Giáo trình bản đồ học part 9 - Pdf 19

177

6.4.1. Các phương pháp chính thành lập bản đồ gốc
Trong các sách vở bản đồ đều phân loại các phương pháp thành lập bản
đồ gốc theo 4 dấu hiệu sau:
- Theo mối liên quan của quá trình thành lập bản đồ với các quá trình
tiếp theo chuẩn bị in bản đồ.
- Theo kỹ thuật thành lập, phụ thuộc vào phương pháp chuyển vẽ hình
ảnh từ bản đồ tài liệu lên bản đồ cần thành lập.
- Theo tỷ lệ bản đồ cần thành lập.
- Theo phương pháp cố định hình ảnh lên các nguyên vật liệu khác nhau
(giấy, điamát, màng khắc, ).
Việc ghi chú, tên gọi trên bản đồ cũng có ý nghĩa quan trọng. Công việc
này không phụ thuộc phương pháp thành lập bản đồ.
Phân loại các phương pháp thành lập bản đồ:
1- Theo mối liên hệ giữa thành lập và chuẩn bị in bản đồ:
+ Thành lập bản gốc biên vẽ và bản gốc thanh vẽ riêng biệt.
+ Đồng thời thành lập bản gốc biên vẽ và bản gốc thanh vẽ.
+ Kết hợp bản gốc biên vẽ và thanh vẽ trên 1 bản.
2- Theo tỷ lệ bản gốc:
+ Thành lập ở tỷ lệ của bản đồ sẽ in.
+ Thành lập ở tỷ lệ lớn hơn tỷ lệ bản đồ tư liệu.
+ Thành lập ở tỷ lệ nhỏ hơn.
3- Theo kỹ thuật chuyển vẽ hình ảnh bản đồ:
+ Phương pháp quang cơ.
+ Phương pháp thu phóng đồng dạng.
+ Phương pháp phân tích: - Cơ học.
- Quang học.
- Điện tử - tin học.
4- Theo phương pháp cố định hình ảnh:
178

lập bản đồ trên bản copy tài liệu bản đồ, sau đó các thợ vẽ, công nhân kỹ thuật
vẽ lại trên bản gốc thanh vẽ với chất lượng đồ hoạ tốt hơn.
c. Phương pháp kết hợp thành lập và chuẩn bị in bản đồ
Ở phương pháp này, nội dung phức tạp khó khăn thì thành lập trên bản
gốc biên vẽ, phần đơn giản hơn thì thành lập trên bản gốc thanh vẽ. Phương
pháp này cũng rút ngắn được thời gian sản xuất, sử dụng đồng thời các cán bộ,
nhân viên có trình độ tay nghề khác nhau. Để thực hiện phương pháp này có 2
phương án:
- Phương án 1: Các kỹ sư bản đồ thực hiện công việc tổng quát hoá nội
dung bản đồ bằng bút chì. Sau đó vẽ theo đó, thực hiện vẽ trên màng khắc, giấy
hay điamát.
- Phương án 2: Thực hiện phức tạp hơn. Khi đó, từ bản gốc can ghép
người ta làm bản copy (bản lam). Trên bản này tiến hành thành lập các đối
tượng nội dung cần tổng hợp hoá hình ảnh.
Một trong những phương án của phương pháp kết hợp là thành lập bản
gốc trên copy 2 mặt của nền nhựa trong điamát. Phương pháp này áp dụng khi
tỷ lệ bản đồ tài liệu chính bằng hay gần bằng tỷ lệ bản đồ cần lập.
Để thực hiện công việc theo phương pháp này, từ các bản gốc can ghép
của bản đồ tài liệu chính, người ta tiến hành làm copy 2 màu lên 2 mặt của bản
nhựa trong điamát. Trên một mặt là copy màu lam, trên mặt kia là copy màu
nâu hoặc đen.
Trên diện tích cần chọn lọc đối tượng hay khái quát hình ảnh đối tượng
(sửa chữa hình ảnh), người ta xoá bỏ hình ảnh trên copy màu đen, còn trên
copy màu lam tiến hành vẽ thành lập đối tượng theo tài liệu. Ở những chỗ
không có gì thay đổi thì tiến hành vẽ bình thường. Kết quả trên bản gốc này là
bản gốc biên vẽ, từ đó làm copy cho bản thanh vẽ.
2. Các phương pháp thành lập phân loại theo tỷ lệ bản đồ cần lập
180

