96
Phản ứng của xã hội đối với sự suy thoái đất là bảo tồn đất, có thể đưa ra các phương pháp
có thể kiểm soát hoặc ngăn chặn sự thoái hóa đất. Mục đích của bảo tồn đất là duy trì sự hoạt
động của sinh vật liên tục và lâu dài trong đất, hạn chế mức độ suy thoái đất. Trong thực tế,
bảo tồn đất và nước là một trong những thách thức to lớn.
Đã có những giải pháp công bố và
đưa vào thực tiễn, tuy nhiên đễ làm sao áp dụng tốt và có những giải pháp thích hợp cho
từng quốc gia là vấn đề rất cần thiết.
Chính sách của nhà nước từ trung ương đến địa phương.
- Vấn đề về kinh tế xã hội.
- Tổ chức cuả các nông dân trực tiếp tham gia sản xuất.
- Các công ty xí nghiệp, các tổ chức đoàn thể.
-
Thị trường tiêu thụ.
- Giáo dục cộng đồng.
- Cộng đồng đô thị.
V.1.4.3 Sử dụng đất ở ĐBSCL
Trong các phần trước là những đánh giá về tiềm năng thoái hóa đất hiện tại của các nhóm
đất chính. Kết qủa cho thấy cần phải có những chính sách, biện pháp cụ thể và phù hợp trong
sử dụng và quản trị đất đai. Bởi lẽ, tiế
n trình đất cũng diễn biến như chu kỳ sống của con
người: phát sinh (sinh ra), phát triển (lớn lên), thuần thục (trưởng thành) và bạc màu, cằn cổi
(già đi). Đối với đất ĐBSCL cần chú ý một số điểm trong sử dụng như sau:
- Hiện tại, nhóm đất phù sa đang còn màu mỡ chưa có những trở ngại đáng kể, cần
được vun bón, làm đất và có thời gian để đất phụ
c hồi. Nên bố trí mùa vụ và loại cây
trồng khác nhau (thí dụ: lúa được luân canh với đậu chẳng hạn) để cải thiện độ phì
của đất và có thể sử dụng tiềm năng phì nhiêu của đất được lâu dài.
- Cần bón phân hữu cơ, phân chuồng, phân xanh và làm bờ thửa cho nhóm đất phù sa
cổ có địa hình cao để tăng độ phì nhiêu cho đất và hạn chế sự xói mòn do nước mưa
các nước tăng nhanh, Tuy nhiên, quá trình tăng trưởng kinh tế cũng đồng thời tăng sử dụng tài
nguyên thiên nhiên, ô nhiễm môi trường và suy giảm sinh thái (Mc. Loughlin & Bellinger,
1995). Hệ sinh thái là cơ sở tồn tại của sự sống trên hành tinh chúng ta, trong đó có loài người.
Các hệ sinh thái đảm bảo sự vậ
n hành của các chu trình địa hoá, thuỷ hoá, chúng duy trì sự ổn
định, màu mỡ của đất, nước, làm giảm nhẹ sự ô nhiễm và giảm nhẹ thiên tai.
Các quần xã sinh vật (gồm động vật, thực vật và vi sinh vật) đóng vai trò rất quan trọng
trong việc bảo vệ rừng đầu nguồn, đặc biệt là thảm thực vật có thể làm giảm nhẹ thiên tai:
hạn hán, lũ lụt cũng như duy trì chất lượng nướ
c. Việc huỷ hoại rừng do khai thác gỗ, khai
hoang làm nông – công – ngư nghiệp cũng như các hoạt động khác của con người trong quá
trình phát triển kinh tế làm cho tốc độ xói mòn, sạt lở đất, hoang mạc hoá đất đai tăng lên rất
nhanh. Đất bị suy thoái khiến thảm thực vật khó có thể phục hồi càng gia tăng các thảm hoạ
thiên nhiên…gây ô nhiễn môi trường đất, nước không khí.
