Thực trạng quá trình phát triển kinh tế VN áp dụng quy luật QHSX phải phù hợp với tính chất và trình độ của - Pdf 13

Mục lục
trang
Mục lục 1
Lời mở đầu 3
ChơngI: Cơ sở lý luận về quản lý ngoại hối 4
I.Khái niệm về quản lý ngoại hối. 4
II.Mục đích của việc quản lý ngoại hối. 5
1.Điều tiết tỷ giá thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia. 5
2.Bảo tồn quỹ dự trữ ngoại hối Nhà nớc. 5
3.Cải thiện cán cân thanh toán . 6
III.Cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái. 6
1.Khái niệm tỷ giá. 6
2.Các loại chế độ tỷ giá hối đoái. 7
2.1 Chế độ tỷ giá cố định. 7
2.2 Chế độ tỷ giá thả nổi. 7
2.3 Chế độ tỷ giá thả nổi có quản lý. 8
3.Quá trình phát triển của hệ thốngtỷ giá hối đoái quốc tế. 9
Chơng II: Thực trạng quản lý ngoại hối ở Việt Nam. 11
I.Các công cụ điều hành tỷ giá. 11
1.Mục đích và khả năng can thiệp của NHNN 12
2.Hệ thống các công cụ can thiệp trong quản lý ngoại hối. 12
II.Thực trạng quản lý ngoại hối ở Việt Nam. 15
1.Sự phát triển của hệ thống tỷ giá ở Việt Nam. 15

2.Thời kỳ thả nổi tỷ giá (1989 - 1992) 17
3.Chính sách điều hành tỷ giá hối đoái tự chủ theo cơ chế thị trờng. 18
4.Cơ chế điều hành tỷ giá trong giai đoạn hội nhập quốc tế hiện nay. 19
III.Sự phá giá đồng VND nên hay không nên? 19
1.Phá giá tiền tệ và những tác động của nó. 19
2.Tỷ giá của đồng VND hiện nay. 20
3. Phá giá hay không phá giá VND? 22

số giải pháp cho vấn đề quản lý ngoại hối ở nớc ta.

3
CHƯƠNG i: cơ sở lý luận về quản lý ngoại hối
I. Khái niệm về quản lý ngoại hối.
Ngoại hối là phơng tiện thiết yếu trong quan hệ kinh tế, văn hoá... giữa các quốc
gia. Ngoại hối là tiền nớc ngoài, vàng tiêu chuẩn quốc tế, các giấy tờ có giá và các
công cụ thanh toán bằng tiền nớc ngoài.
Ngoại hối trong đó đặc biệt là ngoại tệ có vai trò quan trọng, nó là phơng tiện dự
trữ của cải, phơng tiện để mua, phơng tiện thanh toán và hạch toán quốc tế, đợc các
nớc chấp nhận là đồng tiền quốc tế, bao gồm ngoại tệ mạnh và kim loại quý, dự trữ
tại quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF), quyền rút vốn đặc biệt, SDR và các tài sản có tính linh
hoạt cao.
Nền kinh tế ngày càng phát triển, quan hệ quốc tế ngày càng mở rộng thì không
thể có một quốc gia nào phát triển một cách đơn độc, khép kín, mà còn đòi hỏi phải
mở rộng quan hệ kinh tế với nớc ngoài. Vì vậy dự trữ ngoại hối là một trong những
mục tiêu kinh tế có ý nghĩa quan trọng, có dự trữ ngoại hối cần thiết có nghĩa là Nhà
nớc đã nắm trong tay một công cụ quan trọng để phục vụ cho việc quản lý mục tiêu
kinh tế vĩ mô. Dự trữ ngoại hối để đảm bảo khả năng thanh toán quốc tế, thoả mãn
nhu cầu nhập khẩu phục vụ phát triển kinh tế và đời sống trong nớc, mở rộng đầu t,
hợp tác kinh tế nớc ngoài phục vụ mục tiêu chính sách kinh tế mở. Dự trữ ngoại hối là
một cơ sở cho việc phát hành tiền đảm bảo cho mối tơng quan giữa tiền-hàng trong
nớc. Nhà nớc có thể chủ động sử dụng ngoại hối nh là một lực lợng để can thiệp,
điều tiết thị trờng tiền tệ theo những mục tiêu theo kế hoạch.
Đối với những nớc mà đồng tiền đợc tự do chuyển đổi, dự trữ ngoại hối là công
cụ để can thiệp, điều chỉnh nhằm thiết lập thế cân bằng giữa các đồng tiền trong trật
tự tiền tệ quốc tế, phục vụ chính sách kinh tế - xã hội.
Với t cách là cơ quan duy nhất có nhiệm vụ phát hành tiền, xây dựng và thực thi
chính sách tiền tệ, lập và theo dõi cán cân thanh toán quốc tế Ngân hàng Trung ơng
(NHTW) đã đợc giao nhiệm vụ quản lý Nhà nớc và kiểm soát ngoại hối trên thị tr-

