ tạo ra khả năng cạnh tranh gay gắt trên thị trường tiền tệ thanh toán quốc tế để
quyết định đồng tiền nào USD hay EURO sẽ chiếm tỷ lệ cao hơn trong giao dịch
thanh toán quốc tế.
Hiện nay, phần lớn việc chi trả trong thanh toán quốc tế được thực hiện
thông qua hệ thống giao dịch SWIFT (Hiệp hội viễn thông tài chính quốc tế).
Theo thống kê của tổ chức này thì các giao dịch tài chính tiền tệ quốc tế được
thực hiện qua mạng SWIFT chiếm 72% các giao dịch tài chính tiền tệ quốc tế
hàng ngày, còn lại được thực hiện thông qua con đường điện tín, bưu điện dưới
các hình thức uỷ nhiệm thu, chi hộ lẫn nhau giữa các ngân hàng, tỷ lệ trả bằng
tiền mặt trong thanh toán quốc tế chiếm một phần không đáng kể.
Ngoài ngoại tệ là yếu tố cơ bản không thể thiếu trong thanh toán quốc tế,
một yếu tố không kém phần quan trọng trong hoạt động này là các chứng từ.
Chứng từ là cơ sở để người thụ hưởng có quyền được đòi tiền và là căn cứ để
chấp nhận nợ hoặc từ chối thực hiện nghĩa vụ chi trả của mình. Các chứng từ
được tạo lập theo các luật lệ, tập quán của mỗi một quốc gia và phù hợp với
thông lệ quốc tế cho mỗi loại chứng từ được đưa ra sử dụng. Chúng có thể trở
thành đối tượng của một loại hình thương mại đặc biệt thông qua việc mua bán
của các ngân hàng, các tổ chức tiền tệ. Số lượng và loại chứng từ cũng như hình
đồng ngoại thương.
2. Vai trò của thanh toán quốc tế
- 5 -
Người mua Người bán
Ngân h ngà
bên mua
Ngân h ngà
bên bán
Ngân h ng à
trung gian
Website: Email : Tel : 0918.775.368
2.1. Vai trò của thanh toán quốc tế đối với hoạt động kinh tế quốc dân
Sự ra đời và phát triển của nền kinh tế sản xuất và trao đổi hàng hoá trên thế
giới gắn liền với sự ra đời, phát triển của tiền tệ và lưu thông tiền tệ. Trong quá
trình trao đổi hàng hoá, tiền tệ ra đời với chức năng là trung gian trao đổi hàng
hoá đặc biệt, làm vật ngang giá chung của các loại hàng hoá khác. Việc xuất
hiện đồng tiền trong lưu thông và trao đổi hàng hoá đã tạo tiền đề và thúc đẩy
mậu dịch quốc tế phát triển. Cùng với mối quan hệ giữa các nhà kinh doanh xuất
nhập khẩu ngày càng trở nên đa dạng và phong phú. Sự không nhất trí về thờì
gian của các chu trình sản xuất và tiêu thụ hàng hoá, hoạt động thanh toán quốc
tế - khâu kết thúc một giao dịch ngoại thương cũng trở nên bức thiết và thường
xuyên hơn, yêu cầu phảI được xem xét để hoàn thiện nghiệp vụ thanh toán quốc
tế theo luật lệ quốc gia cũng như phảI phù hợp với thông lệ quốc tế và đáp ứng
đòi hỏi của thị trường thương mại hoá toàn cầu là hết sức cần thiết.
