Tiểu luận KTCT: Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) potx - Pdf 19


Tiểu luận khoa học chính trị

Đề tài Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)

1LỜI MỞ ĐẦU

Thế giới đang đứng trước ngưỡng cửa của sự toàn cầu hoá, hứa hẹn nhiều
biến chuyển. Những ảnh hưởng ngày càng lan rộng của các công ty đa quốc gia
cùng với phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ đã thúc đẩy cả xã hội

hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được kết quả đó.
- Đầu tư nước ngoài:
Cho đến nay vấn đề đầu tư nước ngoài không còn là vấn đề mới mẻ đối với
các nước trên thế giới. Tuy nhiên các quốc gia vẫn không thống nhất được khái
niệm về đầu tư nước ngoài. Vì thế có thể nói đây là vấn đề khá phức tạp, không dễ
dàng gì có được sự thống nhất về mặt quan điểm khi mà mỗi quốc gia về cơ bản
đều theo đuổi những mục đích riêng của mình hoặc do ảnh hưởng của hoàn cảnh
kinh tế-xã hội của chính nó .
Tại Hội thảo của Đại hội Hiệp hội Pháp luật quốc tế Henxky 1966, người ta
đã đưa ra một khái niệm chung nhất về đầu tư trực tiếp nhằm phân biệt với các
khoản kinh tế khác nhận được từ bên ngoài: “Đầu tư nước ngoài là sự vận động tư
bản từ nước người đầu tư sang nước người sử dụng đầu tư với mục đích thành lập
ở đây một xí nghiệp sản xuất hay dịch vụ nào đó”.
Như vậy thì việc đầu tư vào một nước nhất thiết phải gắn liền với việc thành
lập một xí nghiệp hay một cơ sở sản xuất, dịch vụ tại nước đó .Điều này đã loại
trừ một số hình thức đầu tư khác mà không thành lập ra xí nghiệp hay cơ sở sản
xuất (như cho vay tiền của ngân hàng, tài trợ cho chương trình hay cho dự án…).
Đây là điểm hạn chế của khái niệm này so với yêu cầu hợp tác kinh tế trong thời
đại hiện nay.
Tại các nước tư bản phát triển, đầu tư nước ngoài là việc giao vật có giá trị
kinh tế sang nước khác nhằm thu đuợc lợi nhuận, bao gồm cả quyền cầm cố và
quyền thu hoa lợi, quyền tham gia các hội cổ phần, quyền đối với nhãn hiệu
thương phẩm và tên xí nghiệp. Như vậy, quan niệm về đầu tư nước ngoài ở đây
rất rộng rãi, chỉ là quá trình chuyển tiền vốn từ nước này sang nước khác với mục
đích thu lợi nhuận, theo nguyên tắc lợi nhuận thu được phải cao hơn lợi nhuận thu
được trong nước và cao hơn lãi suất gửi ngân hàng.
Để đưa ra một khái niệm hoàn hảo là một điều khó khăn nhưng ta hãy tạm
hiểu đầu tư nước ngoài một cách đơn giản .
Đầu tư nước ngoài là hình thức đầu tư vốn, tài sản ở nước ngoài để tiến hành
sản xuất, kinh doanh, dịch vụ với mục đích tìm kiếm lợi nhuận và những mục tiêu

