Tiểu luận khoa học chính trị: Vận dụng quy luật QHSX phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của LLSX - Pdf 19


Tiểu luận khoa học chính trị

Đề tài: Vận dụng quy luật QHSX phải phù
hợp với tính chất và trình độ phát triển
của LLSX.
A – PHẦN MỞ ĐẦU
Từ khi con người bắt đầu xuất hiện trên trái đất cho đến nay đã trải
qua năm phương thức sản xuất đó là : cộng sản nguyên thuỷ, chiếm hữu nô
nệ, xã hội phong kiến, tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa. Qua mỗi thời kỳ
tư duy và nhận thức của con người cũng không dừng lại ở một chỗ, mà theo
thời gian tư duy của con người ngày càng phát triển hoàn thiện hơn. Chính
sự thay đổi về tư duy và nhận thức đã kéo theo những sự thay đổi về sự phát

Lực lượng sản xuất là toàn bộ những tư liệu sản xuất do xã hội tạo ra,
trước hết là công cụ lao động và những người lao động với kinh nghiệm và
thói quen lao động nhất định đã sử dụng những tư liệu sản xuất đó để tạo ra
của cải vật chất cho xã hội. Hay nói cách khác lực lượng sản xuất là biểu
hiện mối quan hệ giữa con người với giới tự nhiên, bao gồm người lao động
và tư liệu sản xuất :
+ Tư liệu sản xuất gồm có : đối tượng lao động và tư liệu lao động.
Đối tượng lao động là những cái mà con người tác động vào để cải tạo chúng
thành các sản phẩm phục vụ cho đời sống của mình như đất đai, tài nguyên,
khoán sản; hoặc những đối tượng đã trải qua quá trình lao động của con
người, nhưng chưa thành sản phẩm cuối cùng (nguyên vật liệu). Còn tư liệu
lao động gồm: công cụ lao động là những cái con người dùng để truyền sức
lao động vào đối tượng lao động để biến đổi chúng thành những sản phẩm
lao động nhất định và những phương tiện vật liệu khác phục vụ quá trình sản
xuất như nhà xưởng, bến bãi… Trong các yếu tố trên thì công cụ lao động
được coi là yếu tố quan trọng nhất, linh hoạt nhất của tư liệu sản xuất.
+ Người lao động : đây được coi là yếu tố đầu tiên và quan trọng nhất
của quá trình sản xuất, người lao động dùng trí thông minh cùng với sự hiểu
biết và kinh nghiệm lao động luôn luôn không ngừng biến đổi công cụ lao
động để đạt năng suất lao động cao nhất và ít hao tổn sức lực nhất.
Ở nước ta từ trước đến nay nền kinh tế lấy nông nghiệp làm chủ yếu,
nên trình độ khoa học kỹ thuật còn kém phát triển. Hiện thời đại chúng ta
đang ở trong tình trạng kế thừa những lực lượng sản xuất, vừa nhỏ nhoi, vừa
lạc hậu với trình độ chung của thế giới, hơn nữa trong thời gian khá dài
những lực lượng ấy bị kìm hãm, phát huy tác dụng kém. Bởi vậy đại hội lần
thứ VI của Đảng đã đặt ra nhiệm vụ là phải: “giải phóng mọi năng lực sản
xuất hiện có, khai thác mọi khả năng tiềm tàng của đất nước, sử dụng có hiệu
quả sự giúp đỡ quốc tế để phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất”. Mặt khác
chúng ta đang ở trong giai đoạn mới trong sự phát triển của cách mạng khoa
học kỹ thuật, đang chứng kiến những biến đổi cách mạng trong công nghệ.

