ĐỀ ÁN KTCT - 1 -
Chương I : Cơ sở lý luận chung về ĐTTT nước ngoài
1.1. Toàn cầu hóa và ĐTTT của nước ngoài:
Sau cuộc khủng hoảng nợ xảy ra ở các nước đang phát triển vào đầu
những năm 1980, các nước quay sang khuynh hướng cho rằng không nên vay
nợ quá nhiều từ các nước ngân hàng và các nước thị trường trái phiếu trên thế
giới và nên tập trung thu hút các nguồn vốn không tạo nợ. Các nguồn đó chủ
yếu bao gồm ĐTTT của nước ngoài (foreign direct invesment – FDI) và ở
một mức độ nào đó, vốn đầu tư nước ngoài gián tiếp (foreign indirect
investment-FII). Ưu điểm về mặt tài chính của FDI nằm ở chỗ các đầu tư này
chỉ đến các luồng tiền chuyển ra (chuyển lợi nhuận) khi nền kinh tế tăng
trưởng tốt, các dự án FDI có lợi nhuận. các khủng hoảng về cán cân thanh
toán do phải thực hiện các nghĩa vụ tài chính do đó ít xảy ra hơn trong trường
hợp vay nợ. Trên phạm vi toàn cầu, quy mô của luồng FDI tăng đáng kể từ
khoảng cuối thập niên 80.
Cũng sau cuộc khủng hoảng nợ ấy, việc cho vay tư nhân không còn được
các nhà đầu tư nước ngoài ưa chuộng nữa. Đầu tư qua cổ phiếu chỉ cho phép
kiểm soát được ít, hoặc hoàn toàn không kiểm soát được số tiền đã đầu tư, và
độ rủi ro tương đối cao nếu diễn ra ở một nước đang phát triển, còn thiếu kinh
nghiệm kinh doanh va kỹ năng quản lý. FDI đã trở thành một công cụ năng
động cho các nhà đầu tư nước ngoài.
Sự gia tăng của các luồng FDI đầu tư trên thế giới, đặc biệt là giữa các
nước giàu, phản ánh sự tái cấu trúc về mặt sản xuất trên phạm vi toàn cầu, là
một phần của xu thế “toàn cầu hóa”. Một vài nguyên nhân dẫn đến tiến trình
toàn cầu hóa có thể được kể đến như:
(1). Thị trường toàn cầu : nhiều hàng hóa ngày nay được bán trên phạm vi
toàn cầu để thỏa mãn nhu cầu chung của người tiêu dùng trên tòan thế giới.
Mặt khác có nhiều sức ép buộc các nhà sản xuất liên tục đưa ra sản phẩm mới
và không ngừng cải tiến chất lượng của sản phẩm hiện có. Điều này đòi hỏi
một chi phí nghiên cứu và triển khai rất lớn mà chi phí này chỉ có thể thu hồi
được trên một thị trường rộng lớn toàn cầu.
• Chủ thể của FDI chủ yếu là các công ty đa quốc gia (Multinational
corporation _MNC), chiếm 90% khối lượng FDI trên toàn thế giới.
Phần còn lại của FDI thuộc về các nhà nước và các tổ chức quốc tế
khác.
• FDI được thực hiện với nhiều hình thức :
- Xây dựng doanh nghiệp hoàn toàn mới ;
- Mua lại doanh nghiệp đang hoạt động ở nước chủ nhà;
- Tham gia vào các hợp đồng hợp tác kinh doanh ;
ĐTTT NƯỚC NGOÀI TẠI TP.HỒ CHÍ MINH SVTH:TRƯƠNG DIỄM MY
ĐỀ ÁN KTCT - 3 -
- Góp vốn với đối tác của nước chủ nhà để thành lập công ty
hoặc công ty liên doanh ;
- Xây dựng – Vận hành _Chuyển giao (BOT) và các hình thức
tương tự (BTO,BT,…).
1.2. Vai trò tích cực cũng như mặt hạn chế của FDI:
1 . 2.1. Vai trò tích cực của FDI :
Các công ty nước ngoài tính bình quân thường có lợi khi đầu tư tại các
nước nghèo: kiếm được tỉ suất sinh lợi cao vì lương thợ thấp và được một thị
trường mới.
Từ quan điểm của nước chủ, cũng có nhiều lợi ích từ dòng vốn trực tiếp
của nước ngoài :
- Đầu tư nước ngoài làm tăng việc làm và mức lương tại nước chủ
- Công ty nước ngoài phải trả thuế cho nước chủ. Chính phủ nước chủ
nhờ có thêm tiền thuế ( thuế lợi nhuận và thuế tiền lương) có thể quyết
định tăng chi tiêu công. Nếu phần chi tiêu thêm này hướng về sự hình
thành tư bản công như đường xá, cầu cống, trường học, … điều đó sẽ
mang lại ảnh hưởng tốt và làm tăng tỉ suất sinh lợi của vốn tư.
