Website: Email : Tel : 0918.775.368
Lời Mở Đầu
Việt Nam xuất phát từ một nớc nông nghiệp lạc hậu, trình độ phát triển,
KTXH ở mức thấp hơn rất nhiều so với nớc khác. Với tốc độ phát triển nhanh
chóng của các nớc phát triển, thì khoảng cách kinh tế ngày càng dãn ra.Vì vậy
nhiệm vụ phát triển kinh tế của nớc ta trong những năm tới là vợt qua tình trạng
của một nớc nghèo, nâng cao mức sống của nhân dân và từng bớc hội nhập vào
quỹ đạo kinh tế Thế Giới.
Tính tất yếu của XKTB với hình thức cao của nó là hình thức đầu t trực
tiếp nớc ngoài là xu thế phát triển của thời đại. Việt Nam cũng không nằm ngoài
trong luật đó nhng vấn đề đặt ra là thu hút FDI nh thế nào.
Với mục tiêu xây dựng nớc ta thành một nớc công nghiệp và tiến hành công
nghiệp hoá và hiện đại hoá với mục tiêu lâu dài là cải biến nớc ta thành một nớc
công nghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế phù hợp cộng
với thực hiện mục tiêu ổn định và phát triển kinh tế trong đó có việc nâng cao
GDP bình quân đầu ngời lên hai lần nh đại hội VII của Đảng đã nêu ra. Muốn thực
hiện tốt điều đó cần phải có một lợng vốn lớn. Muốn có lợng vốn lớn cần phải tăng
cờng sản xuất và thực hành tiết kiệm. Nhng với tình hình của nớc ta thì thu hút vốn
đầu t nớc ngoài cũng cũng là một cách tích luỹ vốn nhanh có thể làm đợc. Đầu t n-
ớc ngoài nói chung và đầu t trực tiếp nói riêng là một hoạt động kinh tế đối ngoại
có vị trí vai trò ngày càng quan trọng, trở thành xu thế của thời đại. Đó là kênh
chuyển giao công nghệ, thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo thêm
việc làm và thu nhập, nâng cao tay nghề cho ngời lao động, năng lực quản lý, tạo
nguồn thu cho ngân sách
Trên cơ sở thực trạng của đầu t nớc ngoài tại Việt Nam, ta cũng cần phải
chú ý tới vấn đề tính tiêu cực của đầu t TTNN. Cũng không phải là một nớc thụ
động để mất dần vị thế mà xem vốn ĐTNN là quan trọng nhng vốn trong nớc
trong tơng lai phải là chủ yếu.
Nhận thức đúng vị trí vai trò của đầu t nớc ngoài là hết sức cần thiết. Chính
phủ cũng đã ban hành chính sách đầu t nớc ngoài vào Việt Nam. Đồng thời tạo
mọi điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu t nớc ngoài. Chúng ta bằng những biện
ớc không còn có lợi nhuận cao nữa. Mặt khác các nớc lạc hậu hơn có lợi thế về đất
đai, nguyên liệu, tài nguyên nhân công lại đ a lại cho nhà đầu t lợi nhuận cao, ổn
định, tin cậy và giữ vị trí độc quyền
Theo Lê Nin " Xuất khẩu t bản" là một trong năm đặc điểm kinh tế của chủ
nghĩa đế quốc, thông qua xuất khẩu t bản, các nớc t bản phát triển thực hiện
việc bóc lột đối với các nớc lạc hậu và thờng là thuộc địa của nó: Nhng ông không
phủ nhận vai trò của nó. Trong thời kỳ đầu của chính quyền Xô Viết, Lê Nin chủ
trơng sử dụng đầu t trực tiếp nớc ngoài và khi đa ra "Chính sách kinh tế mới" đã
nói rằng những ngời cộng sản phải biết lợi dụng những thành tựu kinh tế và khoa
học kỹ thuật của chủ nghĩa T Bản thông qua hình thức kinh tế và khoa học kỹ
thuật của chủ nghĩa T Bản thông qua hình thức " Chủ nghĩa T Bản nhà nớc" đã nói
rằng những ngời cộng sản phải biết lợi dụng những thành tựu kinh tế và khoa học
kỹ thuật của chủ nghĩa t bản thông qua hình thức "chủ nghĩa t bản nhà nớc". Theo
quan điểm này nhiều nớc đã "chấp nhận phần nào sự bóc lột của chủ nghiã t bản
để phát triển kinh tế, nh thế có thể còn nhanh hơn là sự vận động tự thân của mỗi
nớc. Tuy nhiên việc "xuất khẩu t bản" phải tuân theo pháp luật của các nớc đế
quốc vì họ có sức mạnh kinh tế, còn ngày nay thì tuân theo páhp luật, sự điều hành
của mỗi quốc gia nhận đầu t.