dựng, mở rộng sản xuất, kinh doanh. Điều này đã loại trừ hình thức đầu tư gián
tiếp. Đối với các nước này, đầu tư trực tiếp đem lại cho họ nguồn vốn, kỹ thuật
hiện đại thay thế cho kỹ thuật lạc hậu hiện có, nâng cao mức sống và tăng thu
nhập quốc dân. Với đầu tư gián tiếp , họ cũng tiếp nhận được vốn .Nhưng một
phần vì không có những kế hoạch sử dụng vốn có hiệu quả , bên cạnh đó là khả
năng quản lí kém và trình độ sản xuất kinh doanh lạc hậu. Nên khả năng thành
công, và thu được lợi nhuận từ nguồn vốn này không cao. Do đó ,việc tăng cường
thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là phù hợp với hoàn cảnh và điều
kiện của các nước đang phát triển. Chính sách này đã và đang là hình thức phổ
biến trong chính sách “mở cửa nền kinh tế” của nhiều nước, trong đó có Việt
Nam.
Trong pháp luật Việt Nam
Theo Điều lệ đầu tư năm 1977, ban hành kèm theo Nghị định 115/CP ngày
18/04/1977 thì khái niệm đầu tư nước ngoài ở Việt Nam được hiểu là “việc đưa
cở sở mới hoặc đổi mới trang thiết bị kỹ thuật, mở rộng các cơ sở hiện có:
* Các loại thiết bị, máy móc, dụng cụ.
* Các quyền sở hữu công nghiệp, bằng sáng chế, phát minh phương pháp
cộng nghệ, bí quyết kỹ thuật
* Vốn bằng ngoại tệ hoặc vật tư có giá trị ngoại tệ.
* Vốn bằng ngoại tệ để chi trả lương cho nhân viên và công nhân làm việc
tại các cơ sở hoặc tiến hành những dịch vụ theo quy định ở những điều của Điều
lệ này (Điều 2 Điều lệ đầu tư 1977).
Như vậy, theo Điều lệ này thì sự vận động của vốn và tài sản chỉ được coi là
đầu tư nước ngoài ở Việt Nam nếu có đủ hai điều kiện sau:
4

+ Đưa vào sử dụng ở Việt Nam những tài sản và vốn được quy định tại điều
2 của Điều lệ.
+ Nhằm mục đích xây dựng cơ sở mới hoặc đổi mới trang bị kỹ thuật, các cơ
sở hiện có.

doanh . Các bên tham gia điều hành doanh nghiệp , chia lợi nhuận và chịu rủi ro
theo tỉ lệ góp vốn của mỗi bên vào vốn điều lệ. Phần góp vốn của bên nước ngoài
không được ít hơn 30% vốn pháp định .
Hình thức hợp đồng, hợp tác kinh doanh: đây là một văn bản được kí kết
giữa một chủ đầu tư nước ngoài và một chủ đầu tư trong nước để tiến hành một
hay nhiều hoạt động kinh doanh ở nước chủ nhà trên cở sở quy định về trách
nhiệm để thực hiện hợp đồng và xác định quyền lợi của mỗi bên , nhưng không
hình thành một pháp nhân mới .
Các hình thức khác : ngoài các hình thức kể trên ở các nước và ở Việt Nam
còn có các hình thức khác như : hợp đồng xây dựng –kinh doanh –chuyển giao
5

(BOT), hợp đồng xây dựng –chuyển giao –kinh doanh ( BTO), hợp đồng xây
dựng –chuyển giao (BT) nhằm khuyến khích thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài .
1.3. Vị trí và ý nghĩa của đầu tư trực tiếp nước ngoài
a, Vị trí
- Đầu tư nước ngoài có một vị trí vô cùng quan trọng . Nó thúc đẩynền kinh
tế phát triển nhanh và toàn diện hơn .
- Đầu tư nước ngoài làm tăng khả năng về vốn, kinh nghiệm quản lý cho
nước nhận đầu tư.
- Là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu để đưa nước nhận đầu rút
ngắn khoảng cách tụt hậu so với các nước trong khu vực và thế giới
Đối với các nước đang phát triển, đầu tư nước ngoài là một yếu tố cần thiết
và quan trọng để có thể đưa nền kinh tế bắt kịp với thế giới .
b, Ý nghĩa
Đầu tư trực tiếp nước ngoài có rất nhiều ý nghĩa quan trọng đối với nền kinh
tế của một nước.
- Tạo thu nhập cho nước nhận đầu tư.
- Tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho các doanh nghiệp và tạo ra công
ăn việc làm cho người lao động .