Quần xã thực vật có vai trò quan trọng trong việc đi
ều hoà khí hậu địa phương, khí hậu vùng
và toàn cầu: tạo ra bóng mát, khuyếch tán hơi nước, giảm nhiệt độ không khí khi thời tiết
nóng bức, giảm sự mất nhiệt khi khí hậu lạnh giá, điều hoà nguồn oxy và cacbonic cho môi
trường trên cạn cũng như dưới nước thông qua quá trình quang hợp…
Các quần xã sinh vật đặc biệt là các loại nấm và vi sinh vật có khả năng hấp thụ, phân huỷ
các chất ô nhiễm như kim loại n
ặng, thuốc trừ sâu và các chất thải nguy hại khác…
V.1.5. Quản lý tài nguyên đất
V.1.5.1 Thu thập dữ liệu gốc về tài nguyên đất
Đây là việc làm tối cần thiết, là số liệu gốc và nền tảng cho việc thẩm định và đánh giá
nguồn tài nguyên đất. Đánh giá tài nguyên đất đai hiện nay có thể được tiến hành dựa trên
các kỹ thuật tin học như: viễn thám, hệ thống thông tin địa lý, và mô hình hoá tài nguyên đất
V.1.5.2 Phân loạ
i đất
Những tham khảo ban đầu
Khảo sát cơ bản
Phân loại đất định tính
Phân tích kinh tế xã hội
Phân loại đất đai định lượng
Những quyết định cho qui
hoạch
99
Dựa vào hệ thống phân loại của Mỹ có các loại đất sau:
- Loại I: đất đai có hạn chế không đáng kể, không thu hẹp khả năng sử dụng đất
loại này.
- Loại II: đất có một số rất ít hạn chế, hơi thu hẹp khả năng lựa chọn cây trồng hoặc cần
có biện pháp kỹ thuật bảo vệ đất.
- Loạ
i III: đất có nhiều hạn chế nghiêm trọng, khả năng chọn lựa cây trồng bị thu hẹp,
dinh dưỡng, làm tăng độ màu mỡ của đất. Đất phì nhiêu, tơi xốp sẽ thấm tốt, giữ nước tốt và
hạn chế xói mòn. Vùng bãi triều ven biển có các rừng sú, vẹt, đước, vừa chắn sóng, vừa giữ
phù sa, làm cho bờ biển không những không bị xói, mà còn được bồi đắp và tiến ra phía
trước (Bùi Thị Nga, 2005).
Theo tính toán của các nhà khoa h
ọc, các hàng cây với khoảng cách phù hợp sẽ cản được
30% tốc độ gió và có khả năng bảo vệ phạm vi đất đai gấp hơn 2 lần chiều cao của cây. Ở
100
những nơi có gió cát và hạn hán nghiêm trọng, việc trồng những hàng cây phi lao ngăn gió
cát rất có tác dụng cải thiện môi trường sinh thái đất đai.
Rừng là chiếc ô bảo vệ mặt đất. Khi trời mưa, do tán lá cây hứng đỡ nên nước mưa không trực
tiếp xối xuống mặt đất, điều này có ý nghĩa rất lớn đối với việc phòng chống xói mòn. Thực tế
cho thấy, nếu nước mưa tr
ực tiếp xối vào mặt đất thì mỗi năm một hecta đất trồng hoa bị xói
mòn 20 tấn, đất trồng cỏ bị xói mòn 1 tấn, trong khi đó đất trồng rừng chỉ bị xói mòn 0,1 tấn.
Mặt đất trong rừng có nhiều cành và lá cây khô, nước mưa rơi xuống mặt đất không thể xối
thẳng vào đất, cũng không thể chảy nhanh mà ngầm chảy từ từ. Đó là vật cản quan trọng khi
ến
mưa to không gây ra lũ lụt và rất có ích đối với việc bảo vệ đồng ruộng, nhà cửa.
Hiện nay, trên thế giới lượng khí cacbonic thải ra ngày một tăng. Biện pháp duy nhất để giải
quyết vấn đề này là trồng nhiều cây xanh, vì cây xanh có khả năng hấp thụ khí cacbonic.
Trung bình 1 hecta cây tán lá rộng có thể hấp thụ được 1 tấn khí cacbonic/ngày và nhả ra
730kg khí oxy. Lượng khí cacbonic do 1 người thải ra trong 1 ngày sẽ được 10m
2
cây xanh
hút hết. Ngoài ra cây xanh còn hấp thụ tiếng ồn, hấp thụ một số chất ô nhiễm trong không
khí và một số nguyên tố kim loại nặng trong đất.