2. Các hình thức xuất khẩu t bản.
2
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Gồm c ó hai hình thức chính:
Xuất khẩu t bản cho vay: là hình thức cho chính phủ hoặc do t nhân vay
nhằm thu đợc tỷ suất cao.
Xuất khẩu t bản hoạt động: là đem t bản ra nớc ngoài, mở mang xí nghiệp
tiến hành sản xuất ra giá trị hàng hoá, trong đó có giá trị thặng d tại nớc nhập
khẩu.
Đầu t hoạt động gồm có đầu t trực tiếp và đầu t gián tiếp.
Đầu t trực tiếp: là đầu t chủ yếu mà chủ đầu t nớc ngaòi đầu t toàn bộ hay
phần đủ lớn vốn đầu t của các dự án nhằm dành quyền điêù hành hạơc tham gia
ngoài luôn gắn với lịch sử phát triển của chủ nghĩa t banr. Xuất phát từ điều kiện
chính trị, kinh tế, xã hội của thế giới lúc bấy giờ mà Lênin cho rằng loại vốn đợc
sử dụng dới sạng đầu t trực tiếp nớc ngoài là công cụ bóc lột, là hình thức chiếm
đoạt của chủ nghĩa t bản. Và theo quan niệm củaR.Nurkse quan niệm, dù "đầu t
trực tiếp nớc ngoài trớc hết phục vụ cho lợi ích của các nớc công nghiệp xuất vốn
chứ cha phải nớc nhận vốn"{32, 26} tuy nhiên là nhân tố quan trọng, là giải pháp
3
Website: Email : Tel : 0918.775.368
tích cực để cho nền kinh tế chậm phát triển có thể "vơn tới thị trờng mới". Mặc
dù, đầu t trực tiếp nớc ngoài là nguồn cung cấp một lợng vốn đáng kể cho công
nghiệp hoá, cho tăng năng suất lao động, tăng thu nhập . làm phá vỡ sự khép kín
của vòng luẩn quẩn, nhng nó không phải là tất cả mà nó chỉ phát huy tác dụng khi
khả năng tích luỹ vốn bằng con đờng tiết kiệm nội bộ của một nớc đạt tới mức
nhất định. Cũng nh R.Nurkes, quan điểm của A. Samuelson coi vốn là yếu tố
quyết định đảm bảo cho hoạt động có năng suất cao, hay nói cách khác, vốn là yếu
tố có sức mạnh nhất có thể làm cho "vòng luẩn quẩn" dễ bị phá vỡ. Theo quan
điểm của hai ông nhấn mạnh, đa số các nớc đang phát triển đều thiếu vốn, mức thu
nhập thấp, chỉ đủ sống ở mức tối thiểu, do đó khả năng tích luỹ hạn chế và để "tích
luỹ vốn cần phải hy sinh tiêu dùng trong nhiều thập kỷ". Vì vậy A.Samuelson đặt
vấn đề: Đối với nớc nghèo, nếu có nhiều trở ngại nh vậy nh vậy đối với việc cấm
thành t bản do nguồn tài chính trong nớc, tại sao không dựa nhiều hơn vào những
nguồn vốn nớc ngoài?
2. Khái niệm về đầu t trực tiếp nớc ngoài (FDI)
a. Khái niệm
Về mặt kinh tế: FDI là một hình thức đầu t quốc tế đặc trng bởi quá trình di
chuyển t bản từ nớc này qua nớc khác. FDI đợc hiểu là hoạt động kinh doanh, một
dạng kinh doanh quan hệ kinh tế có quan hệ quốc tế. Về đầu t quốc tế là những
phơng thức đầu t vốn, t sản ở nớc ngoài để tiến hành sản xuất kinh doanh dịch vụ
với mục đích tìm kiếm lợi nhuận và những mục tiêu kinh tế, xã hội nhất định.
