Đất Nước qua dòng suy tưởng - Pdf 19

Đất Nước qua dòng suy tưởng của
nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm

Nguyễn Khoa Điềm khẳng định chân lí bằng một trực cảm thiên
tài để lí giải một cách cụ thể sinh động về sự khởi nguyên và phát
triển của đất nước qua hình tượng miếng trầu, cây tre. Những
hình tượng bình thường quen thuộc trong đời sống của nhân dân
Việt Nam, nhưng mãi cho đến khi Nguyễn Khoa Điềm phát biểu,
cái chân lí ngỡ là hiển nhiên đấy, người đọc lắng lại một khoảnh
khắc, sau đó ngớ ra bao điều thú vị

Trong những ngày tham gia kháng chiến chống Mỹ ở chiến
trường Trị Thiên, Nguyễn Khoa Điềm đã có những xúc cảm, suy
tư nồng thắm sâu sắc về đất nước về nhân dân trong quá trình
dựng nước và giữ nước. Từ đó, nhà thơ đi đến sự nhận thức
đúng đắn về vai trò trách nhiệm của thế hệ thanh niên trí thức -
những người chủ chân chính của đất nước, phải tham gia tích
cực vào cuộc kháng chiến của nhân dân để giải phóng dân tộc,
đưa đất nước đi xa hơn đến những tháng ngày mơ mộng.
Trường ca Mặt đường khát vọng hình thành trong bối cảnh ấy, và
có thể xem chương Đất Nước là nơi dồn nén cảm xúc và kết tinh
những suy tư có tính chân lý của Nguyễn Khoa Điềm về Đất
Nước và Nhân Dân, được chuyển tải qua những lời nghệ thuật
dung dị, lại có khả năng truyền cảm sâu sắc đến bao thế hệ độc
giả.
Mở đầu cho dòng suy tưởng, Nguyễn Khoa Điềm nhận thức về
sự tồn tại lâu dài của đất nước trong suốt "thời gian đằng đẵng"
bốn ngàn năm văn hiến. Thi nhân khẳng định:

Khi ta lớn lên đất nước đã có rồi
Đất nước có trong những cái "ngày xửa ngày xưa“ mẹ thường

Những hình tượng bình thường quen thuộc trong đời sống của
nhân dân Việt Nam, nhưng mãi cho đến khi Nguyễn Khoa Điềm
phát biểu, cái chân lí ngỡ là hiển nhiên đấy, người đọc lắng lại
một khoảnh khắc, sau đó ngớ ra bao điều thú vị. Bởi lẽ, thẩm
thấu vào các tế bào mỏng manh ấy, là những mối quan hệ tình
nghĩa truyền thống đẹp của con người Việt Nam.Trong tục cúng
lễ, miếng trầu quả cau là biểu tượng cho tấm lòng thành của con
cháu gửi đến hồn thiêng những bậc đã khuất, là nhịp cầu giao
cảm với tiền nhân. Miếng trầu gợi ra huyền sử tình yêu, nói lên
mối quan hệ vợ chồng chung thuỷ, nghĩa anh em Tân - Lang trọn
vẹn. Và có lẽ từ đó, miếng trầu trở thành vật biểu trưng cho tình
yêu và hôn nhân. Miếng trầu giúp dẫn mối tìm nhau, để cho con
người phải lứa nên duyên, là nhân tố tạo nên bao đôi uyên ương
chắp cánh chung cành. Để rồi khi họ về già, thong thả nhai miếng
trầu, nhớ buổi thanh xuân tình nồng nghĩa đượm, mà đột nhiên
nở nụ cười mãn nguyện chuyện tình xưa.

Nhà thơ lại liên tưởng song hành về sự lớn mạnh của đất nước
từ buổi "dân mình biết trồng tre mà đánh giặc". Đất nước Việt có
điều kiện thổ nhưỡng phù hợp tạo điều kiện cho cây tre sinh sôi
phát triển khắp mọi miền của Tổ Quốc, đem lại một màu xanh bát
ngát cho quê hương. Nguyễn Duy cũng từng trăn trở về những
phẩm chất kì lạ của cây tre Việt :

Tre xanh xanh tự bao giờ?
Chuyện ngày xưa đã có bờ tre xanh
Thân gầy guộc lá mong manh
Mà sao nên luỹ nên thành tre ơi?
Ở đâu tre cũng xanh tươi
Cho dù đất sỏi đất vôi bạc màu?


Thiếp nhớ chàng tấm phên hư nuộc lạt đứt
Chàng nhớ thiếp khi đắng nước nghẹn cơm
Ba trăng là mấy mươi hôm
Mai nam vắng trước chiều nồm quạnh sau.

