Đề tài: Xử lý nợ xấu trong hệ thống Ngân hàng Thương mại Việt Nam - Pdf 19

BÁO CÁO TỐT NGHIỆP
Đề tài
Xử lý nợ xấu trong hệ thống
Ngân hàng Thương mại Việt
Nam
1
MỤC LỤC
A. LỜI NÓI ĐẦU
Sau 20 năm đổi mới, chuyển từ cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế nước ta đã có những bước chuyển
đáng kể. Hiện nay nền kinh tế Việt Nam được đánh giá là có tốc độ tăng
trưởng cao, ổn định, có môi trường đầu tư an toàn trong khu vực và trên thế
giới. Đóng góp vào sự thành công đó phải kể đến là ngành Ngân hàng. Với sự
chỉ đạo của Ngân hàng Trung ương cũng như sự phát triển và hoạt động có
hiệu của các ngân hàng thương mại mà đã huy động được một lượng vốn lớn,
đáp ứng được nhu cầu phát triển của đất nước, cũng như cung cấp các dịch
vụ, tiện ích về Ngân hàng - Tài chính cho khách hàng góp phần đưa đất nước
phát triển theo hướng hiện đại, theo kịp với trình độ của thế giới.
Tuy nhiên do sự chuyển đổi cơ chế còn chậm, trình độ còn kém nên
ngành Ngân hàng cũng đã gặp nhiều khó khăn trong chính sách cũng như
quản lý và hoạt động, đặc biệt là vấn đề "nợ xấu" gây ảnh hưởng tới sự phát
triển của ngành, làm cho tình hình tài chính của các ngân hàng thương mại trở
2
nên yếu kém, khả năng cạnh tranh giảm sút. Nhất là hiện nay khi chúng ta trở
thành thành viên chính thức của WTO thì vấn đề này đã gây ra nhiều thách
thức trong việc cạnh tranh với nước ngoài, tăng rủi ro trong hoạt động ngân
hàng, giảm lòng tin khách hàng và tất nhiên ảnh hưởng lớn đến sự phát triển
của đất nước.
Với lí do trên, em xin đưa ra vài ý kiến về đề tà: "Xử lý nợ xấu trong
hệ thống Ngân hàng Thương mại Việt Nam". Hy vọng rằng nó sẽ giúp giải
thích phần nào nguyên nhân, thực trạng và giải pháp về vấn đề này.

4
- Nhóm 2 nợ cần chú ý bao gồm nợ quá hạn < 90 ngày và nợ có cấu lại
thời hạn nợ.
- Nhóm 3 nợ dưới tiêu chuẩn, bao gồm nợ quá hạn từ 90 -180 ngày
người nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn < 90 ngày.
- Nhóm 4: nợ nghi ngờ, bao gồm nợ quá hạn từ 180 - 360 ngày.
- Nhóm 5: nợ có khả năng mất vốn bao gồm nợ quá hạn > 360 ngày và
nợ cơ cấu thời hạn trả nợ > 180 ngày người nợ khoanh chờ chi phí xử lý.
* Phương pháp định tính
Nợ cũng được phân thành 5 nhóm tương ứng như phương pháp định
lượng, nhưng không nhất thiết căn cứ vào số ngày quá hạn chưa thanh toán nợ
mà căn cứ trên hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ và chính sách dự phòng
ruiro và tổ chức tín dụng được ngân hàng nhà nước chấp nhận.
- Nhóm 1: nợ đủ tiêu chuẩn, bao gồm nợ được đánh giá là có khả năng
thu hồi đầy đủ gốc và lãi đúng hạn.
- Nhóm 2: nợ cần chú, bao gồm nợ được đánh giá là có khả năng thu
hồi đầy đủ gốc và lãi nhưng có dấu hiệu khách hàng suy giảm khả năng trả
nợ.
- Nhóm 3 nợ dưới tiêu chuẩn, bao gồm nợ được đánh giá là không có
khả năng thu hồi gốc và lãi cho đến khi đến hạn.
- Nhóm 4: nợ nghi ngờ, bao gồm nợ được đánh là có khả năng tổn
thất cao
- Nhóm 5: nợ có khả năng mất vốn, bao gồm nợ được đánh giá là
không có khả năng thu hồi, mất vốn.
Trong đó nợ từ nhóm 3 -5 là nợ xấu với các khoản nợ xấu này là yếu tố
chủ yếu gây ra rủi ro tín dụng.
Có nhiều tiêu chí đánh giá rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại:
- Nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ.
- Tỷ lệ nợ xấu trên vốn chủ sở hữu
- Tỷ lệ nợ xấu trên quỹ dự phòng tổn thất