Về mặt nhận thức: Nhân tố nớc ngoài ở đây không chỉ thể hiện ở sự khác
phải là ngành công nghiệp nặng, Bởi vì có những nguyên nhân sau. Thứ nhất,
cùng với sự phát triển mạnh mẽ của lực lợng sản xuất, đời sống vật chất ngày một
nâng cao, vì vậy mà nhu cầu về các loại dịch vụ phục vụ đời sống và sản xuất kinh
doanh tăng lên mạnh mẽ, nhất là dịch vụ kỹ thuật, tài chính, du lịch, đòi hỏi ngành
dịch vụ phải đợc phát triển tơng ứng. Thứ hai, ngành công nghiệp chế biến là
ngành có nhiều phân ngành, mà những phân ngành đó thuộc các lĩnh vực mũi
nhọn của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ, nh điện tử, thông tin liên lạc, vật
liệu mới Thứ ba, do đặc tính kỹ thuật của hai ngành này là dễ dàng thực hiện sự
hợp tác. Ví dụ nh ngành công nghiệp chế tạo có những quy trình công nghệ có thể
phân chia ra nhiều công đoạn và tuỳ theo thế mạnh của mỗi nớc có thể phân chia
ra nhiều công đoạn và tuỳ theo thế mạnh của mỗi nớc có thể thực hiện một trong
những khâu mà hai ngành này cho phép nhà đầu t thu đợc lợi nhuận cao, đỡ gặp
rủi ro hơn và nhanh chóng thu hồi vốn đầu t. Vì vậy mà hầu hết các nớc đều tập
trung mọi cố gắng điều kiện thuận lợi để thu hút đầu t trực tiếp nớc ngoài vào hai
ngành này. Xuất phát từ yêu cầu phát triển một cơ cấu kinh tế hiện đại theo hớng
CNH mà chính phủ của nhiều nớc đang phát triển đã dành nhiều u đãi cho những
nớc ngoài đầu t vào hai ngành này, điều đó tạo ra sức hấp dẫn mạnh mẽ đầu t trực
tiếp nớc ngoài.
* Hiện tợng hai chiều trong đầu t trực tiếp nớc ngoài
Từ những năm 70 và đầu những năm 80 trở lại đây, đã xuất hiện hiện tợng
hai chiều, tức là hiện tợng một nớc vừa tiếp nhận đầu t vừa đầu t ra nớc ngoài.
Điển hình nh Mỹ, các nớc thuộc nhóm G7, các nớc công nghiệp mới (NICs)
nhận vốn đầu t nhiều và trực tiếp đầu t lớn. ở các nớc NICs là những nớc tiếp nhận
đầu t trực tiếp nhiều nhất từ Mỹ và Nhật Bản. Đài Loan và Hồng Kông là hai trong
số 10 nớc đầu.
5
Website: Email : Tel : 0918.775.368
3. Mục tiêu và các yếu tố đảm bảo cho CNH, HĐH của Việt Nam
Việt Nam khi tiến hành CNH về thực chất là thực hiện sự chuyển biến từ
một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu sang nền kinh tế công nghiệp phát triển. Việt
công nghiệp hoá của nớc mình và tính kinh tế tức là nhanh chóng ứng dụng đợc
vào sản xuất và đa lại hiệu quả kinh tế cao.
Quá trình toàn cầu hoá đã giúp Việt Nam tăng thu hút đầu t nớc ngoài, viện
trợ phát triển chính thức và giải quyết đợc vấn đề nợ quốc tế. Điều này đã góp
phần ổn định cán cân thu chi ngân sách tập trung nguồn lực cho trơng trình phát
triển kinh tế xã hội trong nớc. Tham gia hội nhập kinh tế cũng góp phần cho ta
tiếp thu khoa học công nghệ tiên tiến, đào tạo cán bộ quản lý, và cán bộ kinh tế.
Điều này góp phần làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hớng phù hợp với công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc.