Cán cân thanh toán quốc tế thể hiện quan hệ thu chi quốc tế của một nớc với nớc
ngoài. Cán cân thanh toán phải phản ánh đầy đủ những xu hớng cung cầu về ngoại tệ
trong các giao dịch quốc tế nên nó tác động lớn đến tỷ giá hối đoái của đồng tiền.
Khi cán cân thanh toán quốc tế bội thu, lợng ngoại tệ chảy vào trong nớc dẫn
đến khả năng cung về ngoại tệ cao hơn nhu cầu, trờng hợp này tỷ giá vận động theo
xu hớng giảm. Ngợc lại khi cán cân thanh toán quốc tế bội chi, tăng lợng ngoại tệ
chạy ra nớc ngoài dẫn đến nhu cầu về ngoại tệ cao hơn khả năng cung ứng, trờng hợp
này tỷ giá vận động theo xu hớng tăng lên.Nh vậy trong cả hai trờng hợp nếu không
có sự can thiệp của NHTW, tỷ giá sẽ tăng hoặc giảm theo cung cầu ngoại hối trên thị
trờng. Tuy nhiên ở nhiều nớc NHTW đóng vai trò điều tiết tỷ giá để thực hiện mực
tiêu của chính sách kinh tế. Nếu NHTW muốn xác lập một tỷ giá ổn định nghĩa là
giữ cho tỷ giá không tăng, không giảm, thì NHTW hoặc mua vào số ngoại tệ từ nớc
ngoài chuyển vào trong nớc làm cho quỹ dự trữ ngoại hối tăng lên tơng ứng, hoặc
NHTW sẽ bán ngoại tệ ra để đáp ứng nhu cầu của thị trờng khi có luồng ngoại tệ
chảy ra nớc ngoài, quỹ dự trữ ngoại hối giảm đi tơng ứng.
III.cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái
1.Khái niệm tỷ giá.
Ngời ta có thể định nghĩa về tỷ giá theo các cách sau đây:
- Tỷ giá là tỷ lệ về giá trị giữa 2 đồng tiền với nhau.
- Tỷ giá là giá cả đơn vị tiền tệ của một nớc đợc biểu hiện bằng giá tiền tệ
của một nớc khác.
- Tỷ giá là tỷ lệ chuyển đổi của một đồng tiền sang một đồng tiền khác.
Xét về mặt giá trị, tỷ giá hối đoái là giá đơn vị tiền tệ đợc biểu hiện bằng tiền
tệ của nớc ngoài, là hệ số quy đổi của một đồng tiền sang một đồng tiền khác đợc
hình thành theo quan hệ cung cầu trên thị trờng.

6
2. Các loại chế độ tỷ giá hối đoái.
2.1 Chế độ tỷ giá cố định
Chế độ tỷ giá cố định là việc một quốc gia thực hiện việc điều hành tỷ giá theo

ơng mại quốc tế cũng nh phản ánh sát tơng quan về giá trị đồng tiền của quốc gia.
Tuy nhiên nó có một số nhợc điểm nh tỷ giá liên tục biến đổi và rất khó có thể kiểm
soát đợc, rủi ro trong kinh doanh về tỷ giá tăng, mức độ ổn định của giá trị đồng tiền
không cao khiến cho các hoạt động đầu t không phát triển việc thực hiện các chính
sách điều hành nền kinh tế có liên quan tới tỷ giá gặp nhiều khó khăn.
2.3.Chế độ thả nổi có quản lý
Hiện nay, hầu hết các nớc trên thế giới đều thực hiện chế độ tỷ giá thả nổi có
quản lý trừ Mỹ, Nhật, Canada. Các nớc trong khối cộng đồng chung Châu âu (EEC)
còn thực hiện chế độ thả nổi tập thể các đồng tiền của họ (thời kì đồng EUR cha lu
hành chính thức) đối với các đồng tiền ngoài khối nh USD, JPY, nhng vẫn duy trì tỷ
giá cố định đối với các đồng tiền trong khối. Chế độ tỷ giá thả nổi có quản lý tuy vẫn
do cung cầu quyết định, nhng khi nội tệ bị lên giá hay hạ giá quá mạnh thì Chính phủ
sẽ can thiệp để nội tệ không bị hạ giá quá thấp hay lên giá quá cao. Đây thực chất là
hình thức kết hợp của chế độ cố định và chế độ thả nổi hoàn toàn hoặc có thể gọi đây
là một chế độ điều hành tỷ giá trung gian. Nó vẫn duy trì vai trò của NHNN trong
điều hành tỷ giá nhng chỉ ở một mức độ vừa phải chứ không qúa nhiều nh trong chế
độ cố định, NHNN chỉ thực hiện can thiệp vào tỷ giá khi mà nó cảm thấy cần thiết
chứ nó không bị rằng buộc trách nhiệm neo giữ tỷ giá trong giới hạn biên độ nh trong
chế độ cố định. Cũng tơng tự chế độ này không nh chế độ thả nổi hoàn toàn mà vai
trò của Nhà nớc ở đây giúp cho tỷ giá không quá biến động tạo ra sự ổn định ở một
mức độ nào đó trong quan hệ với việc không can thiệp quá nhiều vào vấn đề tỷ giá.
Trong chế độ này thì NHNN can thiệp vào tỷ giá bằng cách tham gia thị trờng nh
một nhân vật của thị trờng, tuy nhiên cũng tuỳ mức độ của vấn đề tỷ giá mà NHNN
có thể có những mệnh lệnh chính sách áp đặt để thực hiện các quyết định điều hành
của mình.