621.8

6106

43209.8 43831.6 1.419
1

1989 1

0.6

67

525.5 526.1 0.114
2

1991 3

0.0

107

735.0 735.0 0.000
3

1992 3

4.0

152


1999 2

1.9

285

5099.0 5100.9 0.037
8

2000 10

12.3

327

2565.4 2577.7 0.477
9

2001 15

6.9

391

2838.9 2845.8 0.242
10

2002 13



811

4547.6 4559.2 0.254
14

2006 37

368.5

970

6839.8 7208.3 5.112

(Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư)
Qua bảng số liệu về tỡnh hỡnh đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Việt Nam
trong những năm qua, chúng ta thấy hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài ngày
càng có xu hướng gia tăng cả về số dự án đầu tư và qui mô vốn đầu tư. Năm 2006
số dự án đầu tư ra nước ngoài nhiều nhất trong những nămqua là 37 dự án, và
cũng chiếm nhiều số vốn đăng ký nhất là 368.5 triệu USD, tiếp đến là năm 2004,
có 26 dự án được cấp giấy phép đầu tư ở nước ngoài, với số vốn là 28.2 triệu
USD, năm 2005 với 17 dự án, với số vốn đầu tư đăng kí là 11.6 triệu USD . Như
vậy, trong mấy năm gần đây tỡnh hỡnh đầu tư ra nước ngoài ngày càng gia tăng
cả về số lượng dự án lẫn qui mô vốn đầu tư cho dự án. Bên cạnh đó, Việt Nam
cũng ngày càng thu hút được nhiều vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, số dự án đầu
tư và số vốn đầu tư FDI gia tăng theo từng năm Cụ thể là năm1989 mới chỉ có 67
dự án FDI vào Việt Nam với số vốn là 525.5 triệu USD, nhưng đến năm sau (
năm 1990) Việt Nam đó thu hỳt được 107 dự án với số vốn đầu tư là 735 triệu
USD, và đến năm 2000 số dự án FDI vào Việt Nam là 327 dự án vói số vốn đăng
ký là 2565.4 triệu USD. Như vậy sau 10 năm, số dự án FDI vào Việt Nam đó tăng

8

Đơn vị: Triệu USD
Stt Ngành
Số DA
ĐTRNN
Số DA

FDI
VĐT
RNN
VĐT FDI
Tổng
VĐT
VĐTRNN/
TVĐT(%)
TỔNG SỐ 154 7279 621.8 66244.4 66866.2 0.9
1 Nụng nghiệp và lõm nghiệp 6 489 60.3 3202.7 3263.0 1.8
2 Thủy sản 3 149 8.2 481.9 490.1 1.7
3 Cụng nghiệp khai thỏc mỏ 12 95 168.9 3336.2 3505.1 4.8
4 Cụng nghiệp chế biến 57 4699 68.0 33191.8 33259.8 0.2
5
Sản xuất và phân phối điện,
khí đốt và nước
1 23 273.1 1928.1 2201.2 12.4
6 Xõy dựng 4 141 7.1 5173.3 5180.4 0.1
7
Thương nghiệp; Sửa chữa xe có
động cơ, mô tô, xe máy, đồ dùng cá
nhân và gia đỡnh

1 273.1 43.9209
6 Xõy dựng 4 7.1 1.1418
7
Thương nghiệp; Sửa chữa xe có động cơ,
mô tô, xe máy, đồ dùng cá nhân và gia
đỡnh
19 8.7 1.3992
8 Khỏch sạn và nhà hàng 7 2.6 0.4181
9 Vận tải; kho bói và thụng tin liờn lạc 10 3.4 0.5468
10
Các hoạt động liên quan đến kinh doanh tài
sản và dịch vụ tư vấn
34 21.3 3.4255
11 Hoạt động khác 1 0.2 0.0322

