Đất Nước qua dòng suy tưởng của nhà
thơ Nguyễn Khoa Điềm Nguyễn Khoa Điềm khẳng định chân lí bằng một trực cảm thiên tài để lí giải
một cách cụ thể sinh động về sự khởi nguyên và phát triển của đất nước qua hình
tượng miếng trầu, cây tre. Những hình tượng bình thường quen thuộc trong đời
sống của nhân dân Việt Nam, nhưng mãi cho đến khi Nguyễn Khoa Điềm phát
biểu, cái chân lí ngỡ là hiển nhiên đấy, người đọc lắng lại một khoảnh khắc, sau đó
ngớ ra bao điều thú vị
Trong những ngày tham gia kháng chiến chống Mỹ ở chiến trường Trị
Thiên, Nguyễn Khoa Điềm đã có những xúc cảm, suy tư nồng thắm sâu sắc về đất
nước về nhân dân trong quá trình dựng nước và giữ nước. Từ đó, nhà thơ đi đến sự
nhận thức đúng đắn về vai trò trách nhiệm của thế hệ thanh niên trí thức - những
người chủ chân chính của đất nước, phải tham gia tích cực vào cuộc kháng chiến của
nhân dân để giải phóng dân tộc, đưa đất nước đi xa hơn đến những tháng ngày mơ
mộng. Trường ca Mặt đường khát vọng hình thành trong bối cảnh ấy, và có thể xem
chương Đất Nước là nơi dồn nén cảm xúc và kết tinh những suy tư có tính chân lý của
Nguyễn Khoa Điềm về Đất Nước và Nhân Dân, được chuyển tải qua những lời nghệ
thuật dung dị, lại có khả năng truyền cảm sâu sắc đến bao thế hệ độc giả.
Mở đầu cho dòng suy tưởng, Nguyễn Khoa Điềm nhận thức về sự tồn tại lâu
dài của đất nước trong suốt "thời gian đằng đẵng" bốn ngàn năm văn hiến. Thi nhân
khẳng định:
Khi ta lớn lên đất nước đã có rồi
Đất nước có trong những cái "ngày xửa ngày xưa“ mẹ thường hay kể.
Âm hưởng của lời thơ lắng đọng như giọng kể chuyện tâm tình thủ thỉ giữa
những kẻ thân thương, gợi ra ở người nghe dòng liên tưởng trôi về một thời quá khứ
xa xăm, trong ấy trầm tích bao huyền sử tự hào về cuộc sống chiến đấu của cha ông.
Nhà thơ đã sử dụng thi pháp tuyệt vời ở câu thơ bỏ ngỏ. Sau trạng ngữ chỉ thời
gian "Ngày xửa ngày xưa" , lời kể của mẹ được chuyển sang cho người đọc tự liên
tưởng hình dung về bao hình tượng đẹp một thời làm xôn xao tuổi mộng vàng như
xanh bát ngát cho quê hương. Nguyễn Duy cũng từng trăn trở về những phẩm chất kì
lạ của cây tre Việt :
Tre xanh xanh tự bao giờ?
Chuyện ngày xưa đã có bờ tre xanh
Thân gầy guộc lá mong manh
Mà sao nên luỹ nên thành tre ơi?
Ở đâu tre cũng xanh tươi
Cho dù đất sỏi đất vôi bạc màu?
Cây tre hiền hậu trên mỗi làng quê. Nó như là sự đồng hiện những phẩm chất
đôi khi ngỡ là đối lập trong cốt cách con người Việt Nam: thật thà chất phác, đôn hậu
thuỷ chung, yêu chuộng hoà bình như cây tre mềm mại để hoá thành những vật dụng
xinh xắn trong cuộc sống con người: nhỏ nhắn như cây tăm, đôi đũa; êm ái như chiếc
nôi ru ta lớn lên vào đời; yên ổn vững chắc như "cái kèo cái cột thành tên", làm nên
ngôi nhà tổ ấm cho mọi gia đình đoàn tụ bên nhau; siêng năng tích góp mỡ màu dồn
thành sự sống như Nguyễn Duy so sánh:
Rễ siêng không ngại đất nghèo
Tre bao nhiêu rễ bấy nhiêu cần cù.
Đến khi cả dân tộc lên đường ra trận, quyết giành lại độc lập tự do, thì tre cũng
đứng thẳng hiên ngang bất khuất cùng chia lửa với dân tộc Việt , thậm chí "một cây
chông cũng tiến công giặc Mỹ ", bởi "nòi tre đâu chịu mọc cong, chưa lên đã nhọn
như chông lạ thường".
Từ những giá trị vật chất bình dị thân quen, Nguyễn Khoa Điềm gắn dòng suy
tưởng đến con người ngàn đời cư trú, lao động, chiến đấu trên mảnh đất Việt để giữ
gìn tôn tạo mảnh đất thân yêu. Đó không ai khác là những người mẹ, người cha một
đời kính trọng thuỷ chung, "thương nhau bằng gừng cay muối mặn". Tình cảm chân
thành ấy không phải là lớp son phấn với "sắc màu lộng lẫy, sáo ngữ ồn ào", mà là
những nét duyên như búi tóc mẹ bới sau đầu gọn gàng ý nhị, đủ để làm cho con tim
xao xuyến khi gần nhau, và khi xa thì không bao giờ nguôi ngoai nhung nhớ, để rồi họ
bật lên những câu ca dao nghe như muối xát tâm can:
Thiếp nhớ chàng tấm phên hư nuộc lạt đứt
không hề là một tình cảm thuần tuý mơ hồ đã thuộc về quá khứ. Nguyễn Khoa Điềm
giải thích một cách đơn giản:
Đất là nơi anh đến trường
Nước là nơi em tắm
Đất nước là nơi ta hò hẹn
Đất nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm.
