BÀI TIỂU LUẬN
Đề tài: “Khủng hoảng tài chính tiền tệ đối với
khu vực, thế giới và Việt Nam”
2LỜI NÓI ĐẦU Bên cạnh những nền kinh tế lớn, có tên tuổi như: Khối cộng đồng chung
Châu Âu (EEC), khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ (NAFTA), Nhật Bản Đông
Nam Á nổi lên với tư cách là một nền kinh tế mới đầy triển vọng. Trong vài thập
kỷ gần đây Đông Nam Á đã có những bước đi dài, đó thực sự là những thành tựu
đáng ghi nhận đối với những quốc gia đang phát triển này. Song sự phát triển
thần kỳ ấy không được bao lâu khi chứng kiến một sự thay đổi nguy hiểm của
những con rồng Châu Á, mà Thái Lan là nước đã châm ngòi đầu tiên và đã nổ ra
vào ngày 2/7/1997, làm thiệt hại cho châu lục hàng trăm tỷ USD.
Hơn thế, do tính chất toàn cầu hoá, khu vực hoá nền kinh tế các nước ngày
càng sâu sắc, nên cuộc khủng hoảng ấy đã vuợt ra khỏi phạm vi của một nước,
lan nhanh sang các nước khác và ảnh hưởng sâu rộng đến nền kinh tế thế giới.
Vậy đằng sau cuộc khủng hoảng đó là gì ?, ảnh hưởng của nó như thế nào
đến nền kinh tế khu vực và thế giới ?. Nhận thức được tầm quan trọng của vấn
đề, em đã tập hợp một số tài liệu tham khảo cùng với những kiến thức học ở
trường để viết nên một bài tham luận có tính chất tổng hợp về vấn đề này. Tuy
nhiên với vốn hiểu biết có hạn được đặt trong khuôn khổ giới hạn của khoa, em
chỉ xin trình bày ba phần chính:
chính và tiền tệ không hợp lí trong khi cố định tỷ giá và thâm hụt cán cân
thương mại trong một thời gian dài.
2. KHỦNG HOẢNG NGÂN HÀNG
Khủng hoảng ngân hàng có biểu hiện là nguồn vốn của ngân hàng bị
giảm, hiệu quả cho vay thấp, khả năng chi trả khó khăn, một số ngân hàng bị
đóng cửa, sát nhập hoặc giải thể v v, nó xảy ra do sự biến động của thị
trường dẫn đến biến động sản xuất kinh doanh và thị trường bất động sản mất
ổn định do mọi người đồng loạt rút tiền gửi từ ngân hàng, hoặc do bị khủng
hoảng tiền tệ tác động thông qua việc đồng nội tệ bị giảm giá trong khi dư nợ
của ngân hàng lại chủ yếu là nội tệ, hoặc bị khủng hoảng ngân hàng tác động
thông qua việc nhà nước phải phát hành thêm tiền để trợ giúp ngân hàng .
Sau khi tìm hiểu nguyên nhân của hai loại khủng hoảng ta dễ dàng nhận
ra điểm chung gây ra khủng hoảng là sự mất cân đối và bất ổn định trong nền
kinh tế với những sai lầm trong việc điều hành tỷ giá, thường là sự
méo mó trong khu vực tài chính, sự cứng nhắc về cơ cấu hay bắt đầu
từ sự mất lòng tin đối với một đồng tiền hay hệ thống ngân hàng, bởi khi hơn
4
thế giá trị danh nghĩa của một đồng tiền bị giảm mạnh (có thể coi đây là một
cuộc khủng hoảng tiền tệ) sẽ gây ra phản ứng rút tiền hàng loạt, mà đó lại là
dấu hiệu của một cuộc khủng hoảng ngân hàng. Lý do này cho thấy hai loại
khủng hoảng này có thể có cùng nguồn gốc, hoặc loại này nguyên nhân của
loại kia, vì thế không có gì là ngạc nhiên nếu hai loại diễn ra đồng thời.