Như vậy, lĩnh vực các doanh nghiệp Vịêt Nam đầu tư trực tiếp ra nước
ngoài nhiều nhất là công nghiệp chế biến với 57 dự án, tiếp đến là các hoạt động
liên quan đến kinh doanh tài sản và dịch vụ tư vấn với 34 dự án, thương nghiệp,
sửa chữa xe có động cơ, môtô, xe máy, đồ dùng cá nhân và gia đỡnh với 19 dự
ỏn. Cỏc doanh nghiệp Vịờt Nam đầu tư chủ yếu trong lĩnh vực công nghiệp và
xây dựng như: thăm dũ khai thỏc dầu khớ, sản xuất chế biến hàng gia dụng, vật
9

liệu xây dựng, khai thác mỏ. Trong đó đáng lưu ý là cỏc dự ỏn sản xuất và phõn
phối điện, khí đốt và nước, chỉ với 1 dự án đó chiếm tới 273.1 triệu USD số vốn
đầu tư đăng kí, chiếm 1 tỷ trọng rất lớn 43.9209% trong tổng số vốn đầu tư ra
nước ngoài. Ngoài ra công nghiệp khai thác mỏ chỉ với 12 dự án cũng đó chiếm
tới 168.9 triệu USD số vốn đầu tư đăng ký, chiếm tỷ trọng khá lớn 27.1631% tổng
số vốn đầu tư ra nước ngoài. Cũn vốn đầu tư đăng kí của các dự án thuộc ngành
công nghiệp chế biến chỉ đạt 68 triệu USD, chỉ chiếm 1 tỷ trọng khá khiêm tốn

ĐTR
Số VĐT

RNN
Số DA FDI của
từng nước vào VN

VĐT FDI

Tổng số
VĐT
Tỷ trọng
VĐTRNN
/TVĐT

TỔNG SỐ 154

621.8

4072.0 93757.4 94379.2

0.659
1 Cam-pu-chia 9 15.1 4 4.0 19.1 79.06
2 Cộng hũa Sộc 2 1.1 8 43.9 45.0 2.44
3 CHLB Đức 4 4.8 88 488.4 493.2 0.97
4 Hàn Quốc 2 1.1 1185 65145.4 65146.5 0.00
5
Đặc khu h
ành chính
Hồng Cụng (TQ)

Tỷ trọng VĐTRNN từng nước(%)TỔNG SỐ 154 621.8

1 Cam-pu-chia 9 15.1 2.428
2 Cộng hũa Sộc 2 1.1 0.177
3 CHLB Đức 4 4.8 0.772
4 Hàn Quốc 2 1.1 0.177
5
Đặc khu hành chính
Hồng Cụng (TQ)
4 1.5
0.241
6 Hoa Kỳ 16 7.4 1.190
7 In-đô-nê-xi-a 2 9.4 1.512
8 I-rắc 1 100 16.082
9 Lào 50 367 59.022
10 Liờn bang Nga 13 38.3 6.160
11 Ma-lai-xi-a 3 17.7 2.847
12 Nhật Bản 5 2.1 0.338
13 Trung Quốc 1 1.9 0.306
14 U-crai-na 5 4.3 0.692
15 Sin-ga-pore 12 4.6 0.740

Trong số những nước và vùng lónh thổ nhận vốn đầu tư tới ngày
06/04/2006 thỡ Lào là thị trường thu hút được nhiều doanh nghiệp Việt Nam nhất
với 50 dự án, tiếp đến là Hoa Kỳ với 16 dự án, Liên bang Nga 13 dự án,
Singapore 12 dự án, Campuchia với 9 dự án. Tuy nhiên nếu tính về tổng vốn đầu
tư thỡ Lào cũng lại đứng đầu với 367 triệu USD, sau đó là Irac với 100 triệu