V.2. MÔI TRƯỜNG NƯỚC
hàm lượng kim loại nặng gia tăng theo thời gian. Ở
ĐBSCL những năm gần đây, do đẩy mạnh
thâm canh tăng vụ, người nông dân tìm mọi cách để khai thác giúp cho năng suất ngày càng
cao, vả lại do ý thức kém nên họ sử dụng nhiều loại hóa chất và nông dược độc hại gây ảnh
hưởng không nhỏ đến đời sống người dân quanh vùng, hay gây độc đối với các loài thủy sinh. Hình 5.11 Mương chứa nước tưới cho rau xà lách xoong thông với sông rạch lân cận (Lâm
Quốc Việt, 2008)
102
V.2.2.3 Nước thải từ khu dân cư
Là nước thải từ các hộ gia đình, bệnh viện, khách sạn, trường học (Hình 5.12)
Hình 5.12 Bể chứa nước thải tại Bênh viện Đa Khoa Trung ương Cần Thơ (Bùi Thị Nga
& ctv, 2008)
Đặc điểm cơ bản của nước thải sinh hoạt là hàm lượng các chất hữu cơ không bền vững cao,
dễ bị phân hủy sinh học như cacbonhydrat, protein, chất dinh dưỡng (phospho, nitơ), nước ô
nhiễm có hàm lượng hữu cơ cao nên thường có màu đen (Hình 5.13). Tuy nhiên, trong thực
tế khối lượng trung bình của các tác nhân này do con người là khác nhau. Hàm lượng các tác
nhân ô nhiễm trong nước thải sinh hoạt còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố: chất lượng b
ữa ăn,
lượng nước sử dụng & hệ thống tiếp nhận thải. Khi nước thải chưa xử lý đưa vào kênh rạch
sẽ gây ô nhiễm nguồn nước chủ yếu có các biểu hiện chính là: gia tăng hàm lượng chất rắn
lơ lửng, gây ra hiện tượng phú dưỡng hóa dẫn tới ảnh hưởng tiêu cực với việc cấp nước cho
các mục đích khác nhau, gia tăng mùi hôi và nhiều vi trùng.
nhiên. Ví dụ như việc cải tạo Đồng Tháp Mười bằng các biện pháp đào kênh, mương là
nguyên nhân gây gia tăng mức độ axit hóa của các con sông tại chỗ và lân cận.
V.2.3 Tác nhân gây ô nhiễm
Có hàng ngàn các tác nhân gây ô nhi
ễm nguồn nước, để tiện lợi cho việc kiểm soát và khống chế
ô nhiễm nguồn nước, cho nên chia chúng thành các nhóm cơ bản như sau (Lê Huy Bá, 2002):
V.2.3.1 Các chất hữu cơ dễ bị phân hũy
Dạng này bao gồm cacbohydrat, protein, chất béo Đây là chất gây ô nhiễm phổ biến nhất
có trong nước thải từ khu dân cư, khu công nghiệp chế biến thực phẫm. Các chất này được
cấu tạo bởi các nguyên tố C, H, O, N & P, chúng nằm dướ
i dạng các hợp chất đa phân tử, có
cấu tạo phức tạp. Trong nước thải, các hợp chất này có phân tử lớn nên không thể thấm qua
màng vi sinh, để chuyển hóa các phân tử này, các vi sinh vật phải phân tách chúng thành
những mảnh nhỏ để có thể thấm qua tế bào.
V.2.3.2 Các chất hữu cơ bền vững
Các chất hữu cơ có độc tính cao thường là các chất bền vững, khó bị phân hũy bởi vi sinh
vật. Một s
ố có tác dụng tích lủy & tồn tại lâu dài trong môi trường nước & trong cơ thể thủy
sinh vật nên gây ô nhiễm lâu dài, đồng thời tác hại đến hệ sinh thái nước. Các chất này
thường có trong nước thải công nghiệp & nguồn nước chảy tràn từ các vùng nông, lâm
nghiệp sử dụng nhiều thuốc trừ sâu, thuốc kích thích sinh trưởng, thuốc diệt cỏ Ngoài ra
các chất này còn có độc tính cao đối với sinh vật trên cạn & con người.