cải biến chúng để chẳng những chúng không đối lập mà còn phục vụ đắc lực
cho sử tồn tại và phát triển của chế độ kinh tế – xã hội mới.
Trong lịch sử mỗi hình thái kinh tế xã hội cùng với một quan hệ sản
xuất thống trị điển hình còn tồn tại những quan hệ phụ thuộc, lỗi thời như là
tàn dư của xã hội cũ. Tất cả đều bắt nguồn từ phát triển không đều về lực
lượng sản xuất không những giữa các nước khác nhau mà còn giữa các vùng
khác nhau, các ngành khác nhau của một nước. Việc chuyển từ quan hệ sản
xuất lỗi thời lên cao hơn như Mác nhận xét : “Không bao giờ xuất hiện trước
khi những điều kiện tồn tại vật chất của những quan hệ đó chưa được chín
muồi ” phải có một thời kỳ lịch sử tương đối lâu dài mới có thể tạo ra được
điều kiện vật chất trên.
3. Nhận thức về phạm trù hình thái kinh tế - xã hội cộng sản
Bắt nguồn từ nhận thức về qui luật phát triển của xã hội loài người là
một quá trình lịch sủ tự nhiên, đồng thời xuất phát từ những điều kiện mới
của thực tế lịch sử hiện nay có thể khẳng định các nước chậm phát triển cũng
có khả năng tiến lên CNXH tuỳ theo hoàn cảnh và khả năng của mình. Khả
năng quá độ lên CNXH này thường đợc gọi là con đường quá độ gián tiếp
lên CNXH, con đường bỏ qua giai đoạn phát triển chế độ tư bản chủ nghĩa.
Con đường phát triển theo khả năng này còn được gọi là con đường theo
định hướng xã hội chủ nghĩa. Theo kinh nghiệm thực tế của Lênin đây là
một con đường khá lâu dài phải trải qua nhiều bước trung gian, phát triển
qua đấu tranh giai cấp rất phức tạo. Sự đi lên phải có ủng hộ và giúp đỡ bên
ngoài kể cả cơ sở sản xuất. Trước hết trong nước đó cần có một Đảng của
giai cấp vô sản lãnh đạo, một đảng có quan hệ mật thiết "sống còn" với dân.
Từ đó tổ chức áp dụng lãnh đạo trong đó có cả vận dụng qui luật sản xuất
phù hợp với nước đó một cách tích cực để không ngừng tiến bước.
II. QUAN HỆ SẢN XUẤT PHÙ HỢP VỚI TRÌNH ĐỘ PHÁT TRIỂN CỦA LỰC
LƯỢNG SẢN XUẤT.
1. Quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất mâu thuẫn hay phù
hợp.

chấp quy luật khách quan. Về mặt phương pháp luật, đó là chủ nghĩa duy vật
siêu hình, quá lạm dụng mối quan hệ ngược lại của quan hệ sản xuất đối với
sự phát triển của lực lượng sản xuất. Sự lạm dụng này biểu hiện ở “nhà nước
chuyên chính vô sản có khả năng chủ động tạo ra quan hệ sản xuất mới để
mở đường cho sự phát triển của lực lượng sản xuất”. Nhưng khi thực hiện
người ta quên rằng sự "chủ động” không đồng nghĩa với sự chủ quan tuỳ tiện
con người không thể tự do tạo ra bất cứ hình thức nào của quan hệ sản xuất
mà mình muốn có. Ngược lại quan hệ sản xuất luôn luôn bị quy định một
cách nghiêm ngặt bởi trạng thái của lực lượng sản xuất, bởi quan hệ sản xuất
với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Quan hệ sản xuất
chỉ có thể mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển khi mà nó được hoàn
thiện tất cả về nội dung của nó, nhằm giải quyết kịp thời nhưng mâu thuẫn
giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất.
+ Lực lượng sản xuất quyết định sự hình thành biến đổi của quan hệ
sản xuất: Lực lượng sản xuất là cái biến đổi đầu tiên và luôn luôn biến đổi
trong sản xuất con người muốn giảm nhẹ lao động nặng nhọc tạo ra năng
suất cao phải luôn tìm cách cải tiến công cụ lao động. Chế tạo ra công cụ lao
động mới. Lực lượng lao động quy định sự hình thành và biến đổi quan hệ
sản xuất khi quan hệ sản xuất không thích ứng với trình độ, tính chất của lực
lượng sản xuất thì nó kìm hãm thậm chí phá hoại lực lượng sản xuất và
ngược laị.
+ Sự tác động ngược lại của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản
xuất: Quan hệ sản xuất khi đã được xác lập thì nó độc lập tương đối với lực
lượng sản xuất và trở thành những cơ sở và nhưng thể chế xã hội và nó
không thể biến đổi đồng thời đối với lực lượng sản xuất. Thường lạc hậu so
với lực lượng sản xuất. Nếu quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ sản xuất,
tính chất của lực lượng sản xuất thì nó thúc đẩy sự phát triển của lực lượng
sản xuất. Nếu lạc hậu so với lực lượng sản xuất dù tạm thời thì nó kìm hãm
sự phát triển của lực lượng sản xuất. Sở dĩ quan hệ sản xuất có thể tác động
mãnh mẽ trở lại đối với lực lượng sản xuất vì nó quy đụnh muc đích của sản