8
Chế độ tỷ giá thả nổi có quản lý đem lại khá nhiều lợi ích nó cho phép khắc phục
các nhợc điểm của hai chính sách trên tuy nhiên việc áp dụng chính sách này rất dễ
dẫn đến việc thiên về chính sách tỷ giá cố định bởi vì các quyết định điều hành về tỷ

đồng tiền đợc các nớc khác giữ làm dự trữ chiếm một vị trí đặc biệt vì nó không bao
giờ phải can thiệp vào thị trờng ngoại hối và không hề phải gánh vác việc tài trợ cho
cán cân thanh toán của mình. Năm 1965, bắt đầu giai đoạn Mỹ tăng còng chiến tranh
quân sự ở Việt Nam, đây cũng chính là điểm xoá tan sự bình yên của hệ thống tiền tệ
thế giới, chính sách kinh tế vĩ mô của Mỹ giai đoạn này là sai lầm chính làm cho hệ
thống tỷ giá cố định tan rã. Chi phí quân sự ngày càng tăng lên, sự thâm thủng trong
ngân sách của Mỹ đã đa cục dự trữ liên bang Mỹ đến chỗ phải chọn một chính sách
tiền tệ mở rộng hơn nữa vào năm 1967 và 1968. Tình trạng lạm phát ở Mỹ đã đẩy
nhanh hiện tợng đầu cơ trên thị trờng, giá vàng giao động mạnh và ngày càng có xu
hớng tăng lên, đây là nguyên nhân chính mà NHTW các nớc đòi Mỹ đổi số Đôla tài
sản họ đang nắm giữ thành vàng. Điều này đã khiến Mỹ lo âu và là một trong nhiều
nguyên nhân dẫn đến quyết định phá giá đồng Đôla sau này. Mặt khác lạm phát ở
Mỹ gia tăng thì hậu quả chính là sự tăng lên tự động trong tốc độ tăng tiền và lạm
phát ở nớc ngoài khi NHTW các nớc mua đồng tiền dự trữ nhằm giữ vững tỷ giá hối
đoái, đồng thời mở rộng mức cung tiền của họ trong quá trình này. Sự tăng trởng tiền
tệ của Mỹ càng cao thì càng kích thích lạm phát trong và ngoài nớc, làm cho các
Chính phủ nớc ngoài ngày càng phải miễn cỡng nhập khẩu lạm phát của Mỹ thông
qua các tỷ giá hối đoái cố định.
Các kiến trúc s của hệ thống Bretton Woods từng hy vọng vào Mỹ, cho rằng
thành viên hùng mạnh nhất của nó có thể có tầm nhìn rộng hơn, xa hơn mục tiêu cục
bộ nớc mình và chấp nhận những chính sách hớng về sự phồn thịnh chung của nền
kinh tế thế giới. Song trên thực tế, mục tiêu tổng thể đó cha hẳn đợc Mỹ quan tâm, từ
nửa sau những năm 1960 Mỹ đã bắt đầu trút bỏ trách nhiệm đợc giao phó này, cũng
bắt đầu từ đó hệ thống tỷ giá cố định bị rạn nứt. Một loạt các cuộc khủng hoảng kinh

10
tế bắt đầu vào mùa xuân năm 1971 đã từng bớc dẫn đến việc từ bỏ các mối quan hệ
giữa USD với vàng lẫn tỷ giá hối đoái đô la cố định. Đến năm 1973 hệ thống hối đoái
cố định sụp đổ. Lạm phát toàn cầu và chế độ tỷ giá thả nổi chính thức đợc thiết lập.
Từ 1973 đến 1980 là giai đoạn tỷ giá đợc thả nổi hoàn toàn. Trong giai đoạn này


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status