104
V.2.3.3 Kim loại nặng
Hầu hết các kim loại có độc tính cao đối với con người, các loại động vật có vú tôm, và cá.
Các kim loại nặng thường có trong nước thải công nghiệp như chì (Pb), thủy ngân (Hg),
Crom (Cr), Cadmium (Cd), Asenic (As), và Mangan (Mn).
- Chì (Pb): Chì có trong nước thải của ngành luyện kim, sản xuất pin- acqui, hóa dầu. Chì
4
3-
, Na
+
, K
+
, trong nước thải công
nghiệp ngoài các ion này còn có các chất vô cơ có độc tính cao như: Hg, Pb, Cd, As, F
V.2.3.5 Dầu mỡ
Dầu mỡ là chất lỏng, khó tan trong môi trường nước, tan trong dung môi hữu cơ. dầu
mỡ có thành phần hóa học rất phức tạp. Các loại dầu nhiên liệu sau khi tinh chế (dầu DO,
FO) & một số sản phẩm dầu mỡ còn chứa các chất độc như hydrocacbon thơm đa vòng
(PAH), Polyclobiphenyl (PCB), kim loại (chì). Do đó dầu mỡ có độc tính cao và tươ
ng đối
bền vững trong môi trường nước. Hầu hết các loài thực, động vật đều bị tác hại do dầu mỡ.
Hàng loạt những sự cố dầu tràn trên thế giới và Việt Nam trong những năm qua đã chứng
minh cho những tác động nghiêm trọng của dầu mỡ đối với môi trường.
V.2.3.6 Các chất phóng xạ
Trong môi trường luôn tồn tại một lượng phóng xạ do hoạt dộng của con ngườ
i như đốt
nhiên liệu, hoặc từ nguồn đất, đá, núi lửa tạo ra. Các sự cố phóng xạ có khả năng gây hại
nghiêm trọng đến con người và sinh vật chủ yếu do nổ hoặc rò rỉ các lò phản ứng nguyên tử
hạt nhân (sự cố Chernobyl ở Ucraina vào tháng 4 năm 1986, gây chết hàng trăm người và
105
hàng vạn người bị nhiễm phóng xạ), việc sử dụng bom hạt nhân, hay các vụ thử bom hạt
nhân ở các đảo Nam Thái Bình Dương, Trung Á Bức xạ hạt nhân có khả năng gây chết
người ở cường độ cao, khi ở cường độ thấp chúng có khả năng gây tác động mãn tính, gây
hại đến nhiễm sắc thể, gây ung thư, hại phôi thai, ảnh hưởng đến di truyền. Bức xạ hạt nhân
còn có khả năng tích l
ường
Nồng độ chất ô nhiễm phụ thuộc vào các yếu tố liên quan đến phương thức phóng thải chất ô
nhiễm như sau:
V.2.4.1 Dạng nguồn ô nhiễm
- Nguồn điểm: là các nguồn gây ô nhiễm có thể xác định được vị trí, kích thước, bản
chất, lưu lượng phóng thải tác nhân gây ô nhiễm. Các điểm nguồn chủ yếu là: ống
khói nhà máy, cống xả nước thải, giàn khoang dầ
u khí, lò phản ứng hạt nhân
- Nguồn không điểm: là các nguồn gây ô nhiễm không có điểm cố định, không xác
định được vị trí, bản chất, lưu lượng các tác nhân gây ô nhiễm. Nguồn không điểm có
khả năng phát tán xa hơn, rộng hơn & khó quan trắc hơn so với nguồn điểm. Ví dụ
như chất ô nhiễm được phát tán từ gió, mưa hoặc từ nước mưa chảy tràn
106
V.2.4.2 Thành phần của chất ô nhiễm
Thành phần của chất ô nhiễm có vai trò quan trọng đối với độ bền vững và khả năng
tác động đến sinh vật. Nhiều chất độc không sử dụng ở dạng tinh khiết mà pha trong dung
dịch hữu cơ hoặc ở dạng chất độn để tăng khả năng thấm vào cơ thể sinh vật và tăng độ bền
vững trong môi trường. Ví d
ụ các loại thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, chất độc quân sự
Nhiều chất ô nhiễm bản thân có độc tính không cao nhưng có chứa các tạp chất và các tạp
chất này dù hàm lượng thấp nhưng có độc tính cao với hệ sinh thái và con người.