- FDI góp phần cung cấp vốn để bổ sung vào nguồn vốn đẩu tư của
nước tiếp nhận và cũng tạo ra tác động tích cực đến việc huy động các
nguồn vốn khác của nước tiếp nhận. Vốn FDI đặc biệt có ý nghĩa đối
- Tăng sự phụ thuộc của nền kinh tế các nước tiếp nhận vào vốn, kỹ thuật
và mạng lưới tiêu thụ hàng hóa.
- Các MNC thông qua FDI, với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận đã thực
hiện nhiều hành động tiêu cực, đặc biệt là hoạt động “chuyển giá”, đã
gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến nước tiếp nhận FDI. Các nước MNC
có thể định giá các yếu tố đầu vào thấp hơn giá thị trường và định giá
các yếu tố đầu ra thấp hơn thị trường tối thiểu hóa số thuế phải nộp ghi
trên hóa đơn của các nước đó. Điều này dẫn đến một hệ quả chắc chắn
là các nước tiếp nhận đầu tư sẽ bị thất thu.
- Tạo ra tình trạng phân phối thu nhập không đều ở các nước tiếp nhận
- Các nước MNC trong một số trường hợp cũng thông qua FDI để xuất
khẩu ô nhiễm môi trường sang các nước tiếp nhận những nơi mà pháp
luật và những biện pháp bảo vệ môi trường còn lỏng lẽo và ít hữu hiệu.
Những cái mà FDI mang lại cho các quốc gia không hoàn toàn đồng nhất
trong mọi không gian và thời gian mà tùy thuộc một phần rất lớn vào tính
năng động chủ quan của các nước này. Nếu các nước tiếp nhận đầu tư có đầu
óc chiến lược, sách lược kinh tế, đúng đắn thì vẫn có thể hạn chế những mặt
tiêu cực, tranh thủ được những mặt tích cực của FDI.
ĐTTT NƯỚC NGOÀI TẠI TP.HỒ CHÍ MINH SVTH:TRƯƠNG DIỄM MY
ĐỀ ÁN KTCT - 5 -
1.3. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc thu hút FDI từ
Trung Quốc:
Chính sách mạnh dạn của Trung Quốc trong việc cải cách thị trường, bắt
đầu từ năm 1979, đã đưa nước này đứng vào trong số những quốc gia hàng
đầu trên thế giới về thương mại. Trong hai thập niên qua, Trung Quốc đã đạt
được tỷ lệ tăng trưởng kinh tế nhanh hơn bất kỳ quốc gia nào, trung bình 10%
một năm. Nếu tốc độ tăng trưởng cứ tiếp diễn thì rất có khả năng, Trung
Quốc có thể sẽ trở thành một nền kinh tế lớn nhất thế giới trong. Dưới đây có
thể khái quát một số vấn đề đáng tham khảo.
1. 3.1.Đóng góp của FDI:
quản lý và cho phép đầu tư vào các vùng kinh tế mở vượt kế hoạch Nhà nước.
1.3.3. Những tồn tại và khó khăn:
- Sự tập trung vốn của FDI ở Trung Quốc thấp hơn so với các nước và vùng
lãnh thổ khác. Chẳng hạn, FDI chảy vào 3 ngành công nghiệp hàng đầu của
Hồng Công và Đài Loan là 86%, Inđônêxia là 79% và của Malaixia là 75%, còn
Trung Quốc chỉ chiếm 47% FDI.
- FDI có mặt ở nhiều tỉnh, kể cả các tỉnh Nội Mông nghèo, nhưng phân bố
không đều (các tỉnh miền Tây chỉ thu hút được 3%, các tỉnh miền Trung 9%,
trong khi đó các vùng Duyên hải thu hút tới gần 88% các dòng vốn FDI), đã tạo
ra chênh lệch phát triển giữa các vùng.
- Chính sách thuế của Trung Quốc rất phức tạp và còn nhiều bất cập, hiện
đang khắc phục dần. Từ năm 1994 đến cuối năm 2000, khả năng mang lại lợi
nhuận trước thuế trung bình của các doanh nghiệp FDI ở Trung Quốc là 8%;
riêng với các doanh nghiệp FDI từ Mỹ trong những năm 1990 hoặc nửa cuối
những năm 1990 là khoảng 14%, tương đương với khả năng mang lại lợi nhuận
của doanh nghiệp FDI từ Mỹ vào các nước như Achentina, Braxin, Mêhicô và
Thổ Nhĩ Kỳ.
Tóm lại, Việt Nam là nước đi sau trong quá trình thu hút ĐTTT nước ngoài
nên chúng ta có cơ hội tiếp cận bài học kinh nghiệm của nước đi trước, đặc biệt
là nước Trung Quốc, vì có những điểm tương tự với nước ta. Từ đó, có thể rút ra
cái hay từ những chính sách của họ và tránh đi những sai lầm mà các nước này
đã mắc phải để có thể thu hút và quản lý có hiệu quả hoạt động đầu tư nước
ngoài.