Sự trỗi dậy một cách nhanh chóng và mạnh mẽ của nền kinh tế ở một số
nước trên thế giới trong thập kỷ cuối của thế kỷ 20 đã chứng minh rằng kinh tế
của một nước không thể phát triển với một chính sách đóng cửa, trông vào tích
luỹ và trao đổi trong nước. Mà phảI biết phát huy mặt mạnh trong nước, tận
dụng khả năng có lợi từ bên ngoàI, biết phát huy lợi thế so sánh, biết kết hợp
sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại trong hợp tác kinh tế quốc tế. Văn kiện
Trong điều kiện tiền tệ thường xuyên biến động, khả năng thanh toán của
con nợ bấp bênh, rủi ro trong việc thực hiện hợp đồng mua bán ngày càng nhiều,
vị trí và vai trò của hoạt động thanh toán quốc tế cũng vì thế mà được khẳng
định hơn. Trong đó các yếu tố về tiền tệ, về phương thức thanh toán, biện pháp
đảm bảo hối đoáI và đảm bảo thu được tiền hàng đối với nhà xuất khẩu… cần
- 7 -
Website: Email : Tel : 0918.775.368
được xem xét nghiên cứu kỹ lưỡng để lựa chọn áp dụng cho linh hoạt với mỗi
trường hợp.
2.2.Vai trò của thanh toán quốc tế đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Đối với hoạt động ngân hàng, việc hoàn thiện và phát triển hoạt động thanh
toán quốc tế có vị trí và vai trò hết sức quan trọng, nó không chỉ là một dịch vụ
thanh toán thuần tuý mà nó được coi là một mặt không thể thiếu được trong hoạt
động kinh doanh của ngân hàng, nó bổ sung và hỗ trợ cho các mặt hoạt động
kinh doanh khác của ngân hàng.
Hoạt động thanh toán quốc tế của một ngân hàng phát triển đáp ứng được
đòi hỏi của khách hàng sẽ là điều kiện tốt để thu hút thêm khách về giao dịch,
trên cơ sở đó mà ngân hàng có thể tăng qui mô hoạt động của mình.
Nhờ đẩy mạnh hoạt động thanh toán quốc tế mà ngân hàng có thể mở rộng
hoạt động tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu cũng như tăng cường được nguồn vốn
huy động đặc biệt là nguồn vốn ngoại tệ do tạm thời quản lý được vốn nhàn rỗi
của các doanh nghiệp có quan hệ thanht oán quốc tế qua ngân hàng.
Hoạt động thanht oán quốc tế tốt giúp cho ngân hàng phát triển được các
nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ, bảo lãnh và các dịch vụ ngân hàng quốc tế khác.
Nhờ có nguồn vốn ngoại tệ thu về lớn và đa dạng thông qua nghiệp vụ thanh
toán quốc tế.
Nghiệp vụ thanh toán quốc tế phát triển sẽ giúp cho ngân hàng nâng cao
được uy tín của mình trên thị trường quốc tế, trên cơ sở đó mà có thể khai thác
được nguồn vốn tài trợ của các ngân hàng nước ngoài và nguồn vốn trên thị
trường tài chính thế giới nhằm đáp ứng cao hơn nhu cầu vay vốn của khách
này và nó hoàn toàn nhất trí với đặc điểm của chế độ bản vị vàng, chế độ tín
dụng quốc tế lúc đó.
- 9 -
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Nội dung của hoạt động thanh toán quốc tế tự do và nhiều bên bao gồm 5
yếu tố sau:
1.1. Tự do mua bán ngoại hối.
Dưới chế độ thanh toán này các nguồn ngoại tệ thu, chi bất kể do nguyên nhân
nào với mục đích gì đều có thể mua bán bất kỳ lúc nào trên thị trường trong và
ngoài nước. Tự do mua bán ngoại hối làm cho tuyệt đại đa số bộ phận nghiệp vụ
ngoại hối đều tập trung tại ngân hàng thương mại. Việc cho vay và vay nợ giữa
các nước được bù trừ lẫn nhau ở mức cao nhất, giảm được đến mức thấp nhất
việc vận chuyển tiền tệ thế giới.