6
định. Vì nếu có sự thất thoát trong hoạt động tín dụng nào đó dù chỉ là 1 ngân
hàng và ở 1 mức độ nhất định nào đó cũng sẽ đe doạ tới sự tan toàn và ổn
định của toàn bộ hệ thống ngân hàng.
2.2. Xu thế hội nhập hiện nay cho thấy cần thiết phải nghiên cứu tỉ
mỉ và cẩn thận vấn đề này.
Thế giới hiện nay là thế giới của toàn cầu hoá và hội nhập hoá Việt
Nam cũng không nằm ngoài quy luật này 11/06 Việt Nam chính thức gia nhập
WTO - Tổ chức thương mại thế giới, đánh dấu bước ngoặt lớn của nền kinh tế
Việt Nam khi bước vào một sân chơi mới đồng thời đặt ra nhiều cơ hội
nhưng cũng đầu thách thức. Cải cách khu vực ngân hàng thương mại là một
trong những chủ trương cải cách khu vực Ngân hàng thương mại là một trong
những chủ trương cải cách hàng đầu mà Chính phủ luôn theo đuổi với mục
tiêu từng bước hội nhập quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng. Bởi vậy vấn đề nợ
xấu lớn trong các Ngân hàng thương mại là một thách thức trên con đường
hội nhập. Có xử lí được vấn đề này, năng lực đấu tranh của các Ngân hàng
thương mại mới được cải thiện. Sau năm 2010, các hạn chế, phân biệt giữa
ngân hàng trong và ngoài nước bị xoá bỏ, chấm dứt sự bảo hộ ở nhà nước, các
Ngân hàng thương mại sẽ thực sự đứng trước sự cạnh tranh khốc liệt. Do đó,
ngay từ bây giờ, giải quyết những tồn tại, hạn chế trong hệ thống Ngân hàng
thương mại là rất cần thiết, đặc biệt là vấn đề xử lý nợ xấu cần được quan
tâm, chú ý hơn.
3. Nội dung xử lí nợ xấu đối với Ngân hàng thương mại
Khi xử lí các khoản nợ xấu, Ngân hàng thương mại có 2 sự lựa chọn
tổng quan: khai thác hoặc thanh lí khai thác là một quá trình làm việc với
người vay cho đến khi khoán cho vay được trả một phần hay toàn bộ người
không dựa vào các công cụ pháp lí để ép buộc thu ngân thanh lí là ép người
vay tuân theo các điều khoản của hợp đồng cho vay, áp dụng và thực hiện tất
cả biện pháp pháp lí để đạt mục tiêu
7