Nếu xét ở phạm vi hẹp hơn, Việt Nam nằm trong vùng Châu á- Thái Bình
Dơng hiện đang là khu vực kinh tế năng động, có tốc độ tăng trởng tơng đối cao,
6
Website: Email : Tel : 0918.775.368
có nhiều nớc thực hiện công nghiệp hoá thành công, tạo ra một sự chuyển dịch cơ
cấu kinh tế và phân công lao động quốc tế theo hớng tích cực. Châu á- Thái Bình
Dơng hiện đang là khu vực có sự hình thành một tổ chức hợp tác kinh tế có hiệu
quả nh AITA, APEC . Các tổ chức này là điều kiện quan trọng để phá bỏ những
hạn chế, cản trở, không những trong lĩnh vực mậu dịch, mà nó còn là cơ sở mở đ-
ờng cho sự dịch chuyển vốn, công nghệ và các yếu tố sản xuất quan trọng giữa các
nớc trong khu vực.
Vì thế, Việt Nam thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở điểm xuất phát
thấp so với các nớc đi trớc tuy còn ở mức thấp hơn nhiều về thực lực kinh tế nội
sinh nhng có bối cảnh kinh tế quốc tế có nhiều thuận lợi.
b) Mục tiêu và các yếu tố đảm bảo cho sự thành công trong công cuộc
công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam.
Đối với Việt nam thực chất "Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là quá trình
chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ và quản
lý kinh tế, xã hội và sử dụng lao động thủ công là chính, xong sử dụng một cách
phổ biến mức lao động cùng với công nghệ, phơng tịên và phơng pháp tiên tiến
hiện đại, dựa trên sự phát triển của công nghệ và tiến bộ khoa học công nghệ, tạo
lực thích hợp, quyết định sự thành công của công cuộc CNH, HĐH đất nớc.
Thứ ba, có đợc một hệ thống thể chế kinh tế - xã hội đồng bộ, đúng hớng,
phù hợp với đặc điểm và trình độ của lực lợng sản xuất nhằm làm cho chính bản
thân yêu cầu của các hoạt động sản xuất kinh doanh quyết định sự chuyển biến về
cơ cấu theo hớng cơ cấu của một nền kinh tế CNH, HĐH. Và, sự chuyển biến này
cũng là điều kiện để có đợc những tiềm lực khoa học kỹ thuật và công nghệ thích
ứng với đòi hỏi của nền kinh tế CNH, HĐH.
Thứ t, có quan hệ kinh tế đối ngoại rộng rãi và hiệu quả. Đây là luồng quan
trọng nhằm thu hút tốt nguồn vốn, kỹ thuật, công nghệ hiện đại, tri thức quản lý
tiên tiến và khả năng hoà nhập với nền kinh tế thế giới để giảm bớt những bớc tìm
tòi, thử nghiệm, tiếp cận nhanh những tri thức, thanh tựu tiên tiến của thế giới, rút
ngắn những bớc đi của công cuộc CNH, HĐH.
Thứ năm, có một thị trờng đầy đủ, rộng khắp (kể cả thị trờng trong và ngoài
nớc) và hoàn chỉnh nh là điều kiện thực hiện các yêu cầu CNH, HĐH. Thị trờng là
điều kiện thực hiện các yêu cầu CNH, HĐH. Thị trờng là điều kiện vì chỉ có thông
qua nó thì mọi yếu tố đầu vào, đầu ra mới có thể đợc đáp ứng và phần lớn các
quan hệ sản xuất - kinh doanh mới đợc giải quyết. Thị trờng vốn, thị trờng t liệu
sản xuất, thị trờng kỹ thuật - công nghệ, thị trờng lao động đi vào hoạt động
càng hoàn chỉnh thì tác dụng thúc đẩy sản xuất phát triển cũng nh tiến trình hoàn
thành CNH, HĐH càng cao.
c) Một số yêu cầu và những vấn đề đặt ra của tiến trình CNH, HĐH ở
Việt Nam đối với đầu t trực tiếp nớc ngoài.
- Thu hút vốn nớc ngoài, một mặt góp phần giải quyết một trong những tiền
đề cơ bản, mang tính chất quyết định sự khởi động cho sự nghiệp CNH, HĐH.
Mặt khác, làm điều kiện kết hợp các yếu tố nội lực để khai thác tốt các tiềm năng
trong nớc nhằm thúc đẩy tăng trởng và chuyển biến nền kinh tế theo cơ cấu của
một nền kinh tế công nghiệp.
- Góp phần đổi mới công nghệ, trang bị kỹ thuật hiện đại cho nền kinh tế
quốc dân, nâng cao năng lực cho ngời lao động và tiếp thu kinh nghiệm quản lý
tiên tiến.