PHẦN 2: TỔNG QUAN VỀ CUỘC KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH TIỀN
TỆ ĐÔNG NAM Á
I. THỰC TRẠNG VÀ NGUYÊN NHÂN
kỷ lục 84 Rupiah/1USD. Và cuối cùng là Singapore vốn được coi là mắt xích
quan trọng trong khu vực cũng phải tuyên bố không can thiệp vào thị trường
ngoại hối để tránh các thiệt hại nặng nề hơn có thể xảy ra.
Vòng xoáy của cơn lốc khủng hoảng không dừng lại ở khu vực Đông
Nam Á mà còn lan rộng sang một số nước đựơc coi là có nền kinh tế vững
vàng hơn. Trong đó thị trường tài chính tiền tệ Hàn Quốc đã trở thành nơi bị
ảnh hưởng lớn nhất của cuộc khủng hoảng tài chính Đông Nam Á. Đồng won
đã giảm xuống 976KRW/1USD, mặc dù Hàn Quốc kiên quyết không chịu phá
giá. Bên cạnh đó là Đài Loan cũng phải tuyên bố thả nổi tiền tệ, còn thị trường
tài chính tiền tệ Hồng Kông thì bị xáo trộn dẫn đến nhiều vụ khủng hoảng thị
trường chứng khoán trên toàn cầu.
2. NGUYÊN NHÂN
Cuộc khủng hoảng là sự hợp lưc của nhiều nguyên nhân, nhưng trên góc
độ tài chính thì có mấy nguyên nhân sau:
Một là duy trì tỷ giá ổn định quá lâu so với đồng USD. Việc duy trì này
của các nước có nền kinh tế kém phát triển hơn nền kinh tế Mĩ rất nhiều đã
khiến cho các nước này thay vì để đồng tiền của nước mình tăng giảm theo
đúng giá trị của nó lại phải tiêu tốn hàng chục tỷ USD để cố gắng duy trì mức
cân bằng giả tạo tới mức không thể kìm giữ nổi.
Hai là buông lỏng và bao che những yếu kém trong công tác điều phối và
kiểm tra giám sát hoạt động của ngân hàng và các tổ chức tài chính phi ngân
hàng. Trong khi các hoạt động kinh tế có tốc độ tự do hoá cao hơn thì công
tác giám sát hoạt động của các cơ sở kinh doanh và các tổ chức tài chính ngân
hàng vẫn dậm chân tại chỗ, thậm chí chính phủ đã can thiệp vào hệ thống tài chính thông qua ngân hàng quốc doanh hoặc chỉ thị cho những ngân hàng tư
nhân phải cấp tín dụng với lãi xuất thấp cho các công ty được chính
phủ ưu đãi . Khắp khu vực tràn lan tình trạng bao cấp và cắt giảm thuế cho
trường quốc tế Hầu như những lý do trên đây đều là những vấn đề tồn tại ở các nước bị khủng hoảng và do các mối quan hệ ràng buộc giữa Nhật
Bản, Hàn Quốc với các nước ASEAN, nên khi cuộc khủng hoảng
7
nổ ra ở một nước nó lập tức lan truyền sang các nước khác và gây ảnh hưởng
nặng nề cho các nước đó. Vì vậy, nước này không thể đổ lỗi hoàn toàn những
hậu quả của cuộc khủng hoảng là do nước kia.
PHẦN 3: TÁC ĐỘNG CỦA CUỘC KHỦNG HOẢNG TỚI KHU VỰC,
THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
I. TÁC ĐỘNG TIÊU CỰC
Hậu quả tiêu cực mà cuộc khủng hoảng gây ra là quá rõ ràng, toàn diện
và hết sức nặng nề đối với mỗi quốc gia bị khủng hoảng, cũng như khu vực và
thế giới.