Theo tỷ lệ thì bản gốc biên vẽ có thể thành lập ở tỷ lệ bản đồ cần lập, hay

Theo kỹ thuật thành lập, phụ thuộc vào phương pháp chuyển vẽ từ bản
đồ tài liệu lên nền của bản đồ cần lập, người ta chia ra:
- Phương pháp quang cơ.
- Phương pháp đồ thị (Thu phóng đồng dạng).
- Phương pháp phân tích.
a. Phương pháp quang cơ gồm có 2 phương pháp: phương pháp cơ ảnh và
phương pháp chiếu ảnh.
- Phương pháp cơ ảnh: Là phương pháp người ta thành lập bản đồ theo
các bản lam. Những bản lam này được làm ra từ quá trình chụp ảnh. Phương
pháp này thường được áp dụng để làm bản đồ địa hình. Từ các bản đồ tài liệu
có tỷ lệ lớn hơn, người ta chụp lại (trên máy ảnh chuyên dụng) thu về tỷ lệ bản
đồ cần lập. Sau đó từ phim âm làm ra các bản lam. Các bản lam được can ghép
trên nền đế cứng không co giãn (nhôm, kẽm). Sau đó chuyển vẽ cơ sở toán học,
lưới chiếu bản đồ lên. Đây chính là nền bản đồ. Theo các nét lam này người ta
thành lập nội dung bản đồ bằng các màu mực đã quy định trong quy phạm cho
bản đồ (trên giấy). Thành công chính của phương pháp là không phải khái quát
hình ảnh theo tỷ lệ bản đồ, dễ dàng tổng quát hoá nội dung. Nó đảm bảo độ
chính xác cần thiết, tăng năng suất lao động. Phương pháp này chỉ áp dụng khi
bản đồ tài liệu chính có tỷ lệ lớn hơn không quá 2 – 3 lần tỷ lệ bản đồ cần lập.
- Phương pháp chiếu ảnh nhờ các thiết bị quang học chuyên dụng:
Hình ảnh bản đồ tài liệu được chiếu lên giấy. Theo đó người ta tiến hành
tổng quát hoá nội dung bằng nét chì và vẽ lại bằng mực luôn.
Phương pháp này thực hiện khi thành lập bản đồ từ nguồn tài liệu khác
nhau đòi hỏi đưa lên hình ảnh số lượng lớn các đặc trưng của đối tượng.
Phương pháp này thường dùng để hiệu chỉnh bản đồ theo ảnh hàng
không. Nhược điểm của phương pháp này là năng suất lao động không cao, sử
dụng máy quang học đặt và cố định ảnh bằng tay. Ưu điểm là cho khả năng
nắn ảnh, biến đổi lưới chiếu bản đồ.
b. Phương pháp đồ thị (thu phóng đồng dạng, kẻ lưới ô vuông)
182


Bản gốc biên vẽ là phần cơ bản của sản phẩm bản đồ. Bản gốc biên vẽ có
thể một bản hay nhiều bản. Số lượng bản gốc biên vẽ phụ thuộc vào mức độ
phức tạp của nội dung bản đồ, công nghệ thành lập và đặc điểm bản đồ.
1. Chuẩn bị tư liệu bản đồ và nền bản đồ:
Thành lập bản đồ bắt đầu từ chuẩn bị tư liệu, Đặc điểm công việc này
phụ thuộc vào nguồn tư liệu bản đồ cần lập, vào công nghệ thành lập bản đồ.
Trên nền không biến dạng, người ta chuyển vẽ lưới trắc địa, lưới chiếu bản đồ
(đối với bản đồ địa hình). Sau đó người ta can chắp các bản lam để theo đó
chuyển vẽ hình ảnh bản đồ.
Đối với bản đồ địa lý chung tỷ lệ nhỏ và các bản đồ chuyên đề, công việc
chuẩn bị nền bản đồ gồm các việc:
- Tính toán toạ độ vuông góc của các điểm trên lưới chiếu bản đồ và các
góc khung bản đồ, tính toán kích thước tờ bản đồ.
- Chuyển lên nền không biến dạng các điểm đã được tính toán.
- Biến đổi hình ảnh bản đồ tài liệu lên lưới chiếu bản đồ mới và làm copy
màu lam.
- Can chắp và nắn hình các bản copy lam theo góc khung và các điểm cố
định định vị.
Sau khi hoàn thành công việc, các biên tập viên tiến hành kiểm tra để
trên nền này người ta tiến hành thành lập bản gốc biên vẽ.
2. Thành lập bản gốc biên vẽ và trình bày nó:
Thành lập bản gốc biên vẽ là phần công việc rất phức tạp, khó khăn và
mang nhiều tính sáng tạo.
Trên các bản lam nhận được từ bản đồ tài liệu, người ta tiến hành tổng
quát hoá hình ảnh bản đồ. Đối với các loại bản đồ khác nhau thì tổng quát hoá
ở mức độ khác nhau và có những đặc thù riêng. Các yếu tố và phương pháp ảnh
hưởng đến quá trình tổng quát hoá chúng ta đã xem xét ở phần “Tổng quát hoá
nội dung bản đồ”.
184