ĐTTT NƯỚC NGOÀI TẠI TP.HỒ CHÍ MINH SVTH:TRƯƠNG DIỄM MY
ĐỀ ÁN KTCT - 7 -
Chương 2: Thực trạng FDI ở TP.HCM.Thành tựu, hạn
chế trong việc thu hút FDI của thành phố.
2.1. Thực trạng thu hút vốn ĐTTT nước ngoài của TP.HCM:
TP.HCM là một thành phố lớn của cả nước, đồng thời cũng là trung tâm
phát triển nhiều mặt của Việt Nam. Do vị trí thuận lợi, giống như Thượng Hải
đồng), chiếm 3,7% GDP. Tính toán trên cơ sở vốn đầu tư phát triển vẫn đóng
góp khoảng 60% cho tăng trưởng, hệ số ICOR của năm 2009 là 6 thì riêng
việc vốn FDI giải ngân giảm làm GDP mất 0,36 điểm phần trăm.
Trong các dự án đầu tư nước ngoài được cấp phép, có 84 dự án đầu tư vào
ngành công nghiệp, tổng vốn đầu tư 688,8 triệu USD, 77 dự án ngành kinh
doanh tài sản và dịch vụ tư vấn, tổng vốn đầu tư 127 triệu USD, trong đó có
40 dự án đầu tư vào ngành công nghệ thông tin, 18 dự án đầu tư vào ngành
xây dựng, vốn đầu tư 21,1 triệu USD và 14 dự án đầu tư vào ngành vận tải,
vốn đầu tư 428,3 triệu USD, trong đó có 1 dự án mới được cấp phép là dự án
liên doanh giữa cảng Sài Gòn và Công ty SSA Holding International-
VietNam xây dựng và khai thác cảng container quốc tế với vốn đầu tư 160
triệu USD.
Được biết, có 24 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư tại TP.HCM,
trong đó Hàn Quốc có 51 dự án, tổng vốn đầu tư 102,7 triệu USD, Nhật Bản
37 dự án, vốn đầu tư 45,8 triệu USD, Singapore 20 dự án, vốn đầu tư 58,5
triệu USD, Đài Loan 16 dự án, vốn đầu tư 41,9 triệu USD, British Virgin
Islans có 10 dự án, vốn đầu tư 285,8 triệu USD, Hong Kong 4 dự án, vốn đầu
tư 606,6 triệu USD.
Và theo thống kê của Bộ kế hoạch Vốn đầu tư đạt trên 117 triệu USD
(tăng gần 60%) so với cùng kỳ năm ngoái. Đài Loan luôn đứng đầu về số vốn
và dự án đầu tư vào thành phố, với 335 dự án, kế đến là Hàn Quốc (254 dự
án), đứng thứ 3 là Singapore với 152 dự án.
Với kết quả khả quan như trên, cùng những chính sách đổi mới sắp tới,
thành phố có thể hút nhiều dự án với tổng số vốn đầu tư lớn hơn (hiện đã có
những dự án vốn đầu tư vào TP HCM lên đến 80 triệu USD).
Mặc dù nguồn vốn của các dự án mới đổ vào TPHCM giảm mạnh, nhưng
những doanh nghiệp FDI đang hoạt động trên địa bàn thành phố vẫn tiếp tục
tăng vốn mở rộng đầu tư, với nguồn vốn tăng cao.
Theo Sở Kế hoạch và Đầu tư, trong năm 2009 có đến 114 doanh nghiệp
tăng vốn đầu tư với tổng vốn tăng thêm đạt trên 370 triệu đô la, tăng 3,4% so
chọn địa điểm nhà đầu tư nước ngoài. Kết quả cho thấy là các yếu tố lao động
phổ thông nhiều, gần nguồn nguyên liệu, mức độ cạch tranh không phải là
các nhân tố quyết định của nhà đầu tư FDI.
2.2.2. Đánh giá của các công ty FDI về môi trường đầu tư:
Các nhà đầu tư nước ngoài không hài lòng ở các lĩnh vực như: trả lời của
các cơ quan chức năng với các câu hỏi của nhả đầu tư: Mức đáp ứng dịch vụ
công cộng của cơ quan chức năng; Việc thực hiện chính sách của thành phố
tại cấp quận/huyện; Hệ thống cơ sở hạ tầng thông tin, viễn thông; Mức giá
thuê đất; công bố thông tin; thu nhập cá nhân. Mặc dù các yếu tố như sự quan
tâm của lãnh đạo thành phố về thu hút FDI, cải thiện thủ tục cấp giấy phép
ĐTTT NƯỚC NGOÀI TẠI TP.HỒ CHÍ MINH SVTH:TRƯƠNG DIỄM MY