Hậu quả dễ nhận thấy nhất và phổ biến nhất trong toàn khu vực tại các
trung tâm khủng hoảng là sự mất ổn định của đồng tiền và thị trường tiền tệ
trong mỗi nước, là sự giảm sút các nguồn vốn nước ngoài vào các nước Châu
Á (và ngược lại nó cũng gây ảnh hưởng cho những nước đầu tư vào nó), là sự
giảm sút cả đầu tư trong nước do lãi xuất cao và yếu tố lòng tin Tất cả
những yếu tố này đã làm giảm sút tốc độ tăng trưởng kinh tế của các nước này
và toàn khu vực nói riêng, toàn bộ thế giới nói chung đi đôi với gia tăng tình
trạng thất nghiệp và lạm phát cao; Cũng như làm tăng nợ nứơc ngoài bằng
ngoại tệ do sự mất giá của đồng bản tệ và do phải thu hút thêm các khoản tín
dụng quốc tế để vượt qua khủng hoảng.
Cuộc khủng hoảng còn đánh dấu sự kết thúc một thời kỳ tăng trưởng kinh tế
II. CÁC TÁC ĐỘNG TÍCH CỰC
Người Châu Á hay nói “Trong cái rủi có cái may” bởi cuộc khủng hoảng
trong khu vực không hoàn toàn chỉ gây tác động xấu cho các nước, khu vực
mà ở một chừng mực nào đó, nó là một điểm dừng để mở ra một thời kì phát
triển mới đầy triển vọng bởi những lý do sau đây:
Một là, việc chuyển sang chính sách tỷ giá linh hoạt giúp các chính phủ
giảm hàng chục tỷ USD để giữ giá bản tệ như thời gian trước, giúp tăng dự trữ
quốc gia và phát triển bền vững. Với đồng bản tệ rẻ, sẽ khuyến khích và tăng
khả năng cạnh tranh xuất khẩu, từ đó cải thiện thâm hụt và giúp cân đối tài
chính đất nước.
Hai là, những nước bị ảnh hưởng lớn như: Thái Lan, Inđônêxia, Hàn
Quốc, Philippine sẽ nhận được lượng tín dụng quốc tế chính thức với khối
lượng lớn để cải cách và phát triển kinh tế (tất nhiên có kèm theo những điều kiện ngặt nghèo và lãi suất khá cao). Cuộc khủng hoảng cũng giúp định hướng
lại và cải thiện cơ cấu đầu tư, đặc biệt là làm lành mạnh hoá hơn nữa
nền tài
9
chính quốc gia. Các khoản chi kém hiệu quả sẽ bị điều chỉnh, cắt giảm, nhất là
những doanh nghệp nhà nước thường được bao cấp trước đây; Các dự án tư
nhấn sẽ được khuyến khích, quá trình tư nhân hoá được thúc đẩy, giảm thiểu
khu vực nhà nước và sự độc quyền, thúc đẩy việc xuất hiện những sản phẩm
chủ lực có sức cạnh tranh xuất khẩu cao hơn có. Toàn bộ nền kinh tế định
hướng thị trường nhiều hơn, sâu sắc và hoàn thiện hơn.
Ba là, cuộc khủng hỏang cũng là dịp để chính phủ và nhân dân mỗi
mước thuộc khu vực cũng như các tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế xem lại
mình và sửa chữa những thiếu sót cả về chính sách thể chế lẫn yếu tố con
- Thị trường Việt Nam lại chưa phát triển đầy đủ để có thể bị cuốn vào vòng
xoáy khủng hoảng tiền tệ. Hơn thế, chế độ quản lý ngoại hối của Việt Nam
vẫn còn được kiểm soát rất chặt chẽ phù hợp với các biện pháp khuyến khích
đầu tư ở Việt Nam. Thị trường chứng khoán chưa hình thành .Các công cụ tài
chính chưa phát triển. Các cổ phiếu trái phiếu và các loại giấy tờ có giá trị
khác của Việt Nam chưa được phát hành trên thị trường quốc tế. Đầu tư chính
thức vào Việt Nam vẫn chưa được thừa nhận. Đầu tư trực tiếp của nước ngoài
vào Việt Nam thường vơí thời hạn dài chưa đến hạn trả. Trong các dự án sản
xuất, các nhà đầu tư nước ngoài không thể lập tức chuyển vốn ra nghĩa là ít có
khả năng tăng đột ngột nhu cầu ngoại tệ. Mặt khác việc quản lý nguồn ngoại
tệ ra, vào của Việt Nam tuơng đối chặt chẽ cũng tạo nên một lực cản đáng kể,
giảm áp lực của các nguồn ngoại tệ chảy ra nước ngoài hoặc những hoạt động
đầu cơ tích trữ này ở trong nước.