- Phương án 1: Thành lập từng nội dung bản đồ trên toàn bộ tờ bản đồ.
Thành lập các nội dung chính trước sau đó đến các nội dung phụ.
Trình tự thành lập bản đồ theo các yếu tố nội dung:
1- Thuỷ văn 4- Địa hình
2- Điểm dân cư 5- Ranh giới hành chính
3- Hệ thống đường giao thông 6- Tên gọi, ghi chú.
Trình tự thành lập bản đồ theo mức độ quan trọng của các yếu tố nội dung:
1- Các đối tượng chính của nội dung bản đồ
2- Các đối tượng chi tiết của nội dung bản đồ.
- Phương án 2: Thành lập nội dung theo từng khu vực. Thành lập hết tất
cả các nội dung ở khu vực này mới chuyển sang khu vực khác.
Phương án 1 thực hiện khi các nội dung bản đồ nằm trên nhiều bản đồ tư
liệu khác nhau.
Phương án 2 thường áp dụng khi thành lập các bản đồ địa hình.
Cũng có thể kết hợp cả 2 phương án trên.
Bản gốc biên vẽ được hoàn thành ở dạng bản gốc có các hình vẽ nét và
các yếu tố nội dung nền diện tích được tô màu bổ trợ (diện tích mặt nước, diện
tích rừng, thực vật).
Chất lượng bản gốc biên vẽ được coi là tốt nếu nó được đảm bảo:
+ Thành lập bản đồ bằng các ký hiệu, màu sắc gần với bản đồ cần lập.
+ Màu mực vẽ trên bản biên vẽ phải thuận tiện cho các công việc về ảnh
ở giai đoạn sau. (Ví dụ: Để vẽ thuỷ hệ bằng màu xanh lá cây; mật độ quang học
của mực vẽ phải đảm bảo).
+ Màu tô cho các yếu tố nền phải khó hấp thụ trên phim ảnh (Vídụ: Tô
màu tím đỏ thay cho màu xanh lá cây ở các diện tích rừng).
+ Tuân thủ hình dạng, kích thước tất cả các ký hiệu chữ số ghi chú trên
bản biên vẽ.
186


chỉ dẫn kèm theo.
Các tư liệu bản đồ dùng để thành lập bản đồ mới có thể ở dạng bản đồ tư
liệu (hình ảnh bản đồ) hay ở dạng số liệu biểu bảng, văn bản, , để nhập vào
máy tính điện tử cần phải qua quá trình số hoá tư liệu bản đồ.
Số hoá tư liệu bản đồ thực chất là quá trình biến đổi các ngôn ngữ, hình
ảnh thông thường sang dạng ngôn ngữ máy tính.
Quá trình số hoá tư liệu bản đồ có thể được thực hiện bằng những phần
mềm chuyên dụng mua của các hãng máy tính nước ngoài như: Autocad,
Mapinfo, Intergraph, trên các máy tính điện tử hoặc có thể số hoá bằng các
thiết bị thủ công (Bàn số hoá).
Tuỳ thuộc vào trang thiết bị của các cơ sở sản xuất, trình độ tay nghề cán
bộ công nhân viên, nguồn tư liệu bản đồ, yêu cầu kỹ thuật, độ chính xác của
bản đồ cần thành lập, mối liên hệ với quy trình công nghệ sản xuất tiếp theo mà
người ta lựa chọn phương pháp số hoá và các phần mềm dùng để số hoá. Thí
dụ đối với các tư liệu bản đồ cũ có hình ảnh không rõ ràng thì số hoá bằng bàn
số hóa, các tư liệu ở dạng số, biểu bảng được nhập qua bàn phím, các tư liệu
bản đồ cũng có thể được quét trên máy quét sau đó số hoá (vectơ hoá) trên máy
tính bằng các phần mềm chuyên dụng.
Theo đặc điểm và các tính năng kỹ thuật, các thiết bị số hoá có thể chia
làm 2 nhóm chính:
1- Các thiết bị số hoá thủ công (bàn số hoá) được các hãng máy tính
nước ngoài sản xuất (Mỹ, Anh, Đức, ).
2. Các trang thiết bị số hoá bán tự động và tự động: Bao gồm các máy
quét (scanner) đen trắng, màu với độ phân giải khác nhau, kích thước bản vẽ từ
A
4
 A
0
. Tư liệu bản đồ sau khi quét trên máy quét được đưa vào máy tính.
Bằng các phần mềm chuyên dụng, người ta tiến hành số hoá. Tuỳ thuộc vào