Nhà thơ nhắc đến ngôi trường cái bến, một toạ độ lưu dấu kỷ niệm tình yêu.
Các địa danh ngỡ là rời rạc riêng tư, nhưng thực chất đó là linh hồn của Đất Nước, là
dấu ấn tình cảm sâu sắc của con người Việt . Ngôi trường là nơi cung cấp hành trang
tri thức cho mỗi chúng ta tự tin để làm chủ cuộc sống. Dòng sông không chỉ mang phù
sa màu mỡ làm xanh những cánh đồng mà là nguồn nước tắm mát đời ta, gắn bó đến
mức như Hoàng Cầm mang theo hình ảnh con sông Đuống quê hương trong hồn với
dáng nghiêng nghiêng dài theo cuộc kháng chiến. Và khi sông Đuống tạm thời bị quân
giặc chiếm đóng, ông đau đớn bàng hoàng đến mức thốt lên lời than nhức nhối: "Sao
xót xa như rụng bàn tay".
Nêu một địa chỉ hẹn hò mà thành Đất Nước nghe có vẻ mơ hồ, nhưng nó là
minh chứng của tình yêu, là khởi phát của một gia đình, và có muôn nhà mới góp
thành đất nước. Đó là mối quan hệ biện chứng giữa gia đình và Tổ Quốc, là sự thống
nhất liền mạch mỗi tấc đất của quê hương, tồn tại trong "thời gian đằng đẵng, không
gian mênh mông".Trong ấy, bao thế hệ nối tiếp nhau quản lí đất nước từ dãy Trường
Sơn hùng vĩ - "Nơi con chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc” cho đến biển bờ Thái
Bình Dương vỗ sóng mênh mang - nơi "Con cá ngư ông móng nước biển khơi".
Nguyễn Khoa Điềm với một tình cảm tự hào, ông gợi lại huyền sử lung linh về dòng
dõi con Rồng cháu Tiên của dân Lạc Việt gợi ra cái chất keo đồng bào huyết mạch -
yếu tố tạo nên tình đoàn kết "dân mình đoàn tụ” bên nhau đứng vững như Trường Sơn
thử thách với bao mưa gió của trời, của đời.
Những ai đã khuất
Những ai bây giờ
Yêu nhau và sinh con đẻ cái
Gánh vác phần người đi trước để lại
Giản dị và bình tâm
Không ai nhớ mặt đặt tên
Nhưng họ đã làm ra Đất Nước.
Từ những ý niệm đúng đắn ấy nhà thơ đi đến một kết luận quan trọng:
Đất nước này là Đất Nước của nhân dân
Đất Nước của Nhân Dân, Đất Nước của ca dao thần thoại.
Chân lí hiển nhiên là vậy nhưng không phải ai cũng ý thức. Nguyễn Khoa
Điềm nhắc lại và nhấn mạnh qua từ "Nhân Dân" viết hoa trân trọng ấy, thiết nghĩ
không thừa đối với những kẻ phôi phai tình đất nước. Nhà thơ so sánh Đất Nước như
một dòng sông chảy mãi từ quá khứ cho đến tương lai trường tồn cùng nhân loại. Trên
dòng chảy ấy tất có những thác ghềnh, nhưng điều ấy có hề chi khi nhân dân là người
chèo lái con thuyền Tổ quốc, thì nói như Bác Hồ: "khó vạn lần dân liệu cũng xong".
Thi nhân đã khép lại dòng suy tưởng của mình bằng một giai điệu đầy lạc quan:'
Ôi những dòng sông bắt nước từ đâu
Mà khi về Đất Nước mình thì bắt lên câu hát
Người đến hát khi chèo đò, kéo thuyền vượt thác
Gợi trăm màu trên trăm dáng sông xuôi
Tiếng hát của Nguyễn Khoa Điềm cất lên trong thời gian khó bởi cuộc chiến
tranh chống Mỹ chưa thành, nhưng lịch sử luôn như dòng nước chảy xuôi ; vấn đề là
con người "biết trồng tre đợi ngày thành gậy, đi trả thù mà không sợ dài lâu" .
Hôm nay, nhìn lại Đất Nước vẹn tròn to lớn, dù kinh tế còn khó khăn, nhưng
chúng ta lại có sức mạnh của độc lập tự do làm tiền đề căn bản, có nhân dân sáng tạo
anh hùng, chắc chắn lớp con cháu hôm nay "sẽ mang Đất Nước đi xa, đến những
tháng ngày mơ mộng" trong một tương lai không xa, để Nhân Dân từng chịu quá
nhiều vất vả nhọc nhằn trong quá khứ có được cuộc đời hạnh phúc trong bầu không
khí hoà bình thắm tình hữu nghị.