trái với ý muốn chủ quan của chúng ta. Có những hiện tượng tiêu cực nổi lên
trong đời sống kinh tế như quản lý kém, tham ô, tham nhũng,…, Nhưng thực
ra mâu thuẫn giữa yêu cầu phát triển lực lượng sản xuất với những hình thức
kinh tế – xã hội xa lạ được áp đặt một cách chủ quan, cần thiết cho lực lượng
sản xuất mới nảy sinh và phát triển. Khắc phục những mặt tiêu cực trên là
cần thiết, nhưng trên thực tế chúng ta chưa thực hiện tốt các nhiệm vụ mình
phải làm. Phải giải quyết đúng đắn mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất với
quan hệ sản xuất, từ đó khắc phục những khó khăn và tiêu cực của nền kinh
tế. Thiết lập quan hệ sản xuất mới và với những hình thức và bước đi phù
hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất phát triển với hiệu quả
kinh tế cao. Trên cơ sở củng cố những đỉnh cao kinh tế trong tay nhà nước
cách mạng. Cho phép phục hồi và phát triển chủ nghĩa tư bản và buôn bán tự
do rộng rãi, có lợi cho sự phát triển sản xuất. Cách đây không lâu các nhà
báo của nước ngoài phỏng vấn Tổng bí thư Lê Khả Phiêu rằng “với một
người có bằng cấp về quân sự nhưng không có bằng cấp về kinh tế. Ông có
thể đưa đất nước Việt Nam tiến nên không” trả lời phỏng vấn Tổng bí thư
khẳng định rằng “Việt Nam chúng tôi khác với các nước ở chỗ chúng tôi đào
tạo một người lính thì người lính ấy phải có khả năng cầm súng và làm kinh
tế giỏi ”, và Ông còn khẳng định và không chấp nhận Việt Nam theo con
đường chủ nghĩa tư bản, nhưng không phải triệt tiêu tư bản trên đất nước
Việt Nam mà vẫn quan hệ với chủ nghĩa tư bản trên cơ sở đòi hỏi các bên
cùng có lợi, và như vậy cho phép phát triển nền kinh tế tư bản là sáng suốt.
Quan điểm từ đại hội VI cũng đã khẳng định không những khôi phục thành
phần kinh tế tư bản tư nhân mà còn phát triên chúng rộng rãi theo chính sách
của Đảng và Nhà nước. Nhưng quan trọng là phải nhận thức được vai trò
thành phần kinh tế nhà nước trong thời kỳ quá độ. Để thực hiện vai trò này
một mặt nó phải thông qua sự nêu gương về các mặt năng suất, chất lượng và
hiệu quả. Thực hiện đầy đủ đối với nhà nước. Đối với thành phần kinh tế tư
bản tư nhân và kinh tế cá thể thực hiện chính sách khuyến khích phát triển.
Tuy nhiên với thành phần kinh tế này cần phải có những biện pháp để cho