1.2. Vốn ngắn hạn và dài hạn tự do lưu động trên thế giới.
Với nội dung này không những mọi nhu cầu về tư bản của các nước được thoả
mãn mà còn điều hoà được cung cầu về ngoại hối và cân bằng được mức lãI suất
trên thế giới. Tác dụng của điều hoà cung cầu về ngoại hối và cân bằng mức lãI
suất là nguyên nhân làm cho việc lưu thông tư bản ngắn hạn và dàI hạn trên
quốc tế trở thành biện pháp quan trọng nhất để cân bằng cán cân trả tiền quốc tế
của các nước TBCN trong thời kỳ này.
1.3. Tự do xuất nhập khẩu vàng.
Trong điều kiện nếu cung và cầu ngoại hối không cân bằng nhau, các nước đều
có thể tự do xuất nhập khẩu vàng với tư cách là tiền tệ thế giới. Tự do xuất nhập
khẩu vàng đã làm thoả mãn hơn về nhu cầu ngoại hối và làm cho thanh toán
quốc tế được tiến hành một cách thuận lợi.
1.4. Thị trường tự do về ngoại hối và vàng.
Tự do mua bán ngoại hối, tự do lưu thông tư bản ngắn hạn và dài hạn, tự do xuất
nhập khẩu vàng không những được pháp luật bảo đảm mà còn có thị trường tự
do về ngoại hối và vàng làm cơ sở nghiệp vụ. Trên những thị trường này bất cứ
người nào, không kể nguyên nhân gì đều có thể mua bán ngoại hối và vàng một
các hệ thống tiền tệ quốc tế cũng lần lượt ra đời có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt
động thanh toán quốc tế. Hiệp định tiền tệ quốc tế thống nhất Bretton Woods
năm 1944 đưa ra một số nguyên tắc quan trọng như đồng đô la Mỹ (USD) là
đồng tiền chuẩn quốc tế, được đổi ra vàng (1 ounce = 35 USD); tỷ giá hối đoái
giữa các nước thành viên được hình thành trên cơ sở so sánh hàm lượng vàng
chính thức giữa tiền tệ của các nước thành viên và USD, nó không được phép
biến động quá phạm vi +1% của tỷ giá chính thức đã đăng ký tại Quỹ tiền tệ
Quốc tế (IMF).
Sự ra đời của hệ thống tỷ giá hối đoái mới này chỉ duy trì được sự ổn định
của tỷ giá các đông tiền cho đến năm 1968. Với sự kiện câu lạc bộ vàng Paris
giảI thể tháng 3/1968 và chế độ hai giá vàng hình thành, việc chuyển đổi USD ra
vàng bị công phá mãnh liệt. Giá vàng tăng vọt, USD mất giá dẫn tới cuộc đào
thảI USD, săn lùng JPY và DEM. Cho đến tháng 8/1971, nước Mỹ tuyên bố
ngừng việc đổi đô la Mỹ ra vàng, từ đó hệ thống tiền tệ Bretton Woods sụp đổ.
Sau sự sụp đổ của hệ thống tiền tệ Bretton Woods là sự ra đời của hiệp định
Smithsonian, theo đó Mỹ đã chính thức phá giá đồng USD 7,95% (1 ounce =
38USD). Đồng thời biên độ giao động của tỷ giá hối đoáI giữa các đồng tiền
được nới rộng lên +2,25%. Cho đến tháng 2/1973, sau khi Mỹ tuyên bố phá giá
đồng USD lần thứ hai 10% thì hiệp định Smithsonian hoàn toàn sụp đổ. Từ thời
điểm này quan hệ tiền tệ giữa các nước chuyển từ cơ chế tỷ giá cố định sang cơ
chế thả nổi.
Tóm lại, đặc trưng về hoạt động thanh toán quốc tế giai đoạn trong khuôn
khổ hiệp định là một khi hoạt động thanh toán được thực hiện trong khuôn khổ
hiệp định Chính phủ thì nó trở thành chế độ thanh toán quốc tế mang tên của
hiệp định đó.