lời khuyên trên nhiều chủ đề nhằm tác động đến khả năng tạo ra và thu lợi tức
của người vay, gia hạn hoặc điều chỉnh hợp đồng cho vay để giảm bớt quy mô
hoàn trả cấp phát thêm vốn nhằm tạo cho người vay có được vị thế tài chính
mạnh hơn ngân hàng nắm phần chủ động trong hoạt động kinh doanh nó, cho
đến khi bảo đảm rằng, khoản cho vay sẽ được hoàn trả.
Khi bất cứ khoản cho vay nào đến giai đoạn khó khăn, lập tức ngân
hàng áp dụng biện pháp để bảo đảm thế chấp và một thoả thuận bảo đảm trên
mọi tích sản khả dụng của người cho vay.
* Tổ chức thanh lý
Nếu ngân hàng thấy rõ là việc tổ chức khai thác không tiện lợi, sự
thanh lí dưới 1 trong vài hình thức có thể được coi là cách hay nhất để xử lí
một khoản cho vay đã trở thành nghi ngờ và nợ có khả năng mất vốn (thuộc
nhóm 4 và 5). Khi phương pháp này được lựa chọn, có nghĩa là ngân hàng đã
quyết định sau khi cần nhất tất cả mọi yếu tố kể trên người nhận thấy rằng khả
năng cải thiện tình hình tài chính của người vay là xa vời, việc gia hạn hợp
đồng cho vay hay cấp thêm vốn là mạo hiểm ngân hàng sẽ bớt được một tỷ lệ
% vốn cấp phát, biện pháp thanh lí là tối ưu nhất. Sự thanh lí thường được
nhanh chóng thực hiện trong những trường hợp tư tưởng không sẵn lòng chi
trả đã rõ, hành động lừa đảo hay không thật thà đã bộc lộ, tình trạng vỡ nợ đã
hiện ra, tình hình tài chính của người vay là vô vọng, hay không có ý muốn
trả nợ.
Có một số biện pháp thực hiện việc thanh lí
Nếu khoản cho vay được bảo đảm, có thể bán nó đi, thường thì nó
không đem lại mức giá thị trường hợp lí. Trong trường hợp khối lượng nhận
được từ việc bán vật thế chấp không đủ thanh toán nợ, ngân hàng có thể nhận
phán quyết của toà án về khoản chênh lệch phán quyết như thế cho phép ngân
hàng quyền thu thêm nếu người vay có các tích sản.
Nhân việc ngân hàng có thể thực hiện thanh lí với sự giúp đỡ của
chuyên gia tư vấn pháp luật của ngân hàng hay bộ phận liên quan đến những
9

nhưng hầu như bài toán hóc búa này chưa có lời giải cuối cùng và sự gia tăng
các món nợ xấu trong các ngân hàng vẫn đang tiếp diễn. Cho đến tháng
12/2006, thì nước ta đã hình thành một hệ thống ngân hàng rộng khắp cả nước
với NHTM nhà nước chiếm thị phần 80%, trong tổng vốn tự có chỉ trên 1 tỷ
USD, chưa đạt hệ số an toàn vốn tối thiểu (8%) khả năng tăng vốn và xử lý nợ
xấu yếu, 37 NHTM cổ phần, 5 ngân hàng liên doanh, 31 chi nhánh ngân hàng
nước ngoài, 46 văn phòng đại diện ngân hàng nước ngoài, 6 công ty tài
chính, 10 công ty cho thuê tài chính và hơn 900 quỹ tín dụng nhân dân.
Tính theo tiêu chuẩn trong nước thì tỷ lệ nợ xấu của các ngân hàng
thương mại qua các năm là: 13,7% năm 1999; 7,6 năm 2002; 5,8% năm 2003.
Tỷ lệ nợ quá hạn ở các ngân hàng trung ương Việt Nam cao gấp 4 lần vốn tự
có (vốn chủ sở hữu của ngân hàng).
Tính đến cuối tháng 6/2004, nợ vốn vay xây dựng cơ bản thuộc 5 ngân
hàng thương mại nhà nước đối với các đơn vị thi công là khoảng 24.500 tỷ
đồng, trong đó nợ quá hạn là 1344 tỷ đồng. Đối với ngân hàng công thương
Việt Nam, đến cuối nâm 2004, tỷ lệ nợ quá hạn trong tổng dư nợ cho vay là
4%. Tính theo tiêu chuẩn kế toán quốc tế IAS thì tỷ lệ nợ xấu thực tế của các
ngân hàng thương mại quốc doanh dao động ở mức 40%; tổng dư nợ gấp 8
lần tiêu chuẩn an toàn cho phép trong đó 58% là nợ quá hạn không có khả
năng thu hồi.
Theo báo cáo của Quốc hội, tổng số nợ vốn đầu tư xây dựng cơ bản có
liên quan đến nguồn ngân sách đến hết năm 2003 là 11.000 tỷ đồng; trong đó
khối Bộ, ngành Trung ương nợ 3500 tỷ đồng, khối tỉnh, thành phố nợ 7500 tỷ
đồng. Đáng chú ý có địa phương nợ lớn, số nợ gấp nhiều lần vốn đầu tư xây
dựng cơ bản trong kế hoạch. Một số tổng công ty lớn và nhiều công ty xây
dựng cơ sở hạ tầng đã và đang đối mặt với sự suy yếu nghiêm trọng về tài
chính. Tổng công ty công trình giao thông số 5 đã lâm vào tình trạng suy kiệt
tài chính trong năm 2003 với khoản nợ ngân hàng lên tới 2200 tỷ đồng, nhưng
11
bản thân công ty này cũng là chủ nợ của các khoản nợ khó đòi 1930 tỷ đồng