Sau khi số hoá ta mới được các yếu tố nét bản đồ, người ta dựa vào các
yếu tố nét để tô màu nền bản đồ ở các diện tích cần tô.
Trên máy tính điện tử có thể tạo ra 256 màu từ 3 màu cơ bản. Ba màu cơ
bản này có thể chọn theo các hệ màu khác nhau (tuỳ theo màu của máy tính hay
189

màu do phần mềm điều khiển). Việc bố trí, sắp xếp chữ số trên bản đồ dựa vào các
phông chữ (kiểu, kích thước chữ) đã cài đặt trên máy tính. Các ký hiệu quy ước
dùng cho các đối tượng riêng rẽ độc lập có thể lấy từ thư viện ngân hàng ký hiệu
của mỗi phần mềm hay tự thiết kế (bằng cách viết các chương trình vẽ ký hiệu
bằng ngôn ngữ tương thích của máy tính và phần mềm).
Sau khi biên tập và thiết kế bản đồ trên máy tính điện tử người ta được bản
đồ cần thành lập ở dạng số (bản đồ số). Bản đồ này có thể hiển thị trên màn hình
của máy tính (để xem, kiểm tra và báo cáo) cũng có thể được ghi vào băng, đĩa từ
(VCD). Nếu nối máy tính điện tử với máy vẽ (ploter) có thể in ra bản đồ trên giấy
điamat, trên vật liệu ảnh (tạo ra bản đồ dạng truyền thống) hoặc nối với máy khắc
tạo ra các khuôn in.
Trên máy tính điện tử, nếu bản đồ được thành lập bằng phần mềm đồ hoạ
Freehand, Coreldraw thì còn có khả năng nối với máy in ảnh để tạo ra các phim
tách màu (phục vụ cho giai đoạn chuẩn bị in).
6.6. Thiết kế biên tập và thành lập bản đồ địa lý chung
Theo phân loại bản đồ ta có 2 nhóm chính: Bản đồ địa lý chung và bản
đồ chuyên đề.
Bản đồ địa lý chung và atlas địa lý chung là một trong những dạng sản
phẩm quan trọng của bản đồ.
Trong bản đồ địa lý chung, các bản đồ có tỷ lệ  1:1.000.000 được gọi là
bản đồ địa hình. Việc thiết kế và thành lập bản đồ địa hình đã được quy định,
tiêu chuẩn hoá trong các quy phạm, chỉ dẫn biên tập của quốc gia và được xem
xét cụ thể trong môn học “Bản đồ địa lý chung”. Vì vậy, ở chương này chúng
ta chỉ xem xét một số đặc điểm trong thiết kế thành lập bản đồ địa lý chung.

- Thiết kế phương pháp, cách thể hiện nội dung bản đồ và trình bày bản đồ.
- Xác định công nghệ hoàn thành các công việc biên tập, thành lập chuẩn
bị in bản đồ.
191