trường Nga với tổng số vốn đầu tư đăng kí đạt tới 38.3 triệu USD. Đối với doanh
nghiệp Vịêt Nam, đầu tư ra nước ngoài là một hướng đi mới, tuy có không ít rủi
ro nhưng sẽ giúp doanh nghiệp mở rộng thị trường, củng cố thúc đẩy hoạt động
kinh doanh và nâng cao vị thế của doanh nghiệp tại nước sở tại, nhất là với những
thị trường mà việc thanh toán cũn gặp nhiều khú khăn như thị trường Nga. Hơn
nữa khi đầu tư vào Nga các doanh nghiệp Vịêt Nam cũn cú thờm lợi thế là cộng
đồng người Việt tập trung sinh sống, học tập làm việc tại Nga khá đông. Hiện nay
cơ chế thành lập công ty ở Nga khá dễ dàng và đó cú hơn 300 công ty của người
Việt Nam được thành lập và làm ăn theo qui định của luật pháp Nga. Việc đầu tư
vào thị truờng Lào và Nga cho thấy một hướng đi đúng đắn của các doanh nghiệp
Vịêt Nam.
Mặc dầu vốn đầu tư đăng ký của cỏc doanh nghiệp Vịờt Nam vào thị
trường Hoa Kỳ chỉ đạt 7.4 triệu USD, chiếm xấp xỉ 1.19% tổng vốn đầu tư trực
tiếp ra nước ngoài của Vịêt Nam nhưng nếu xét về số lượng dự án thỡ Hoa Kỳ lại
chiếm vị trớ thứ 2 với 16 dự ỏn. Kết quả này cho thấy Vịờt Nam khụng chỉ nhận
vốn từ những nước có nền kinh tế phát triển mà hoàn toàn có khả năng đầu tư vào
những thị trường các nước phát triển với mục tiêu tỡm kiếm lợi nhuận, và sử dụng
đồng vốn bỏ ra của mỡnh một cỏch cú hiệu quả nhất. Thực tế hiện nay, ngoài Hoa
Kỳ, cỏc doanh nghiệp Vịờt Nam cũn đầu tư vào nhiều nước phát triển khác
như:Nhật Bản, Anh, Pháp, Đức, Úc, Singapore…
* Những kết quả đạt được
- Hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài đó giỳp cho Vịờt Nam sử dụng,
quản lý tốt hơn các nguồn lực trong nước.
Khi các nguồn lực trong nước cũn hạn chế thỡ việc sử dụng tiết kiệm và có
hiệu quả các nguồn lực là một tất yếu đối với chính phủ và các doanh nghiệp
12
trong việc quản lý vĩ mụ nền kinh tế. Vỡ vậy khi cỏc doanh nghiệp Vịờt Nam đầu
tư ra nước ngoài thỡ với mục tiờu là khai thỏc một cỏch cú hiệu quả cỏc nguồn
lực của nước ngoài thỡ nhờ đó mà các nguồn lực trong nước được quản lý một
cỏch cú hiệu quả hơn.

Ngoài ra việc đầu tư trực tiếp ra nước ngoài cũn giỳp cho cỏc doanh nghiệp
kộo dài được đời sống của sản phẩm. Khi 1 sản phẩm đó trở nờn bóo hoà trong
nước, và chịu sự cạnh tranh gay gắt của cỏc sản phẩm mới cú tớnh thay thế, thỡ
giải phỏp đầu tư ra nước ngoài trở nên tối ưu, và sẽ kéo dài được chu kỳ sống của
sản phẩm.
- Giúp mở rộng giao lưu KT-XH, học hỏi đựợc những kinh nghiệm của các
nước phát triển
Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài giúp cho các doanh nghiệp Vịêt Nam tiếp
cận với cơ chế về quản lý tài chớnh, quản lý nhõn sự, quản lý thiết bị khoa học
đồng thời có công nghệ sản xuất hiện đại, do đó khi đầu tư vào những nước này
thỡ Vịờt Nam sẽ cú cơ hội để học hỏi kinh nghiệm, tiếp cận với khoa học tiên tiến
13
trên thế giới, từ đó có thể áp dụng vào sản xuất và làm nâng cao hiệu quả sản xuất
kinh doanh.
Ngoài ra hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài không chỉ có tác dụng
thúc đẩy kinh tế phát triển mà cũn cú tỏc động tích cực về mặt xó hội. Đó là làm
cho dân trí phát triển, có điều kiện tiếp thu và vận dụng những tinh hoa văn hoá
của nhân loại, nền văn minh thế giới, giúp bạn bè thế giới hiểu thêm về con người
Vịêt Nam với nhiều những phẩm chất tốt đẹp như: cần cù, chịu khó , mặt khác
cũn giỳp Vịờt Nam mở rộng mối quan hệ giao lưu kinh tế xó hội với bạn bố thế
giới, cựng với bạn bố thế giới xõy dựng 1 xó hội văn minh, hiện đại , hoà bỡnh.
* Những hạn chế gặp phải :
- Hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài chưa thu được kết quả kinh
doanh cao. Hầu hết các dự án đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam đều là những dự
án mới được thực hiện, chưa bước vào giai đoạn sản xuất kinh doanh nên kết quả
kinh doanh hầu như chưa có, hoặc nếu có cũng đang cũn ở trong giai đoạn đầu
nên gặp rất nhiều khó khăn về thị trường và công suất khai thác dự án chưa cao
nên đang cũn trong tỡnh trạng thua lỗ.
- Tỷ lệ VĐT thực hiện trên tổng số vốn đăng ký rất thấp. Tính đến hết tháng
8 năm 2006 tỷ lệ này vẫn chưa đạt được 10% trong khi đó các dự án đầu tư trực