mới chỉ xác định theo tiêu chí định lượng thời gian quá hạn của khoản vay mà
chưa xác định theo tiêu chí định tính theo quy định của Quyết định 493. Các
yếu tố ảnh hưởng đến những báo cáo về các con số này là hệ thống phân loại,
khái niệm hiện dùng không nhất quán và tính so sánh giữa các thời điểm khác
nhau. Như vậy tỷ lệ hay các con số đưa ra liệu có đúng? Nếu tính theo tỷ lệ
dự tính ở IMF, nợ xấu cả nội và ngoại bang ở ngân hàng thương mại quốc
doanh khoảng 6,2 tỷ USD tức 13% GDP. Với một tốc độ tăng trưởng tín dụng
hàng năm khá cao (20%) và tỷ lệ tăng nợ xấu cao hơn tăng trưởng tín dụng
đây là tình trạng đáng báo động cần các biện pháp ngừa phòng khủng hoảng
tài chính.
Như vậy Việt Nam có thể hơi quá lạc quan với tình hình nợ xấu và
nguy cơ khủng hoảng tài chính vì nợ tồn đọng và nợ xấu thực tế có thể lớn
hơn nhiều so với báo cáo.
2. Nguyên nhân ở thực trạng trên
* Sự hoạt động kinh doanh không có hiệu quả ở các doanh nghiệp vay
vốn ngân hàng, có thể thấy qua bảng thể hiện tỷ lệ nợ quá hạn/tổng doanh
nghiệp sau:
Năm
Chỉ tiêu
1999 2000 2001 2002 2003
1. Tổng dư nợ (tỷ VNĐ)
toàn bộ nền kinh tế
139.180 184.936 225.704 286.614 365.300
2. Tỷ lệ nợ quá hạn/Tổng
DN
13,2% 10,75% 8,7% 8,15% 8,02%
* Về phía doanh nghiệp
- Nguyên nhân khách quan: Doanh nghiệp vay vốn gặp rủi ro trong
hoạt động kinh doanh của mình: thiên tai, hoả hoạn, chiến tranh,… do vậy
việc sử dụng vốn vay không đạt hiệu quả, có thể mất hoàn toàn vốn. Hoặc sự