Trong khi đó liên doanh với nớc ngoài, việc bỏ vốn đầu t của các doanh
nghiệp trong nớc có thể giảm đợc rủi ro về tài chính. Bởi vì: Thứ nhất là, họ có
nhiều kinh nghiệm nên hạn chế và ngăn ngừa đợc rủi ro. Hai là, trong tình huống
xí nghiệp liên doanh giữa họ với chúng ta, có nguy cơ rủi ro thì các công ty mẹ sẽ
có các biện pháp hỗ trợ sản xuất, tiêu thụ sản phẩm, trợ giúp tài chính. Trong tình
huống xấu nhất thì họ cũng sẽ là ngời cùng chia sẻ rủi ro với các công ty của các
nớc sở tại.
FDI vào Việt Nam sẽ tạo ra các tác động tích cực đối với việc huy động các
nguồn vốn khác nh ODA, NGO. Nó tạo ra một hình ảnh đẹp đáng tin cậy về Việt
Nam trong các tổ chức và cá nhân nớc ngoài. Mặt khác, ngay trong quan hệ đối
nội, FDI còn có tác dụng kích thích đối với việc thu hút vốn đầu t trong nớc.
Tích luỹ vốn ban đầu cho công nghiệp hoá bằng cách khai thác tối đa nguồn
vốn trong nớc và tranh thủ nguồn vốn từ bên ngoài là phù hợp với thời đại hiện
nay, thời đại của sự hợp tác và liên kết quốc tế.
2. Chuyển giao công nghệ mới
Với chiến lợc xây dựng Việt Nam thành nớc công nghiệp, theo đuổi con đ-
ờng CNH, HĐH đất nớc theo định hớng XHCN, tuy nhiên khoảng cách về phát
triển khoa học công nghệ giữa các nớc phát triển, nhất là Việt Nam, với các nớc
công nghiệp phát triển. Vì thế một trở ngại một trở ngại rất lớn trên con đờng phát
triển kinh tế là trình độ kỹ thuật - công nghệ lạc hậu. Tuỳ vào hoàn cảnh của mỗi
nớc mà có cách đi riêng để giải quyết vấn đề này. Việc mà các nớc đang phát triển
tự nghiên cứu để phát triển khoa học kỹ thuật cho kịp với trình độ của các nớc phát
triển là việc khó khăn và tốn kém. Con đờng nhanh nhất để phát triển kỹ thuật -
công nghệ và trình độ sản xuất của các nớc đang phát triển trong điều kiện hiện
nay là phải biết tận dụng đợc những thành tựu kỹ thuật - công nghệ hiện đại trên
thế giới, tuy nhiên mức độ hiện đại đến đâu còn tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố. Trong
điều kiện hiện nay, trên thế giới có nhiều công ty của nhiều quốc gia khác nhau có
nhu cầu đầu t ra nớc ngoài và thực hiện chuyển giao công nghệ cho nớc nào tiếp
nhận đầu t. Thì đây là cơ hội cho các nớc đang phát triển trong đó có Việt Nam có
9
ngành trong GDP. Tỷ trọng của Việt Nam trong thời gian từ 1990 đến nay có sự
thay đổi đáng kể. Các ngành kinh tế đã có sự chuyển biến tích cực, tất cả các
nhóm trong ngành đều tăng. Do có sự tăng cờng đầu t nhiều hơn, nhất là trang bị
máy móc thiết bị, công nghệ, nền sản xuất công nghiệp trong thời gian qua đã đạt
tốc độ nhanh và chiếm tỉ trọng ngày càng tăng trong GDP. Trong 9 tháng đầu năm
1996, giá trị sản lợng trong khu vực có vốn FDI chiếm 21,7% tổng sản lợng công
nghiệp. Hiện nay khu vực này chiếm 100% về khai thác dầu thô, 44% về sản lợng
thép, hầu hết lĩnh vực lắp ráp ô tô, xe máy, và sản xuất bóng hình là do các cơ sở
này nắm giữ. Qua đây thấy vai trò FDI trong sản xuất công nghiệp của Việt Nam
hiện nay.
FDI thực sự đã có vai trò to lớn với sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế thông qua
việc đầu t nhiều hơn vào ngành công nghiệp. Vì ngành công nghiệp có năng suất
lao động cao nhất và tỷ trọng lớn trong nền kinh tế, nên FDI đã góp phần to lớn
vào tăng nhanh tốc độ phát triển kinh tế quốc dân.