V.2.4.3 Tính chất vật lý của chất ô nhiễm
- Độ tan: chất có độ tan trong nước cao (các muối dinh dưỡng NH
4
+
, NO
3
-
, các ion kim
N + O
2
CO
2
+ H
2
O + NH
3
(C
4
H
10
O
3
N: công thức dùng chung của chất ô nhiễm trong nước thải sinh hoạt).
Nhiều chất hữu cơ đa vòng ngưng tụ như dioxin, DDT, 2,4-pyren khó bị thủy phân, oxy hóa
nên tồn tại lâu trong môi trường và cơ thể sinh vật.
V.2.4.5 Ảnh hưởng của các yếu tố môi trường đến độ bền vững của chất ô nhiễm:
Các tính chất của môi trường nước ảnh hưởng rất lớn đến sự biến đổi & t
ồn lưu của các chất
ô nhiễm trong môi trường.
107
- Diện tích bề mặt, dòng chảy & độ sâu của dòng sông: ảnh hưởng trực tiếp đến sự pha
loãng và phân hủy chất ô nhiễm, đặc biệt là các chất hữu cơ không bền vững. Dòng
sông có dòng chảy mạnh, lưu lượng lớn, độ sâu nông và bề mặt lớn thì khả năng tự
làm sạch cao đối với các chất các chất ô nhiễm hữu cơ do khả năng thông thoáng
không khí tốt, tạo đi
ều kiện cho các vi sinh vật phân hủy nhanh các chất hữu cơ.
dụng qui định là các cơ sở sản xuất phải có giấy phép thải nước mới được thải n
ước vào hệ
thống thoát nước chung ở đô thị và khu CN (Trần Thanh Xuân, 2004). Các giấp phép này
được xét cấp cho mỗi thời kỳ là 5 năm và sau đó phải được cấp giấy phép mới thì mới tiếp
tục xả thải. Ở các nước như Anh và Hà Lan thì mỗi 2 năm được cấp giấy phép mới. Các cơ
sở vi phạm có thể bị xử phạt từ nhẹ đến nặng như: khiển trách, cảnh cáo, x
ử phạt, thu hồi
giấy phép, tạm ngưng sản xuất hoặc phải đóng cửa nhà máy. Công cụ này tỏ ra đắc lực trong
công tác QLMT nước mặt
V.2.6.1.2 Phối hợp chặt chẽ nhịp nhàng
Cần có sự phối hợp chặt chẽ và nhịp nhàng giữa các cơ quan và các cấp chính quyền địa
phương trong QLMT nước, phân công và phân nhiệm rỏ ràng. Tiến hành kiểm tra sự tuân
thủ các qui định và các tiêu chuẩn môi trường đối vớ
i tất cả các nguồn thải gây ONMTN.
Trong nhiều trường hợp khi giải quyết vấn đề ô nhiễm nên có sự phối hợp đồng bộ với các
địa phương với nhau, giữa các tỉnh thành, đôi khi ở cấp vùng.