3.Đặc trưng của hoạt động thanh toán quốc tế trong giai đoạn hiện nay
- 12 -
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Hoạt động thanh toán quốc tế tồn tại trong mối quan hệ mật thiết với các
hoạt động khác trong nền kinh tế quốc dân, đặc biệt nội dung chiến lược phát
tài chính tiền tệ của các quốc gia đó. Tỷ giá giữa các đồng tiền biến động từng
ngày, từng giờ, điều đó ảnh hưởng rất lớn đến sự ổn định và an toàn trong hoạt
động kinh tế và thanh toán quốc tế.
Để thiết lập trật tự cho các quan hệ trao đổi mậu dịch, quan hệ thanh toán
quốc tế và các quan hệ kinh tế quốc tế khác giữa các quốc gia trong khu vực và
trên thế giới đã xuất hiện các liên minh tiền tệ, tín dụng quốc tế khu vực cùng
với sự thống nhất tiền tệ khu vực và thành lập các ngân hàng trung ương khu
vực. Như vậy sẽ tiết kiệm được chi phí khi chuyển đổi giao dịch giữa các nước,
tránh được rủi ro đối với việc giao dịch tiền tệ giữa các nước, lãI suất sẽ giảm và
hội tụ theo một mức chung, các doanh nghiệp sẽ không sợ bị rủi ro nhiều về giá
cả, dễ dàng trong việc ra các quyết định đầu tư, kinh doanh.
3.2. Trên thế giới vẫn còn tồn tại hai chế độ quản chế ngoại hối đối đầu nhau.
Vấn đề quản lý ngoại hối là một nội dung rất quan trọng trong hoạt động
ngoại thương và thanh toán quốc tế. Mặc dù hiện nay trong nền kinh tế hàng
hoá, các chủ thể tham gia trong các hợp đồng mua bán đều tuân thủ theo các
nguyên tắc "bình đẳng", " hai bên cùng có lợi", "tự do cạnh tranh" song các mối
quan hệ về tiền tệ, cơ chế thanh toán ở mỗi nước lại có những đặc điểm riêng.
Các đặc điểm này được thể hiện trong các chính sách quản chế ngoại hối đại
diện cho hai nhóm nước khác nhau:
Nhóm các nước tư bản phát triển thực hiện chế độ ngoại hối tự do, các đồng
tiền quốc gia được tự do tham gia vào thanh toán quốc tế, tự do chuyển đổi từ
đông tiền nước mình sang đồng tiền nước ngoàI, tự do chuyển vốn ra nước
ngoàI hoặc từ nước ngoàI vào trong nước. Một số nước như Mỹ, Pháp, Anh các
- 14 -
Website: Email : Tel : 0918.775.368
chủ thể kinh tế tự do mở tàI khoản ở nước ngoàI, tại các nước này không còn
chế độ cấp giấy phép ngoại hối.
Nhóm các nước còn lại, đại bộ phận là các nước đang phát triển và kém phát
triển, thực hiện chế độ quản chế ngoại hối nghiêm ngặt, không được mua bán
ngoại hối tự do, không được mở tàI khoản ở ngân hàng nước ngoàI nếu chưa có
năng hoạt động của BIS là tham gia với tư cách là người bảo trợ hoặc đại lý
thanh toán quốc tế mà các nước thanh toán đã thoả thuận uỷ nhiệm. Mặc dù có
bề dày hơn 50 năm hoạt động và mong mỏi tự khẳng định là một tổ chức siêu
quốc gia về điều chỉnh độc quyền nhà nước, kết quả mà BIS đạt được vẫn tỏ ra
khiêm tốn, trong thập kỷ gần đây hoạt động chủ yếu trong phạm vi hợp tác tiền
tệ EEC.
Bên cạnh các tổ chức tài chính tín dụng quốc tế, một số nước ký hiệp định
hỗ trợ tín dụng như hiệp định SWAP (Swing Agreement Of Payment) giữa Mỹ
và 14 nước tư bản. Nội dung của hiệp định này là các nước sử dụng tín dụng
SWAP dựa vào vốn dự trữ ngoại hối của nhau để cứu nguy cho đồng tiền của
một nước nào đó bị nguy cơ mất giá.