Ngân hàng thương mại nhà nước Việt Nam do nhà nước sở hữu duy
nhất, nhà nước có quyền quyết định toàn bộ hoạt động kinh doanh tiền tệ tín
dụng của ngân hàng thương mại. Điều này tạo nên tính lưỡng tính trong ngân
hàng thương mại nhà nước tối đa hoá lợi ích trên vốn chủ sở hữu đối với ngân
hàng thương mại nhà nước không chỉ là tối đa hoá lợi nhuận ròng trên vốn
chủ.
Do hình thức sở hữu nên thời gian dài trước đây (từ năm 2000 trở về
trước), hình thành cách thức cho vay theo "chỉ thị": cho vay theo chỉ thị của
chính phủ, và cho vay theo chỉ thị ngầm của các cấp chính quyền. Nếu chính
phủ yêu cầu ngân hàng cho vay chính phủ sẽ chịu trách nhiệm chuyển nguồn,
hoặc bù lãi suất và trách nhiệm với nợ không thu hồi được.
Tại nhiều địa phương các cấp chính quyền, đoàn thể thường phối hợp
với ngân hàng trong việc thúc đẩy khách hàng trả nợ đúng hạn. Quan hệ này
được hình thành dựa trên cơ sở nhận thức đúng đắn các cấp chính quyền và
ngân hàng về kỉ luật tín dụng. Tuy nhiên có một số cấp chính quyền lại coi
ngân hàng như kênh tài trợ quan trọng khi ngân sách có khó khăn. Họ gây áp
lực cho ngân hàng bỏ qua kỉ luật tín dụng để tài trợ cho những dự án tài chính
yếu kém. Một số cán bộ ngân hàng thì lại lợi dụng điều này để chia chác kiếm
lợi, dù gì cũng là tiền của nhà nước.
Cũng do quan hệ như vậy mà việc cho vay của ngân hàng thương mại
nhà nước vẫn chưa theo nguyên tắc thị trường. Việc ngân hàng cho các doanh
nghiệp nhà nước vay nhưng với thực lực tài chính yếu kém thì vấn đề nợ xấu
xảy ra là điều không thể tránh khỏi.
Như vậy chừng nào mà vẫn còn rủi ro đạo đức trong quan hệ giữa
Chính phủ, các ngân hàng thương mại quốc doanh, các doanh nghiệp nhà
nước tức là vẫn còn kỳ vọng giữa người cho vay (ngân hàng) và người đi vay
(doanh nghiệp nhà nước) và sự cứu vớt của Chính phủ trong tương lai, do đó
ngân hàng thương mại quốc doanh vẫn tiếp tục ưu tiên cho các doanh nghiệp
15
nhà nước vay thì chừng đó vấn đề nợ xấu vẫn không được giải quyết triệt để

chính sách tiền tệ quốc gia trong quản lý giám sát hoạt động của các tổ chức
tài chính trung gian.
Thứ hai, thực hiện tái cơ cấu lại hệ thống ngân hàng thông qua đề án
được Chính phủ phê duyệt, phù hợp với các cam kết của các tổ chức tài chính
quốc tế nhằm tạo ra các ngân hàng có quy mô lớn, hoạt động an toàn, hiệu
quả và đủ sức cạnh tranh.
Về cơ cấu lại tổ chức: tách hoàn toàn hoạt động cho vay theo chính
sách ra khỏi hoạt động kinh doanh thương mại của các ngân hàng, thực hiện
tốt chức năng kinh doanh theo nguyên tắc thị trường.
Về cơ cấu lại tài chính: Tăng vốn điều lệ và xử lí dứt điểm nợ tồn đọng
ở các ngân hàng thương mại nhằm lành mạnh hoá tài chính, nâng cao khả
năng cạnh tranh, chống chịu rủi ro. Đối với ngân hàng thương mại nhà nước,
cần bổ sung vốn điều lệ nhằm đạt tối tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu 8%, xử lí hết
nợ tồn đọng, lành mạnh và minh bạch tài chính. Đối với ngân hàng thương
mại cổ phần tăng vốn điều lệ thonog qua sáp nhập và hợp nhất, phát hành bổ
sung cổ phiếu, đối với những ngân hàng thương mại cổ phần hoạt động quá
yếu kém, không thể tăng vốn điều lệ và không thể khắc phục được những yếu
kém về tài chính có thể thu hồi giấy phép hoạt động.
Từng ngân hàng thương mại phải xây dựng và thực hiện chiến lược
kinh doanh mới, nhất là chú trọng việc mở rộng quy mô hoạt động hiện đại
hoá công nghệ, hoạt động marketing, đa dạng hoá nâng cao tiện ích các sản
phẩm dịch vụ ngân hàng hiện đại dựa trên công nghệ kỹ thuật tiên tiến, cải
cách bộ máy quản lý, điều hành theo tư duy kinh doanh mới; xây dựng, chuẩn
hoá và văn hoá toàn bộ các quy trình nghiệp vụ các của hoạt động chủ yếu
của các ngân hàng thương mại, thực hiện cải cách hành chính doanh nghiệp;
xác định trách nhiệm rõ ràng, tuân thủ triệt để các quy trình văn bản đã được
xây dựng. Bên cạnh đó, cần giảm dần bảo hộ các ngân hàng thương mại trong
nước, đặc biệt về hoạt động tín dụng và cơ chế tái cấp vốn, tăng cường quyền
17
tự chủ và tự chịu trách nhiệm ở ngân hàng thương mại trong kinh doanh, giảm