108
V.2.6.1.3 Đình kỳ quan trắc
Tiến hành quan trắc định kỳ chất lượng MTNM, phát hiện kịp thời những nơi bị ô nhiễm
trầm trọng và đề nghị biện pháp để ngăn chặn ô nhiễm. Cần phân tích nguyên nhân gây ôn
nhiễm chính xác thì mới có thể khắc phục được. Ví dụ ô nhiễm nông dược trong quá trình
sản xuất nông nghiệp, lúc này phải phối hợp với cơ quan chức năng để xem xét nơi nào đ
ã
sử dụng nông dược quá mức, loại gì đã sử dụng…Nếu ô nhiễm do hoạt động công nghiệp thì
phải xác định cụ thể nguồn thải từ nhà máy xí nghiệp nào? cần phạt xử phạt đúng lúc và kịp
thời các xí nghiệp vi phạm, dùng công cụ pháp lý để cưỡng chế họ áp dụng kỹ thuật xử lý
nước thải
Trong nhiều trường hợp, ONMT đô thị do dân cư quanh vùng kém ý thứ
c, vứt bừa bải rác
chất ON đều phải trả phí thải nước. Phí này chính là phí mua quyền sử dụng môi
trường tiếp nhận các chất ô nhiễm xả thải. Ở Hà lan nhờ có biện pháp này mà lượng
chất thải đưa vào môi trường giảm từ 50-70% ở lĩnh vực công nghiệp
- Phí ngườ
i sử dụng, loại phí này áp dụng cho các mỗi hộ gia đình mặc dù rất khó xác
định lượng xả thải ô nhiễm cho mỗi hộ. Phí này được tính trên lượng nước cấp tiêu
dùng cho mỗi hộ hay dựa vào giá trị bất động sản của ngôi nhà. Loại phí này đã góp
phần tiết kiệm lượng nước sử dụng ở các khu dân cư.
V.2.6.1.7 Loại bỏ bùn thải
Hoạt động xử lý nước thải ngày càng tăng s
ẽ làm tăng lượng bùn thải ở thành phố. Lượng
này nếu không quản lý tốt sẽ gây nguy cơ gây ONMT. Thường bùn thải sẽ được loại bỏ ở
các khu chôn lấp bùn hoặc được sử dụng trong nông nghiệp để làm dinh dưỡng cho cây,
nhưng cần phải chú ý hàm lượng kim loại nặng trong bùn thải và vi trùng gây bệnh.
V.2.6.1.8 Thoát nước mưa
Vào mùa mưa nhiều đô thị bị ngập úng gây ONMT và làm cản trở giao thông, gây thiệt hại rất
lớn về KTXH. Vì vậy thoát nước mưa và chống ngập úng trong mùa mưa đối với đô thị có ý
nghĩa rất quan trọng về mặt MT & KTXH. Để đảm bảo thoát nước cần phải biết rỏ nguyên
nhân gây ngập úng để từ đó có biện pháp khắc phục hiệu quả. Có một vài nguyên nhân:
- Thiếu sót trong thiết kế xây dựng có thể hệ thống thoát nước quá nhỏ.
- Diện tích ao hồ b
ị thu hẹp làm mất khả năng điều hoà nước mưa.
- Độ cao mặt nền đô thị mới cao hơn đô thị cũ
- Hệ thống thoát nước mưa bị bồi lắng nên giảm khả năng thóat nước so với ban đầu
V.2.6.2 Quản lý nước ngầm
- Kiểm tra định kỳ lưu lượng và chất lượng nước ngầm để kịp th
ời tìm ra nguyên nhân
và giải pháp cho phù hợp.
- Kiểm soát khai thác nước ngầm, bất cứ sự khai thác nước ngầm nào cần phải có giấy
phép, khai thác đúng kỹ thuật, hạn chế khai thác nước ngầm ở vùng ven biển để hạn
chặt chẽ các yếu tố này.
- Kiểm soát lũ: Việc cấp nước đồng thời đảm bảo chống lũ có thể là lý do quan trọng
nhất của các nỗ lực quản lý LVS. Cách tiếp cận quản lý tổng hợp LVS quan tâm đến
các vùng đầu nguồn và bảo vệ các vùng đất ngập nước.
- Kiểm soát bồi lắng: S
ự bồi lắng có thể ảnh hưởng đến chất lượng nước, sinh cảnh,
giao thông thuỷ, kiểm soát lũ và các dịch vụ du lịch, giải trí. Nó còn ảnh hưởng đến
các loài cá do bùn lắng trên lòng sông - nơi cần thiết cho chúng đẻ trứng, và che phủ
các sinh vật đáy quan trọng trong chuỗi thức ăn.
- Giao thông thuỷ: Các hoạt động giao thông thuỷ và dịch vụ cảng thường gây ô nhiễm
môi trường nước do việc xả d
ầu cặn và các chất thải có nguồn gốc dầu mỡ khoáng
cũng như chất thải sinh hoạt. Ngoài ra, vấn đề quan trọng nhất về mặt môi trường với
các hoạt động giao thông thủy là sự cố tràn dầu.
