Hình ảnh người phụ nữ qua 2 bài thơ "Tự tình" và"Thương vợ" doc - Pdf 19

Hình ảnh người phụ nữ qua 2 bài thơ "Tự tình" và
"Thương vợ"

Nữ sĩ Hồ Xuân Hương có chùm thơ “Tự tình” 3 bài.
Đây là bài thơ thứ nhất trong chùm thơ trữ tình ấy.
Vẫn là thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật đã Việt
hoá một cách tài ba, có điều chùm thơ mang một
giọng điệu trữ tình th
ảm thiết, nhiều cay đắng tủi hờn,
phản ánh tâm trạng của một ngư
ời phụ nữ quá lứa lỡ
thì, duyên ôi phận ẩm. Bài thơ “Tự tình” này thể hiện

đậm nét cốt cách thi sĩ của Bà chúa thơ Nôm.

Tự tình nghĩa là tự phô bày, tự giãi bày những tình
cảm ẩn chứa trong lòng, tự mình thổ lộ cho mình
biết, cho mình hay. Tự tình mang tính hướng nội, n
ên
rất chân thực, sâu sắc và cảm động. Nội dung “Tự
tình” là tuổi tác và tình duyên.

Mở đầu bài thơ, hai đâu đề gợi ra một không gina
bao la, mờ mịt từ trên bom thuyền ở nơi dòng sông
đến khắp mọi chòm xóm, thôn làng. Người phụ nữ
thao thức suốt những canh dài. Tiếng gà gáy “văng
vẳng” như thế. Nghệ thuật lấy động (tiếng gà gáy) để
diễn tả cái tĩnh lặng vắng vẻ của đêm dài nơi làng

thảm thiết, xoáy sâu vào lòng người như m
ột lời than,
như một tiếng thở dài thương mình trong nỗi buồn
ngao ngán:

“Mõ thảm không khua mà cũng cốc,

Chuông sầu chẳng đánh cớ sao om?”

Có biết thời con gái, Hồ Xuân Hương đã có những
vần thơ tươi xinh, phơi phới như “Thân em v
ừa trắng
lại vừa tròn” (Bánh trôi nước). “Hai hàng chân ngọc
duỗi song song” (Đánh du)… ta mới thấy hết nõi
thảm sầu về bi kịch cô đơn của nữ sĩ được diễn tả tê
tái trong hai câu trong phần thực này.

Lời than tự tình trong cô đơn được khơi sâu trong
phần luận, để mà “rầu rĩ” thêm, giận hờn thêm cho
duyên phận hẩm hiu:

“Trước nghe” đối với “sau giận”; “tiếng” hô ứng với
“duyên”; “rầu rĩ” làm tâm trạng đối với “mõm mòm” là
trạng thái. “Trước nghe những tiếng…”, là những
tiếng gì? - Tiếng của miệng thế? Hay là tiếng g
à văng
vẳng gáy, tiếng “chuông sầu”, tiếng “mõ thảm” đang
“cốc”, đang “om” trong lòng mình? Giữa canh khuya
thao thức, càng nghe càng thêm “rầu rĩ”, buồn tủi.
Giữa lúc tàn canh thao thức, càng nghe càng “giận”,

“nói cứng” thể hiện một thái độ “bướng bỉnh”, một
bản lĩnh cứng cỏi trước ngang trái cuộc đời. Đọc
chùm thơ “Tự tình” cũng như tìm hiểu cuộc đời của
nữ sĩ, về mặt tình duyên, ta thấy hạnh phúc tình yêu
chưa một lần mỉm cười với Xuân Hương. Bài thơ
“Cảm cựu kiêm trình Cần chánh học sĩ Nguyên Hầu”
(Nhớ ngư
ời cũ, viết gửi Cần chánh học sĩ Nguyễn Du
- tước hầu) như một bóng quang âm soi tỏ một
“mảnh tình riêng” của “Bà chúa thơ Nôm”, giúp ta
cảm nhận bài thơ “Tự tình” này:

“Dặm khách muôn nghìn nỗi nhớ nhung,

Mượn ai tới đấy gửi cho cùng.

Chữ tình chốc đã ba năm vẹn,

Giặc mộng rồi ra nửa khắc không

Xe ng
ựa trộm mừng duyên tấp nập

Phần son càng tủi phận long đong

Biết còn mấy chút sương siu máy

Lầu nguyệt năm canh chiếc bóng chong”.

Bài thơ “Tự tình” – I gieo vần “om”, 5 vần thơ, vần


Có chồng hờ hững cũng như không!”

Trần Tế Xương l
ận đận trong thi cử, đi thi đến lần thứ
tám mới đậu được cái tú tài. Ông học giỏi nhưng ph
ải
cái ngông quá, thật ra thái độ ngông của ông là một
cách ông phản kháng lại chế độ thi cử lạc lậu, quan
trường “ậm ọc” lúc bấy giờ. Mà đậu được cái tú t
ài thì
rồi cũng làm “quan tại gia” thôi. Hồi đó phải đậu cử
nhân mới được bổ tri huyện. Thế là bà Tú gần như
phải nuôi chồng suốt đời. Ông Tú chỉ còn biết đem t
ài
hoa của mình mà ghi công cho bà Tú:

“Quanh năm buôn bán ở mom sống,

Nuôi đủ năm con với một chồng”.

Từ “mom” thật là hay, vừa thấy được nỗi gian truân
của bà Tú buôn bán quanh năm bên bờ sông Vị, vừa
thấy được tấm lòng của nhà thơ đối với việc buôn
bán khó nhọc của vợ. Từ “mom” là tổng hợp nghĩa
của các từ ven, bờ, vực, thềm, thành m
ột từ sáng tạo
của nhà thơ làm giầu thêm cho tiếng Việt. Bà Tú
buôn thúng bán bưng quanh năm ở “mom sông” mà
nuôi chồng, nuôi con:


Nếu như từ “lặn lội” được đảo ra phía trước chủ ngữ
để nhấn mạnh sự vất vả của bà Tú, thì từ “eo sèo”
gợi lên âm thanh hỗn tạp (tiếng kì kèo mặc cả, tiếng
cãi cọ tranh giành) của “buổi đò đông”. Hai tình
huống đối lập thật hay: “vắng” và “đông”. Người phụ
nữ gánh hàng lặn lội trên quãng đường vắng thật là
khổ. Mà đến chỗ “đò đông” thì thật là đáng sợ! Nghĩa
là nhìn từ phía nào, nhà thơ cũng thương vợ, tình
thương thấm thía, cảm động.

Sang hai câu luận, tác giả chuyển sang diễn tả nội
tâm của bà Tú, lời thơ như lời độc thoại của người
vợ:

“Một duyên hai nợ âu đành phận,

Năm nắng mười mưa dám quản công”

Nhân dân ta thường nói “vợ chồng là duyên nợ”. Nh
à
thơ Tú Xương đã chỉ từ ghép “duyên nợ” thành hai t

đơn: “duyên – nợ”. “Duyên” thì thiêng liêng rồi vì đã
có sự tham gia của đấng vô hình (ông Tơ bà
Nguyệt), còn “nợ” thì đã thành trách nhiệm nặng nề.
“Một duyên hai nợ” đã diễn tả được sự vận động
trong tâm trí của bà Tú. “Một duyên hai nợ âu đành
phận” là bà Tú đã thuận theo lòng trời và thuận theo
lòng người (tấm lòng của chính bà!). Nói gọn lại l


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status