nhiều đến lĩnh vực này, nếu có thỡ chỉ chỉ ở mức độ dè chừng, bởi vỡ ai cũng lo
sợ những rủi ro tiềm ẩn trong lĩnh vực cũn quỏ mới mẻ này đối với họ. Hơn nữa
do tư duy nhận thức của một bộ phận cán bộ có trách nhiệm và các nhà đầu tư là
cho rằng Vịêt Nam là một nước đang thiếu vốn nên cần đẩy mạnh thu hút vốn đầu
tư nước ngoài do đó mà không có khả năng và không cần thiết để thực hiện đầu
tư ra nước ngoài. Bên cạnh đó lĩnh vực này cũn quỏ mới mẻ, trờn thực tế nếu chỉ
xuất hiện cũng rất ớt cho nờn chưa được các bộ ngành quan tâm xem xét điều
chỉnh và tạo điều kiện. Do đó nên các doanh nghiệp càng khó khăn hơn trong việc
tiếp cận lĩnh vực mới mẻ này.
- Chưa có sự hỗ trợ có hiệu quả từ phía nhà nước nhằm khuyến khích các
doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài, các cơ chế chính sách cũn thiếu, nhiều bất
cập.
Trong quỏ trỡnh chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế
thị trường định hướng XHCN, nhỡn chung thực trạng cơ chế chính sách của
chúng ta cũn nhiều điều bất cập, chưa đồng bộ, điều đó ảnh hưởng rất lớn tới hoát
động đầu tư của các doanh nghiệp trong và ngoài nước. Bên cạnh đó các văn bản
pháp luật liên quan tới hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài cũn nhiều hạn
chế, cỏc cấp cỏc ngành chưa có những chủ trương, biện pháp có hiệu quả nhằm
khắc phục những khó khăn, không thay thế, sửa đổi, bổ sung kịp thời làm chậm
trễ tiến độ thực hiện các hoạt động đầu tư. Mặt khác chưa đề ra được những biện
pháp có tính khả thi, kịp thời, có tác động mạnh mẽ nhằm khai thác một cách có
hiệu quả hơn nữa các nguồn lực dồi dào, việc đổi mới cơ chế, chính sách cũn
chậm chạp, chưa đầy đủ, chưa thay đổi kịp thời, chưa đi sâu, bám sát hoạt động
đầu tư ra nước ngoài do đó không phát huy được tính hiệu quả.như: nghị định số
22 của chính phủ về đầu tư ra nước ngoài vẫn cũn một số vấn đề chưa được quy
định như quy trỡnh cấp giấy phộp đầu tư ra nước ngoài, quản lý ngoại hối, tuyển
dụng lao động…hoặc mở văn phũng dự ỏn tại nước thứ 3 để điều hành dự án hay
mở chi nhánh sản xuất và thành lập doanh nghiệp ở nước ngoài chưa được quy
định.
- Năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Vịêt Nam cũn hạn chế trờn tất