- Phát triển kinh tế với các công trình thuỷ điện - thuỷ lợi: Có thể thực hiện các mục tiêu
phát triển kinh tế bằng việc quản lý LVS. Ở Việt Nam ngay từ nhữ
ng năm 80, Nhà
nước đã đầu tư kinh phí xây dựng các hồ chứa để tích nước trong mùa mưa lũ và xả
nước trong mùa kiệt kết hợp với phát điện, điều tiết lưu lượng dòng chảy ở hạ lưu và
đẩy lùi ranh giới nhiễm mặn, đảm bảo nhu cầu cấp nước, nuôi cá, cải tạo môi trường.
- Đa dạng sinh học: lưu vực sông đặc biệt là nh
ững nơi ven sông là nơi cư trú cần thiết
và đa dạng cho nhiều quá trình và nhiều loài sinh vật, đây còn là nơi cung cấp mối
liên kết giữa hệ sinh thái thuỷ sinh với hệ sinh thái vùng cao. Chẳng hạn như, thảm
thực vật ven sông sẽ kiểm soát nhiều cơ chế môi trường của hệ sinh thái sông, và
111
đóng vai trò quan trọng trong việc quyết định lưu lượng, điều chỉnh dòng chảy cũng
như nhiệt độ sông. Các vùng đất ngập nước cũng đóng vai trò quan trọng tương tự
trong việc duy trì đa dạng sinh học và các quá trình trong LVS. Quản lý LVS có thể là
- Cố gắng tạo ra khung thoả thuận liên ngành nhằm đảm bảo các kế hoạch s
ẽ được thực
hiện dựa vào cách tiếp cận và mong muốn của các bên liên quan chứ không phải dựa
vào các luật lệ hay quy định.
- Xây dựng các biện pháp và tiêu chuẩn rõ ràng để kiểm tra và đánh giá hiệu quả của
việc quản lý LVS.
Nhìn chung, cách tiếp cận quản lý môi trường LVS này bao gồm 3 nét chính. Thứ nhất là sự
phát hiện vấn đề, phát hiện các mối đe doạ tiềm ẩn đối với sức khoẻ
con người và hệ sinh thái
trong lưu vực. Thứ hai là sự tham gia của các bên liên quan, đòi hỏi mọi người phải có sự
quan tâm thích đáng hoặc thích hợp nhất. Thứ ba là sự phối hợp hành động, đó là các nỗ lực
được thực hiện một cách tổng hợp và toàn diện một khi các giải pháp đã được quyết định.
Trong những năm gần đây, mặc dù những lợi ích của việc xây dựng kế
hoạch tổng hợp quản
lý LVS là rất lớn và được xây dựng trên nền tảng kỹ thuật tốt, nhưng việc thực hiện lại gặp
112
rất nhiều khó khăn. Tuy vậy, bất cứ chương trình quản lý LVS nào cũng đều cần tính đến và
phải vượt qua những trở ngại đó là:
- Việc lập kế hoạch quản lý LVS thường được tiến hành theo quá trình tĩnh và thường
được công thức hoá về mục tiêu cũng như lộ trình thực hiện. Điều này khó nhận được
sự đồng tình và chấp nhận của các đối tượ
ng khác nhau vì mục tiêu của họ cũng rất
khác nhau.
- Ranh giới LVS thường không trùng với ranh giới hành chính, do vậy khó khăn cho
việc thiết lập quyền lợi và nghĩa vụ của các bên liên quan đến LVS.
- Các mô hình cở sở để xây dựng kế hoạch thường dựa trên các cơ sở dữ liệu yếu do
vậy độ chính xác và tin cậy không cao.