10
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Để trở thành một quốc gia công nghiệp hoá vào năm 2020 và để nền kinh tế
Việt Nam có thể hội nhập với khu vực và thế giới, một đòi hỏi bức xúc là phải đẩy
nhanh hơn nữa quá trình dịch chuyển cơ cấu kinh tế.
Thúc đẩy quá trình mở cửa và hội nhập của nền kinh tế Việt Nam với thế
giới.
Hoạt động của đầu t đã giúp Việt Nam mở rộng hơn thị phần nớc ngoài.
Góp phần làm chuyển biến nền kinh tế Việt Nam theo hớng của một nền kinh tế
hàng hoá. Đối với Việt Nam, vốn FDI đóng vai trò nh lực khởi động, nh một trong
những điều kiện đảm bảo cho sự phát triển của công nghiệp hoá - hiện đại hoá.
Một số dự án FDI góp phần làm vực dậy một số doanh nghiệp Việt Nam đang
trong điều kiện khó khăn, sản xuất đình đốn nguy cơ phá sản.
11
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Chơng hai
nguồn lực bên ngoài là quan trọng đối với sự phát triển lâu dài của nền kinh tế.
a) Tình hình đầu t trực tiếp nớc ngoài thời gian qua
Giai đoạn trớc 1996: FDI liên tục gia tăng cả về số dự án và vốn đầu t, đạt
mức kỷ lục là 8,6 tỷ USD về tổng số vốn đăng ký vào năm 1996. Trong giai đoạn
này tốc độ tăng trởng bình quân hàng năm vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài đạt
khoảng 50% một năm. Đầu t trực tiếp nớc ngoài đã tăng đáng kể từ mức 37 dự án
với tổng số vốn đầu t đăng ký 342 triệu USD năm 1988 lên 326 dự án với tổng số
vốn đầu t đăng ký 8640 triệu USD năm 1996.
Giai đoạn sau 1996: FDI vào Việt Nam liên tục giảm. Trong giai đoạn
1997-2000 vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài giảm trung bình khoảng 24% một năm.
Đầu t trực tiếp nớc ngoài đã giảm đáng kể từ mức vốn đầu t đăng ký khoảng 8,6 tỷ
USD năm 1996 xuống còn 1,9 tỷ USD năm 2000. Ngoài ra, trong giai đoạn này,
12
Website: Email : Tel : 0918.775.368
còn có một xu hớng khác rất đáng lo ngại và vốn đầu t giải thể tăng cao hơn nhiều
so với giai đoạn trớc. Tổng số vốn đầu t giải thể giai đoạn 1997-2000 khoảng
2,56% tỷ USD so với 2,69 tỷ USD của năm trớc đó cộng lại.
Tính đến cuối năm 2002 đã có hơn 4500 dự án đầu t trực tiếp nớc ngoài
(ĐTTTNN) đợc cấp giấy phép đầu t với tổng vốn đăng ký và tăng vốn đạt trên 80
tỷ USD. Trừ các dự án giải thể trớc thời hạn hoặc đã hết hạn hoạt động, hiện có
trên 3670 dự án đang có hiệu lực, với tổng vốn đăng ký đạt trên 39 tỷ USD. Trong
đó có gần 2000 dự án đang triển khai hoạt động kinh doanh. 980 dự án đang trong
thời kỳ xây dựng cơ bản và làm các thủ tục hành chính, gần 700 dự án cha triển
khai do nhiều nguyên nhân. Tổng số vốn đầu t thực hiện của các dự án đã cấp giấy
phép khoảng 24 tỷ USD, trong đó vốn thực hiện của các dự án còn hiệu lực là trên
21 tỷ USD. Đầu t nớc ngoài chủ yếu dựa vào lĩnh vực công nghiệp và xây dựng với
66% số dự án và 64,5% vốn thực hiện. Lĩnh vực này cũng thu hút tới trên 70% số
lao động và tạo ra trên 90% giá trị xuất khẩu của khu vực đầu t nớc ngoài. Lĩnh
vực dịch vụ chiếm 21% số dự án và 22,5% vốn thực hiện, lĩnh vực nông - lâm -
ng nghiệp chiếm 13% số dự án và 6% vốn thực hiện.