Nguyễn Khoa Điềm lại có một cách nhìn thấu triệt theo thời gian
hao phí lao động để kết tinh một hạt gạo trắng trong. Nó phải trải
qua bao nắng sương vất vả gieo cấy, xay giã, giần sàng.Thắm
vào trong hạt gạo bé nhỏ ấy là mồ hôi vị mặn nhọc nhằn của giai
cấp nông dân. Nhiều người chỉ biết hưởng thụ hững hờ mà quên
đi lời dạy "ăn quả nhớ kẻ trồng cây", nên Nguyễn Khoa Điềm đã
khéo léo nhắc nhở chúng ta nhai hạt cơm dẻo nên nhớ đến công
lao của người làm ra nó, để không làm họ buồn lòng phải cất lời
nhắc nhở:

Ai ơi bưng bát cơm đầy
Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần.

Nguyễn Khoa Điềm thật tài tình, khi ông cụ thể hoá khái niệm đất
nước trừu tượng lớn lao cả về chiều "thời gian đằng đẵng", lẫn
"không gian mênh mông" vào trong những hình ảnh nhỏ bé như
hạt gạo, nhưng lấp lánh bao tầng ý nghĩa sâu sắc, có giá trị biểu
trưng những nét bản chất và tinh hoa của dân tộc, của Đất Nước
Việt Nam. Đề cập đến hạt gạo là nói đến nền kinh tế nông nghiệp
đặc trưng, được quy định bởi điều kiện thổ nhưỡng thuận lợi của
nước Việt. Nhân dân lao động gắn mình trong môi trường đất đai
từ đời này qua đời khác, sẽ định hình nên những nét cốt cách
của con người Việt . Họ yêu quý đất đến mức xem "Tấc đất tấc
vàng". Và vì vậy, họ sẵn sàng hiến thân vì non sông đất nước

mang theo hình ảnh con sông Đuống quê hương trong hồn với
dáng nghiêng nghiêng dài theo cuộc kháng chiến. Và khi sông
Đuống tạm thời bị quân giặc chiếm đóng, ông đau đớn bàng
hoàng đến mức thốt lên lời than nhức nhối: "Sao xót xa như rụng
bàn tay".

Nêu một địa chỉ hẹn hò mà thành Đất Nước nghe có vẻ mơ hồ,
nhưng nó là minh chứng của tình yêu, là khởi phát của một gia
đình, và có muôn nhà mới góp thành đất nước. Đó là mối quan
hệ biện chứng giữa gia đình và Tổ Quốc, là sự thống nhất liền
mạch mỗi tấc đất của quê hương, tồn tại trong "thời gian đằng
đẵng, không gian mênh mông".Trong ấy, bao thế hệ nối tiếp nhau
quản lí đất nước từ dãy Trường Sơn hùng vĩ - "Nơi con chim
phượng hoàng bay về hòn núi bạc” cho đến biển bờ Thái Bình
Dương vỗ sóng mênh mang - nơi "Con cá ngư ông móng nước
biển khơi". Nguyễn Khoa Điềm với một tình cảm tự hào, ông gợi
lại huyền sử lung linh về dòng dõi con Rồng cháu Tiên của dân
Lạc Việt gợi ra cái chất keo đồng bào huyết mạch - yếu tố tạo nên
tình đoàn kết "dân mình đoàn tụ” bên nhau đứng vững như
Trường Sơn thử thách với bao mưa gió của trời, của đời.

Những ai đã khuất
Những ai bây giờ
Yêu nhau và sinh con đẻ cái
Gánh vác phần người đi trước để lại
Dặn dò con cháu chuyện mai sau.
Hàng năm ăn đâu làm đâu
Cũng biết cúi đầu nhớ ngày giỗ Tổ.

Nguyễn Khoa Điềm trong chiều xúc cảm hướng nội, ông còn thấy

nước", lung linh trong cõi mênh mang sông núi Việt Nam ấy,
không ai khác là Nhân Dân bình dị, nhưng:

Họ đã sống và chết
Giản dị và bình tâm
Không ai nhớ mặt đặt tên
Nhưng họ đã làm ra Đất Nước.

Từ những ý niệm đúng đắn ấy nhà thơ đi đến một kết luận quan
trọng:

Đất nước này là Đất Nước của nhân dân
Đất Nước của Nhân Dân, Đất Nước của ca dao thần thoại.

Chân lí hiển nhiên là vậy nhưng không phải ai cũng ý thức.
Nguyễn Khoa Điềm nhắc lại và nhấn mạnh qua từ "Nhân Dân"
viết hoa trân trọng ấy, thiết nghĩ không thừa đối với những kẻ
phôi phai tình đất nước. Nhà thơ so sánh Đất Nước như một
dòng sông chảy mãi từ quá khứ cho đến tương lai trường tồn
cùng nhân loại. Trên dòng chảy ấy tất có những thác ghềnh,
nhưng điều ấy có hề chi khi nhân dân là người chèo lái con
thuyền Tổ quốc, thì nói như Bác Hồ: "khó vạn lần dân liệu cũng
xong". Thi nhân đã khép lại dòng suy tưởng của mình bằng một
giai điệu đầy lạc quan:' Ôi những dòng sông bắt nước từ đâu
Mà khi về Đất Nước mình thì bắt lên câu hát
Người đến hát khi chèo đò, kéo thuyền vượt thác
Gợi trăm màu trên trăm dáng sông xuôi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status