nhanh chóng đạt tới trình độ một nước phát triển tất yếu phải đẩy mạnh
sự nghiệp công nghiệp hoá toàn diện và sâu sắc. Đại hội đã biểu lần thứ
VIII của Đảng đã khẳng định “xây dựng nước ra thành một nước công
nghiệp có cơ sở vật chất – kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế phù hợp,
quan hệ sản xuất tiến bộ và phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng
sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần phải được nâng cao, quốc phòng
an ninh vững chắc dân giàu nước mạnh xã hội công bằng văn minh”.
Theo quan niệm của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác thì lịch sử sản xuất
vật chất của nhân loại đã hình thành mối quan hệ khách quan phổ biến:
một mặt con người phải quan hệ với tự nhiên nhằm biến đổi giới tự nhiên
đó, quan hệ này được biểu hiển ở lực lượng sản xuất. Lực lượng sản xuất
và quan hệ sản xuất là hai mặt đối lập nhau biện chứng của một thể thống
nhất không thể tách rời. Tuy nhiên nếu lực lượng sản xuất là cái cấu
thành của toàn bộ lịch sử của nhân loại thì quan hệ sản xuất là cái tạo
thành cơ sở kinh tế của xã hội, là cơ sở hiện thực của hoạt động sản xuất
tinh thần và những thiết chế tương ứng trong xã hội.
Mác đã đưa ra kết luận rằng xã hội loài người phát triển trải qua
nhiều giai đoạn kế tiếp nhau, ứng với mỗi giai đoạn của lịch sử phát triển
đó là một hình thái kinh tế – xã hội nhất định rằng tiến bộ xã hội là sự
vận động theo đúng hướng tiến lên của các hình thái kinh tế xã hội khác
mà gốc rễ sâu xa của nó là sự phát triển của sản xuất. Rằng sự vận động
của các hình thái kinh tế – xã hội là do tác động của các quy luận khách
quan. Mác và Angen đã đưa ra nhiều lý luận, nhiều tư tưởng. Những lý
luận tư tưởng cơ bản đó trong học thuyết Mác về hình thái kinh tế – xã
hội chính là cơ sở lý luận cho phép chúng ta khẳng định sự công nghiệp
hoá, hiện đại hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay là
phù hợp với quy luật khách quan trong quá trình phát triển của dân tộc
ta, của thời đại. Đối với nước ta để phù hợp với lực lượng sản xuất và
quan hệ sản xuất, Đảng ta đã chỉ ra rằng công nghiệp hoá phải đi đôi với
hiện đại hoá kết hợp những bước tiến tuần tự về công nghiệp với việc

đưa những tiến bộ khoa học của các nước đi trước và tăng cường sự giáo
dục, định hướng cho người lao động để có thể tiếp thu những thành tựu của
khoa học công nghệ.
+ Bình thường hoá quan hệ sản xuất có cách nhìn đúng đắn giữa người
làm thuê với ông chủ của mình. Đây là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng
chất lượng của sản phẩm làm ra. Quan hệ sản xuất tốt người lao động được
hưởng mọi quyền lợi họ sẽ tích cực làm việc từ đó năng xuất và chất lượng
sản phẩm không ngừng tăng lên.
Mong rằng những kiến nghị của em có thể đóng góp một phần nhỏ bé để
cùng đất nước đi lên theo con đường công nghiệp hoá - hiện đại hoá hiện nay.

D. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Tài liệu Lênin toàn tập – Tập 38 NXB Maxcơva 1977
2. Góp phần hướng dẫn học tập môn triết học Mác – Lênin. Tập 2 – NXB
chính trị quốc gia năm 2003
3. Giáo trình triết học Mác – Lênin – NXB chính trị quốc gia
4. Văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII
5. Tạp chí cộng sản số 13

tháng 6/1996
6. Tạp chí phát triển kinh tế
“Công nghiệp hoá nhìn từ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản
xuất”. PTS- Lưu Hà Vi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status