Mặc dù Việt Nam đã gia nhập ASEAN, nhưng các quan hệ kinh tế với
các nước trong khu vực chưa hoàn tòan chặt chẽ chưa chịu tác động dây truyền
như một số nước khác.
- Loại hàng hoá xuất khẩu quan trọng của Việt Nam là gạo cũng bị ảnh hưởng
do giá gạo của Thái Lan giảm từ 15 %- 20%. khả năng cạnh tranh của hàng
hoá Thái Lan và các nước mạnh hơn trên thị trường của Việt Nam. Đối với
các nước trong khu vực, sự mất giá đồng tiền của họ với USD đã làm cho giá
hàng hoá của họ rẻ đi, làm tăng tính cạnh tranh hàng hoá của các nước đó.Vì
vậy sự tràn lan hàng hoá của các nước ASEAN tràn vào Việt Nam là có thực
(kể cả qua con đường nhập lậu ). Ngược lại hàng hoá VIệt Nam giảm khả
năng cạnh tranh trên thị trường khu vực. Đồng Baht và các đồng tiền khác
trong khu vực bị phá giá, gây sức ép giảm gía hàng Việt Nam xuất khẩu sang
các nước đó. Do vậy nếu xuất khẩu hàng Việt nam sang các nước này sẽ khó
khăn hơn. Vì vậy nếu khả năng bảo hộ mậu dịch của nước ta giảm thì khả
năng cạnh tranh hàng của ta sẽ bị thử thách lớn.
Còn nếu các khoản nợ là bắt buộc thì phải quản ký chặt chẽ không để tồn tại
hiên tượng nợ lòng vòng
Nói tóm lại để phát triển kinh tế và tránh không rơi vào khủng hoảng cần
giả quyết rất nhiều vần đề còn tồn tại nêu trên và có các giải pháp
phòng ngừa
12
hữu hiệu và tìm ra được cơ hội để phát triển nhanh hơn.
Việt Nam đang có lợi thế tranh thủ tất cả những bài học rút ra trong khu
vực để điều chỉnh chính sách nhằm ngăn chặn khủng hoảng như : chương
trình 5 năm của thủ tướng Phan Văn Khải được thông báo tháng 10/1997, nghị
quyết 4 Trung ương Đảng tháng 12/1997, những cải tiến trong khi bảo lãnh
vay nợ của các doanh nghiệp và nguồn vốn đầu tư nước ngoài trực tiếp vào
Việt Nam.
Ngoài ra, tình trạng đầu tư có tính rủi ro cao hay quá mức cần thiết ở Việt
Nam sẽ giảm và cuối cùng sẽ có tác dụng thúc đẩy Việt Nam tiến hành cải
cách cụ thể hơn và góp phần tăng tính bền vững về phương diên tài chính của
các khoản đầu tư ở Việt Nam.
Hạn chế việc khập khẩu tràn lan. Tăng cường công tác chống buôn lậu. Có
chính sách nhập khẩu những mặt hàng thuiết yếu, tiết kiệm ngoại tệ và khuyến
khích tiêu dùng hàng nội địa.
Chính phủ cần chỉ đạo một cách chặt chẽ về việc xử lý vấn đề vốn, tài sản
thế chấp và nợ khó đòi do những nguyên nhân bất khả kháng nhằm giúp các
ngân hàng thương mại lành mạnh hoá về tài chính.
Nói tóm lại để phát triển kinh tế và tránh không rơi vào khủng hoảng cần giải
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. Việt Nam trước cuộc khủng hoảng tiền tệ khu vực –PTS . Nguyễn thị Luyến
2. Đông Á từ thần kỳ tới khủng hoảng những bài học có ích cho Việt Nam .
3. Tác động của cuộc khủng hoảng tơi thương mại và đầu tư của Việt Nam –
Phòng phân tích, Viện Tài Chính Việt Nam.