đầu tư. Tuy nhiên, trong những năm gàn đây, cùng với sự lớn mạnh của các doanh
nghiệp trong nước, cũng như sự hỗ trợ ngày càng có hiệu quả hơn từ phía Nhà
nước, Việt Nam đó đưa vốn, tài sản ra nước ngoài để đầu tư thực hiện sản xuất
kinh doanh. Là một nước mới tham gia vào hoạt động đầu tư quốc tế, bước đầu
các doanh nghiệp Việt Nam vẫn chưa thu được nhiều kết quả cao, tuy nhiên vẫn
có một số doanh nghiệp đó làm ăn có hiệu quả và được đánh giá là thành công
trong hoạt động đầu tư ở nước ngoài.
Vỡ vậy, trong những năm tới, hứa hẹn các doanh nghiệp Việt Nam sẽ đẩy
mạnh hoạt động đầu tư ra nước ngoài nhằm tỡm kiếm lợi nhuận cao và mở rộng
thị phần tiờu thụ sản phẩm. Đó là một xu thế tất yếu trong điều kiện hội nhập kinh
tế như hiện nay, không chỉ riêng Việt Nam mà cả những nước trên thế giới.
2. Giải phỏp
- Thay đổi tư duy về hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài
Nhà nước cần phải coi hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là một hoat
động kinh tế đối ngoại quan trọng không kém gỡ hoạt động thu hút đầu tư trực
tiếp từ nước ngoài , vỡ cả lý thuyết và thực tiễn đều chứng minh rằng 1 nước có
dũng đầu tư trực tiếp ra nước ngoài càng mạnh thỡ càng cú nhiều khả năng và cơ
hội để mở rộng thị trường và tăng thêm các cơ hội kinh doanh, tạo ra lực hút đối
với các nhà đầu tư nước ngoài. Vịêt Nam có những mặt hàng và làng nghề truyền
thống hoàn toàn có thể đáp ứng được những khoảng trống hoặc những thị trường
ngách ở khắp nơi trên thế giới.Trước bối cảnh Vịêt Nam hội nhập ngày càng sâu
vào nền kinh tế thế giới và khu vực và những tác động tích cực của hoạt động đầu
tư trực tiếp ra nước ngoài mang lại trong thời gian qua thiết nghĩ cần nhanh chóng
thay đổi từ khống chế và cho phép sang khuyến khích các doanh nghiệp Vịêt Nam
đầu tư ra nước ngoài.
- Cần khẩn trương hoàn thiện hệ thống cơ chế chính sách theo hướng tăng
cường khuyến khích các doanh nghiệp Vịêt Nam đầu tư trực tiếp ra nước ngoài .
Chính phủ cần nhanh chóng ban hành nghị định và các thông tư mới hướng
dẫn luật đầu tư mới. Nghị định 22/2000 của chính phủ đó bộc lộ nhiều hạn chế và
16