Hiệp hội viễn thông tài chính liên ngân hàng toàn cầu (SWIFT) ra đời tháng
5/1973 với 239 ngân hàng đầu tiên tại châu Âu và Bắc Mỹ. HIện nay SWIFT đã
có trên 6600 thành viên là các tổ chức tài chính mà chủ yếu là các ngân hàng
thuộc 184 nước. Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam hiện nay là ngân hàng duy
nhất của Việt Nam là thành viên của hiệp hội này. Trung bình mỗi ngày có trên
4 triệu bức điện gửi qua mạng SWIFT, trong đó điện thanh toán chiếm khoảng
72,5%.
Sự ra đời của mạng SWIFT là một bước ngoặt lớn trong hoạt động thanh toán quốc
tế của hệ thống ngân hàng. Nhờ mạng SWIFT mà thông tin giữa các ngân hàng được
chuyển nhanh hơn, chính xác hơn, an toàn hơn và chi phí rẻ hơn lại không giới hạn trên
- 16 -
Website: Email : Tel : 0918.775.368
phạm vi toàn cầu. Việc sử dụng các mẫu điện SWIFT được tiêu chuẩn hoá bằng các
trường bức điện với ngôn ngữ thống nhất, ngắn gọn rõ ràng đã tăng tính thống nhất,
giảm tối thiểu các lỗi dễ mắc phảI, rút ngắn thời gian thao tác đánh điện và duyệt điện.
Các nghiệp vụ ngân hàng được cụ thể hoá dễ sử dụng không chỉ trong phạm vi ngân
hàng mà còn phục vụ cho việc truyền thông tin giữa ngân hàng và khách hàng.
III. Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động thanh toán quốc tế.
1. Cán cân thanh toán quốc tế.
Xuất nhập khẩu hàng hoá
Du lịch
Giao thông vận tải, viễn thông bưu điện
Lợi tức, cổ tức, trái tức và các khoản thu nhập khác phát sinh từ hoạt
động đầu tư
Các khoản chi tiêu của Chính phủ ở nước ngoài như chi quân sự, ngoại
giao, xã hội
Các khoản tài trợ, viện trợ tài chính của Chính phủ
Các dịch vụ khác
-Hạng mục vốn: ghi những di động tiền tệ trong đầu tư và tín dụng giữa hai
nước. Hạng mục này còn gọi là cán cân di chuyển vốn và tín dụng. Bao gồm:
Đầu tư trực tiếp
Hoạt động tín dụng ngắn hạn và dài hạn đầu tư vào thị trường chứng
khoán (còn gọi là đầu tư gián tiếp)
1.3. Mối quan hệ và sự điều chỉnh cán cân thanh toán quốc tế.
- 18 -
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Tổng cán cân thanh toán vãng lai và cán cân vốn và tín dụng là một số
dương thì gọi là cán cân thanh toán dư thừa, ngược lại nếu là một số âm thì gọi
là cán cân thanh toán thiếu hụt.
Tình trạng dư thừa hay thiếu hụt của cán cân thanh toán tại một thời điểm
nhất định sẽ ảnh hưởng đến quan hệ cung và cầu ngoại hối trên thị trường, do đó
ảnh hưởng đến tình hình biến động của tỷ giá hối đoáI của nước đó.Nếu dư thừa
cán cân thanh toán sẽ ổn định của đồng bản tệ hoặc tăng giá trị đồng tiền quốc
gia. Ngược lại, thiếu hụt cán cân thanh toán sẽ làm cho tỷ giá hối đoái mất tính
ổn định, giá trị đồng bản tệ giảm đi.
Việc điều chỉnh cán cân thanh toán quốc tế thường được tiến hành khi cán
cân thanh toán bị thiếu hụt hay dư thừa. Trên thực tế người ta thường quan tâm
điều chỉnh nhất khi nó bị thiếu hụt.