Xác định vùng lãnh thổ bản đồ cần thể hiện xuất phát từ các nhiệm vụ
được đặt ra, nó liên quan đến xác định ranh giới, vị trí địa lý cũng như các yếu
tố của vùng lân cận. Tên gọi của lãnh thổ thể hiện đối tượng địa lý hay địa
phương, đơn vị lãnh thổ của bề mặt trái đất. Nó được xác định sao cho thể hiện
được đề tài của bản đồ địa lý chung. Trên các bản đồ địa lý chung cùng với số
liệu bản đồ (bản đồ địa hình) bao giờ cũng có tên gọi to, rõ ràng của đối tượng
chính của bản đồ có tên gọi theo ý nghĩa tự nhiên hay kinh tế xã hội.
Xác định mục đích của bản đồ là xác định bản đồ làm ra để giải quyết
nhiệm vụ gì? Đối tượng sử dụng bản đồ là ai?
Phụ thuộc vào điều này mà người ta sẽ quyết định dạng, loại bản đồ, bản
đồ tờ đơn hay trong sêri bản đồ, atlas bản đồ, chức năng của bản đồ trong số
các bản đồ của atlas.
Cũng từ mục đích của bản đồ mà người ta sẽ xác định các tư liệu bản đồ
cần thiết, cơ sở địa lý cho các loại bản đồ khác. Hiện nay đòi hỏi đối với bản đồ
địa lý chung là nâng cao tính thông tin (khả năng lưu trữ, truyền đạt, truy nhập
thông tin từ bản đồ).
Cụ thể hoá mục đích của bản đồ địa lý chung được thiết kế bao gồm: Các
loại bản đồ và đặc điểm sử dụng chúng.
Nói chung, về nguyên tắc, vấn đề thể hiện các thông tin địa hình, đảm
bảo độ chính xác hình học và sự tương ứng của hình ảnh bản đồ với đối tượng
thực tế là mục đích của bản đồ địa lý chung.
Đặc điểm chính của thiết kế cơ sở toán học cho bản đồ địa lý chung là
dựa vào mục đích bản đồ, hình dạng và kích thước vùng lãnh thổ, vị trí địa lý
của nó, yêu cầu và đòi hỏi về độ biến dạng (góc, diện tích, khoảng cách); yêu
cầu tối thiểu với đặc điểm sinh học của mắt để phân biệt hình ảnh.

- Soạn thảo ra các ký hiệu quy ước.
- Giải quyết trình bày bản đồ.
193

Khi thiết kế hệ thống ký hiệu và xác định dạng bản đồ địa lý chung theo
trình bày màu sắc phải giải quyết các vấn đề sau:
+ Soạn thảo các phương pháp tối ưu cho mỗi yếu tố cấu thành cấu trúc không
gian lãnh thổ (đường sá, điểm dân cư, thuỷ hệ, ), truyền đạt các thông tin đo được và
các thông tin khác về chúng từ góc độ trực quan và theo phân loại chúng.
+ Phối hợp các phương pháp thể hiện khác nhau và sử dụng chúng để
truyền đạt khái quát nhiều mặt nội dung bản đồ, truyền đạt mối liên hệ các đối
tượng tự nhiên và kinh tế xã hội.
+ Đảm bảo độ đọc của bản đồ, với từng yếu tố nội dung riêng lẻ, từng ký
hiệu và cả khi thể hiện tất cả, đồng thời, ở đây cần tính đến cả các ghi chú, chú
giải và đặc điểm phân bố chúng.
+ Đảm bảo tính thẩm mỹ trong trình bày, sử dụng màu tươi, sống động hài
hoà.
Trong các phương pháp truyền thống thể hiện hình ảnh bản đồ của các
yếu tố nội dung bản đồ địa lý (BĐĐL) chung, người ta thường dùng ảnh hàng
không, ảnh vệ tinh để thể hiện mô hình địa hình. Khi thành lập bản đồ cho
quảng đại quần chúng cố gắng thành lập hình ảnh sống động về cảnh quan
vùng, địa phương để tăng thêm sự hấp dẫn và chú ý của người sử dụng.
Thiết kế công nghệ hoàn thành các công việc thành lập BĐĐL chung liên
quan đến đặc điểm của nguồn tư liệu bản đồ, khả năng sử dụng thứ tự in với
vờn bóng địa hình, trình bày màu sắc.
6.6.2. Công tác chuẩn bị biên tập, đặc điểm tổ chức và phương pháp tiến hành
Các công việc của giai đoạn chuẩn bị biên tập BĐĐL chung và đặc điểm
của chúng gồm có:
- Tập hợp, thu thập, lưu trữ và xử lý các tư liệu bản đồ và các nguồn tư
liệu khác phục vụ cho sản xuất và hiệu chỉnh bản đồ.

các nguyên tắc tổng quát hoá, trình bày bản đồ và công nghệ thành lập. Khi tiến
hành thử nghiệm phải sử dụng các nguồn tư liệu, vật liệu mới, công nghệ hiện đại.
195