Về thực chất, việc lập kế hoạch quản lý LVS là công việc r
ất phức tạp, nhất là khi tính đến
bỏ có thể tóm tắt qua sơ đồ dưới đây
113
V.2.8. Sử dụng nước và tái sử dụng nước
Ở Việt Nam nguồn nước ngọt có được nhờ vào nước mưa hằng năm, với đặc điểm lượng
mưa hằng năm từng vùng khác nhau, nơi cao tới hơn 2.000 mm, nơi thấp chỉ 600 - 700 mm;
nhưng lượng mưa đó không phân đều trong năm mà tập trung vào một số tháng trong năm,
trong tháng cũng chỉ tập trung vào mộ
t số ngày. Có những trận mưa hàng trăm ly trong ngày
gây nên lũ lụt và nạn xói mòn đất nghiêm trọng; đồng thời tình trạng mưa phân bố không
đều trong năm cũng gây nên những đợt hạn hán khắc nghiệt kéo dài. Vụ hạn từ cuối năm
2004 đến 2005 kéo dài tới mười tháng ở các tỉnh cực nam Trung Bộ và Tây Nguyên không
những đã gây nên thiệt hại to lớn cho sản xuất nông nghiệp mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng
đời sống củ
a cư dân trong vùng. Với những đặc điểm thiên nhiên và thiên tai kể trên, đòi hỏi
chúng ta muốn có nền sản xuất, nhất là nông nghiệp, bền vững và ổn định cuộc sống của
nhân dân, phải xây dựng một chiến lược sử dụng nước có cơ sở khoa học kết hợp kinh
nghiệm thực tiễn nhiều năm trên thế giới và trong nước để sử dụng nguồn nước tiế
một chương trình nghiên cứu xây d
ựng hệ thống giải pháp được bố trí thành hệ thống kế
hoạch, chia bước hằng năm, góp phần tăng trưởng kinh tế, bảo đảm sản xuất bền vững và ổn
định đời sống xã hội. Mỗi khi tạo được các công trình trữ nước lớn, nhỏ hay các đập tràn
dâng mức nước, cần có kế hoạch sử dụng có hiệu quả nguồn nước mới được tạ
o nên, lấy
hiệu quả kinh tế của bản thân nó để tạo điều kiện thực hiện tiếp kế hoạch của giai đoạn sau.
- Sử dụng nước hợp lý, phục vụ sản xuất và sinh hoạt. Cần hình thành một chương trình
nghiên cứu khoa học để làm cơ sở phân phối nguồn nước quý hiếm này cho các lĩnh vực sử
dụng như: cho cư dân thành thị và nông thôn, cho các ngành kinh tế qu
ốc dân.
- Chống ô nhiễm nguồn nước sạch, hiện tượng khá phổ biến ở nước ta hiện nay là sử dụng
nước lãng phí và làm ô nhiễm nguồn nước; đồng thời nước thải không xử lý càng làm tăng
mức độ ô nhiễm nguồn nước sạch. Nhiệm vụ trước mắt cũng như lâu dài là tăng cường tuyên
truyền, nâng cao dân trí về bảo vệ môi trường, bảo vệ nguồn nước sạ
ch, thực hiện các biện
pháp chống ô nhiễm nguồn nước sạch. Ba giải pháp trên bao gồm một hệ thống các giải
pháp mang tính tổng hợp, cần được tiến hành đồng bộ mới đạt được yêu cầu hỗ trợ lẫn nhau,
chi phí thấp, hiệu quả cao.
- Tái sử dụng nước thải trong sinh hoạt cũng như trong các lĩnh vực sản xuất để quay vòng
sử dụng nước nhằm tiế
t kiệm nguồn nước cho cộng đồng, không chỉ đem lại lợi ích về môi
trường mà còn giúp nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân ở những vung khan hiếm
nước hay thiếu nước sạch. Khái niệm tái sử dụng nước (TSDN) trong quá trình sản xuất và
sinh hoạt đã có từ rất lâu. Những hoạt động tái sử dụng đã góp phần làm giảm giá thành và
giúp giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường. Ngày nay, trong b
ối cảnh cạnh tranh khốc liệt,
vai trò của tái sử dụng như là nguồn cung cấp nguyên, nhiên vật liệu giá rẻ càng trở nên
quan trọng hơn. Nguồn nước đầu vào cho tái sử dụng nước có thể coi là vô tận, vì có sản
xuất là có nước thải và có cơ hội cho tái sử dụng. Mặc khác, tái sử dụng còn là một giải pháp