Thay đổi tỷ giá hối đoáI để điều chỉnhcán cân thanh toán là biện pháp mà
ở các nước, Ngân hàng trung ương hoặc Vụ hối đoái sẽ trực tiếp xác định và
công bố tỷ giá hối đoái. Còn các ngân hàng thương mại hoặc các tổ chức kinh
doanh tiền tệ tuỳ theo diễn biến thực tế của quan hệ cung cầu về ngoại hối trên
thị trường hối đoái sẽ công bố tỷ giá kinh doanh phù hợp trên cơ sở tỷ gá của
Ngân hàng trung ương.
2.2. Các loại tỷ giá.
Tỷ giá chính thức: dưới chế độ quản chế ngoại hối, tỷ giá hối đoái do các cơ
quan quản chế ngoại hối quy định gọi là tỷ giá chính thức. Tỷ giá chính thức
được áp dụng trong cácnghiệp vụ ngoại hối. Tỷ giá chính thức không lên xuống
tự do trên thị trường, không bị ảnh hưởng của quan hệ cung cầu hàng ngày.
Tỷ giá tự do: tỷ giá tự do hình thành đồng thời với tỷ giá chính thức. Mức độ
chênh lệch giữa tỷ giá chính thức và tỷ giá tự do phụ thuộc vào mức độ sụt giá
- 20 -
Website: Email : Tel : 0918.775.368
của đồng tiền nội tệ và do tình hình cung cầu ngoại hối của nước đó quyết
định.Tuy nhiên tỷ giá tự do không thể phản ánh một cách chính xác mức độ sụt
giá của đồng tiền, hơn nữa nó thường bị nhiều nhân tố thuần tuý, ngẫu nhiên ảnh
hưởng. Vì vậy tỷ giá tự do chỉ là chỉ tiêu tham khảo để đánh giá tình trạng tiền tệ
của một nước nào đó mà thôi.
Chế độ nhiều tỷ giá: Các nước sử dụng chế độ nhiều tỷ giá như một công cụ
để thực hiện chính sách ngoại hối và chính sách ngoại thương. Mục đích của
việc thực hành chế độ nhiều tỷ giá là thay đổi cơ chế hàng hoá xuất nhập khẩu,
trên cơ sở đó tác động đến cán cân thương mại từ đó tác động đến cán cân thanh
toán quốc tế của một nước. NgoàI ra chế độ nhiều tỷ giá còn được áp dụng như
là một loại thuế nhập khẩu đặc biệt nhằm hạn chế nhập khẩu mặt hàng nào đó,
hoặc là tiền thưởng xuất khẩu để khuyến khích xuất khẩu mặt hàng nào đó. Làm
công cụ cho chính sách bảo vệ mậu dịch và trong trường hợp nào đó làm tăng
thu nhập của ngân khố qua thu thuế bán ngoại hối.
Cơ chế tỷ giá thả nổi: là các đồng tiền không còn được đánh giá theo một
ngang giá chung nào. Tỷ giá giữa hai đồng tiền trong chế độ tỷ giá hối đoáI thả
hàng đúng số lượng, chất lượng và đúng hạn. Trong buôn bán quốc tế, việc lựa
chọn phương thức thanh toán nào là rất quan trọng, nó quyết định tới hiệu quả
lợi nhuận cũng như tránh được những rủi ro trong kinh doanh của các bên.
Do tính chất đa dạng, phong phú trong giao dịch thương mại quốc tế, để
phục vụ cho quá trình thanh toán quốc tế được thuận lợi thì ngày nay có rất
nhiều phương thức thanh toán. Các phương thức thanh toán quốc tế chủ yếu
được sử dụng hiện nay là:
+Phương thức nhờ thu: là phương thức thanh toán quốc tế trong đó người
xuất khẩu sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ giao hàng hoặc cung ứng dịch vụ cho
- 22 -
Website: Email : Tel : 0918.775.368
người nhập khẩu, uỷ thác cho ngân hàng phục vụ mình thu hộ số tiền ở người
nhập khẩu nước ngoài trên cơ sở hối phiếu do người xuất khẩu ký phát.