Ví dụ: Dùng nguồn tư liệu ảnh vệ tinh, dùng các phần mềm chuyên dụng để thể
hiện địa hình (mô hình DEM) thay cho đánh vờn bóng bằng tay.
Soạn thảo tài liệu biên tập của BĐĐL chung tuân thủ theo nguyên tắc
chung cho các bản đồ (xem mục 6.2 về thiết kế bản đồ) nhưng nó cũng có các
đặc điểm riêng phụ thuộc vào mức độ phức tạp của tác phẩm bản đồ (bản đồ 1
tờ, bản đồ nhiều tờ hay sêri bản đồ).
Đặc thù mục đích và nội dung của các tài liệu biên tập cơ bản cho các tác
phẩm bản đồ lớn là khi soạn thảo các tài liệu này đồng thời giải quyết nhiệm vụ
xác định các thông số và đặc điểm thành lập tác phẩm và cũng đặt ra các nguyên
tắc đảm bảo hình ảnh lãnh thổ được thống nhất trên các tờ bản đồ (bản đồ nhiều
tờ) hay trên mỗi bản đồ của sêri bản đồ. Công việc này được nhóm biên tập thực
hiện.
6.6.3. Các yếu tố nội dung bản đồ địa lý chung, đặc điểm thành lập và tổng
hợp chúng
Nội dung bản đồ địa lý chung được xác định phụ thuộc vào dạng bản đồ
và mục đích, tỷ lệ bản đồ. Khi thành lập cần tính đến đặc điểm hình ảnh bản đồ
(gồm các đối tượng riêng lẻ và nguyên tắc tổng quát hoá chúng).
Chúng ta sẽ xem xét những vấn đề chính khi thành lập từng đối tượng này:
1- Thuỷ hệ:
Gồm có: Đường bờ biển, đại dương với các đặc điểm liên quan đến thuỷ
triều, đến không gian của lục địa với biển, sông, kênh, hồ và các công trình có
liên quan.
Thể hiện đường bờ biển bằng cách giữ nguyên hay khuyếch đại các đặc
trưng đường bờ, kiểu bờ (vịnh, đảo, quần đảo, dạng bờ biển).
Sông được đặc trưng bằng chế độ nước (chảy thường xuyên, theo mùa,
thay đổi liên tục). Người ta chỉ ra các sông suối cạn, bãi đá, cát, bãi bồi, thác,

3- Mạng lưới đường giao thông:
197

Người ta sử dụng phân loại để đặc trưng cấu trúc mạng lưới đường sá theo
dạng đường, điều kiện giao thông vận tải, chỉ ra ý nghĩa đường sá (quốc lộ, tỉnh lộ, ).
Đường bộ thể hiện đường sắt và đường giao thông bộ. Trên bản đồ còn
thể hiện các tuyến đường thuỷ, đường biển, cảng biển, kênh đào biển,
Ở những vùng sâu, khó khăn thể hiện cả đường mòn, đường nội bộ.
Khi tổng quát hoá phải truyền đạt các đặc điểm phân bố đường sá, mật
độ đường, đặt thứ tự thể hiện đường và mối liên hệ của đường với các điểm dân
cư.
4- Địa hình:
Trên bản đồ địa lý chung sử dụng các phương pháp khác nhau biểu thị
địa hình. Phụ thuộc mục đích bản đồ và nhiệm vụ cụ thể cần thiết với đặc điểm
của địa hình bề mặt trái đất mà quyết định sử dụng phương pháp nào.
Khi biểu thị đặc điểm địa mạo, loại và hình dạng địa hình, loại cảnh
quan, diện tích phân bố địa hình thường áp dụng phương pháp thang tầng địa
hình. Bằng cách này có thể thể hiện hình dạng địa hình, biểu thị rõ ràng hướng
núi, đồng bằng, đồi gò và thác
Trên cơ sở giải quyết vấn đề lựa chọn thang cắt địa hình để người ta tiến
hành tô màu và khái quát hình dạng địa hình. Với mục đích truyền đạt các tính
chất điển hình, đặc điểm địa hình người ta dùng thang độ cao, độ sâu với các
đường bình độ chính, phụ.
Địa hình dưới nước biển biểu thị bằng các đường đẳng sâu với các tầng
màu và ghi chú độ sâu.
Soạn thảo thang màu nền theo thang tầng độ cao sao cho đảm bảo định
hướng chung về phân bố độ cao và thể hiện rõ các dạng cảnh quan quan trọng
(đồng bằng, trung du, vùng núi, núi đá, núi cao, ).
Khi khái quát dạng địa hình phải hợp lý về lôgic và địa lý:
+ Theo cấu trúc đường.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status