đối tài sản của ngân hàng" trước hết cần hỗ trợ nguồn tài chính cho các ngân
hàng trích lập đủ dự phòng để có thể bù đắp những tổn thất có thể xảy ra khi
khách hàng thực hiện nghĩa vụ theo cam kết. Sau đó chuyển nhượng các
khoản nợ xấu cho các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân có đủ khả năng và
quyền lực xử lí nợ.
Đối với các khoản nợ xấu của doanh nghiệp nhà nước, ngân hàng
thương mại quốc doanh chuyển sang công ty mua bán nợ và tài sản tồn đọng.
Bộ Tài chính (DATC). Đối với các khoản nợ xấu ở các doanh nghiệp, tổ chức,
cá nhân khác, ngân hàng thương mại quốc doanh được phép bán nó cho các
DATC hoặc các doanh nghiệp, cá nhân có đủ năng lực tài chính kể cả tổ chức
cá nhân nước ngoài thông qua tổ chức đấu giá công khai.
Đối với các khoản nợ xấu chỉ định, hoặc các chương trình kế hoạch ở
nhà nước: mía đường, cà phê, đánh bắt xa bờ…. ngân hàng thương mại có thể
thoả thuận để bán nợ cho DATC, qũy hỗ trợ phát triển, ngân hàng chính sách,
hoặc doanh nghiệp cá nhân có chức năng mua bán nợ.
Đối với những khoản nợ xấu của doanh nghiệp mà ngân hàng không
chuyển giao cho công ty mua bán nợ và tổ chức, cá nhân khác, nhà nước cần
có cơ chế để ngân hàng có thể chủ động áp dụng các biện pháp cơ cấu lại tài
chính và hoạt động của doanh nghiệp.
Cần có các văn bản pháp luật hướng dẫn thi hành các quy định, tránh
sự chồng chéo.
Xây dựng cơ chế thị trường mua bán nợ trong thời gian tới Việt Nam
hướng tới mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao, đòi hỏi một lượng vốn lớn cần
huy động. Các khoản nợ sẽ tăng nhanh và thị trường mua bán nợ hình thành là
một tất yếu khách quan. Điều này đòi hỏi môi trường pháp lí cần hoàn thiện
theo hướng xây dựng hoàn chỉnh hệ thống văn bản quy phạm pháp luật điều
chỉnh các quan hệ trên thị trường mua bán nợ. Đồng thời cần tăng quyền cho
các tổ chức mua bán nợ.
19
Xuất phát từ nguyên nhân nợ xấu của ngân hàng thương mại nhà nước,

nhiều khó khăn, thách thức cần phải xử lí như vốn, trình độ công nghiệp, năng
lực đội ngũ cán bộ…. nhưng vấn đề nợ xấulà vấn đề cấp bách bên trong cần
xử lí khi gia nhập WTO. Hy vọng một số thực trạng trên đã cho thấy phần nào
về tình hình nợ xấu ở hệ thống ngân hàng thương mại và một số giải pháp
khắc phục. Và cần phải nhìn nhận lại nguyên nhân của nợ xấu khi mà tận gốc
của nó không giải quyết được triệt để thì tình trạng nợ xấu vẫn còn tồn tại và
luôn là tình trạng chung của nhiều vấn đề hiện nay ở Việt Nam. Mong rằng
khi hội nhập, chúng ta còn xem xét lại bản chất của vấn đề cần xem xét, để
nền kinh tế của chúng ta ngày càng tăng trưởng cao và bền vững.
21
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Kinh tế Việt Nam trên đường hội nhập
2. Cẩm nang quản lý tín dụng ngân hàng
3. Ngân hàng Thương mại
4. Tạp chí công nghệ ngân hàng, số 14, 24, (2006), 4 (2005)
5. Tạp chí ngân hàng số 11 (2006)
6. Trang web www.kiemtoan.com
www.taichinhviet.com
www.mof.gov.com
www.vnexpress.com
www.congnghemoi.com
22

23


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status