+Phương thức chuyển tiền: là phương thức thanh toán quốc tế trong đó
khách hàng (người trả tiền) yêu cầu ngân hàng của mình chuyển một số tiền nhất
định cho một người khác (người hưởng lợi) ở một địa điểm nhất định bằng
phương tiện chuyển tiền do khách hàng yêu cầu.
+Phương thức ghi sổ: là phương thức thanh toán quốc tế trong đó người bán
mở một tài khoản để ghi nợ người mua sau khi người bán đã hoàn thành giao
hàng, đến từng định kỳ (tháng, quý) người mua trả tiền cho người bán.
+Phương thức tín dụng chứng từ.
Trong các phương thức thanh toán quốc tế nêu trên thì phương thức thanh
toán tín dụng chứng từ là phương thức được sử dụng nhiều nhất trong thanh toán
quốc tế nhất là đối với thị trường các nước đang phát triển, nền kinh tế thị
trường chưa đạt trình độ cao.
1. Khái niệm về phương thức thanh toán tín dụng chứng từ.
Phương thức tín dụng chứng từ là một sự thoả thuận, trong đó một ngân
hàng (ngân hàng mở thư tín dụng) theo yêu cầu của khách hàng (người yêu cầu
mở thư tín dụng) sẽ trả một số tiền nhất định cho một người khác (người hưởng
lợi số tiền của thư tín dụng) hoặc chấp nhận hối phiếu do người này ký phát
dụng đứng ra xác nhận trả tiền cho ngân hàng mơt thư tín dụng. Sở dĩ có sự xác
nhận này là do người bán chưa hoàn toàn tin tưởng và khả năng trả tiền của ngân
hàng mở thư tín dụng.
- 24 -
Website: Email : Tel : 0918.775.368
+Ngân hàng chiết khấu: là ngân hàng đứng ra mua hối phiếu có kỳ hạn chưa
đến hạn trả tiền do người bán ký phát cho ngân hàng trả tiền theo yêu cầu của
ngân hàng mở thư tín dụng.
Trong thực tế nghiệp vụ về chứng từ, không nhất thiết phải có đủ các ngân
hàng nói trên cùng tham gia. Thông thường chỉ có hai ngân hàng tham gia là
ngân hàng mở thư tín dụng và ngân hàng thông báo.
-Người mua (người nhập khẩu).
Khi hợp đồng mua bán áp dụng phương thức thanh toán tín dụng chứng từ
thì việc mở thư tín dụng là điều kiện tiên quyết cho người bán thực hiện hợp
đồng. Người mua phải mở thư tín dụng đúng thời hạn quy định trong hợp
đồng. Người mua phải căncứ vào nội dung của hợp đồng mua bán để làm đơn
yêu cầu mở thư tín dụng gửi tới ngân hàng. Người mua phải trả một khoản thủ
tục phí cho ngân hàng mở thư tín dụng và thường phải ký quỹ từ 20% đến 100%
trị giá số tiền trong thư tín dụng tại ngân hàng mở thư tín dụng.
Người mua có quyền từ chối hoàn trả toàn bộ hay một phần số tiền của thư tín
dụng cho ngân hàng nếu xét thấy bộ chứng từ không phù hợp với những điều
kiện mà nười mua đã nêu ra trong thư tín dụng. Trong trường hợp này, ngân
hàng mở thư tín dụng phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về những thiếu sót của
mình khi kiểm tra chứng từ.
-Người bán (người xuất khẩu).
Người bán chỉ giao hàng sau khi biết người mua đã mở thư tín dụng cam kết trả
tiền cho mình. Người bán phải kiểm tra thư tín dụng xem có đúng với nội dung
của hợp đồng mua bán hay không, nếu có sai sót gì so với hợp đồng hoặc có
những điều kiện gì khôngười bán có lợi cho mình thì có quyền yêu cầu người
mua sửa đổi hoặc bổ sung thư tín dụng. Nội dung sửa đổi hoặc bổ sung phải