các doanh nghiệp trước những rủi ro về chính trị hoặc các rủi ro khác mà các công
ty bảo hiểm thông thường không thể cung cấp dịch vụ đó được.
+ Về mặt cơ chế chính sách cần tăng cường các hoạt động xúc tiến đầu tư
trên tầm vĩ mô trước hết là ở các lĩnh vực mà Vịêt Nam có lợi thế so sánh.Tăng
cường cung cấp các dịch vụ hỗ trợ cho các doanh nghiệp có nguyện vọng đầu tư
trực tiếp ra nước ngoài, như tổ chức các cuộc gặp gỡ, tiếp xúc giữa Chính phủ với
các doanh nghiệp có dự án đầu tư trực tiếp ở nước ngoài, với Chính phủ tại nước
sở tại để giải quyết các bất cập trong quá trỡnh đầu tư ra nước ngoài, hoặc là cung
cấp các thông tin cần thiết như quan hệ cung cầu hàng hoá, triển vọng phát triển
của thị trường nước ngoài, môi trường đầu tư của nước sở tại, thông tin về đối tác
đầu tư và các cơ hội đầu tư mới. Tổ chức các hội chợ triển lóm quảng cỏo, tham
quan thị trường, làm trung gian cho các cuộc tiếp xúc giữa các doanh nghiệp Vịêt
Nam với các đối tác tiềm năng. Phát triển các dịch vụ tài chớnh, ngõn hàng, bảo
hiểm, bảo lónh tớn dụng, dịch vụ hỗ trợ tư pháp và hướng dẫn các thủ tục đăng ký
đầu tư ở từng thị trường nước ngoài. Chính phủ giao cho các đại sứ quán, lónh sự
17
quỏn và phũng thương vụ Vịêt Nam ở nước ngoài hỗ trợ, giúp đỡ các doanh
nghiệp Vịêt Nam đang tiến hành đầu tư trưc tiếp ở nước ngoài. Xem đó là một
nhiệm vụ bắt buộc đối với các cơ quan này.
Tăng cường các hoạt động hỗ trợ và tư vấn cho các doanh nghiệp thực hiện
đầu tư trực tiếp ra nước ngoài.
Thành lập Hiệp hội đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam để
bảo vệ quyền lợi và giúp đỡ các doanh nghiệp Việt Nam giải quyết các vướng
mắc. Thành lập quỹ hỗ trợ đầu tư ra nước ngoài của Việt nam nhằm tài trợ tài
chính cho các dự án đầu tư trực tiếp ra nước ngoài đảm bảo lợi ích và bảo vệ các
doanh nghiệp trước những rủi ro về chính trị hoặc các rủi ro khác mà các công ty
bảo hiểm thông thường không thể cung cấp các dịch vụ đó được.
-Tăng cường mở rộng hợp tác quốc tế, đặc biệt là trong lĩnh vực đầu tư trực
tiếp nước ngoài
Theo đó,Vịêt Nam cần đàm phán, ký kết các hiệp định đầu tư đa biên nhằm

cũng như cho nước tiếp nhận đầu tư . không chỉ cũn là đặc quyền của những nước
có nền kinh tế phát triển, có tiềm lực tài chính mạnh, có khoa học kỹ thuật tiên
tiến hiện đại, trỡnh độ quản lý cao, mà đó cú sự tham gia của cỏc nước đang phát
triển với tư cách là nước đầu tư. Và Vịêt Nam không nằm ngoài xu thế chung đó
khi các doanh nghiệp Vịêt Nam đó và đang xúc tiến các hoạt động đầu tư trực
tiếp ra nước ngoài.
Qua hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các doanh nghiệp Vịêt
Nam vừa qua, những doanh nghiệp đó đi đầu, đón đầu thử thách ít nhiều đó gặt
hỏi được thành công. Bên cạnh đó cũng phải đối mặt với rất nhiều những khó
khăn, thử thách do hạn chế về vốn, hạn chế về kinh nghiệm sản xuất kinh doanh ở
nước ngoài, hạn chế về những hiểu biết về quy chế chính sách của nhà nươc sở
tại, ngoài ra cung phải kể đến những tồn tại, những khó khăn do cơ chế, chính
sách của nhà nước ta vẫn chưa đồng bộ, cũn nhiều bất cập, thiếu sút và nhất là
chưa có được sự hỗ trợ có hiệu quả từ phía nhà nước dành cho các doanh nghiệp
hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài tuy nhiên trong xu thế hội nhập kinh tế
hiện nay thỡ ngày càng nhiều những cơ hội thuận lợi, những sự hỗ trợ có hiệu quả
hơn từ phía nhà nước khi đó nhận thức được vai trờ của hoạt động đầu tư ra nước
ngoài của các doanh nghiệp, do đó hứa hẹn sự mở rộng đầu tư ra nước ngoài sẽ
ngày càng phát triển mạnh mẽ.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status