39
của 3 khu vực này chiếm 90% số dân tăng của toàn thế giới. Năm 1999 Châu Phi có RNI
=2,5%, Châu Mỹ La Tinh có RNI = 2,1%, Châu Á = 1,5%.
III.2.3 Sự phát triển và gia tăng dân số của Việt Nam
Theo tổng điều tra dân số và nhà ở ngày 1 tháng 4 năm 1999, dân số Việt Nam là 76,3 triệu
người, tăng 11,9 triệu so với tổng điều tra dân số 01/4/1989. Tỷ lệ tăng dân số bình quân hàng
năm thời kỳ 1989-1999 là 1,7%, giảm 0,5% so với thời kỳ 1979-1989; số con trung bình của
m
ột phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ đã giảm nhanh, từ 3,8 con năm 1989 xuống còn khoảng 2,3
con năm 1999 và có thể đạt mức sinh thay thế (khoảng 2,1 con trên một phụ nữ trong độ tuổi
sinh đẻ) vào năm 2005. Những con số này khẳng định kết quả giảm nhanh mức sinh trong
thập kỷ qua, nhất là từ khi triển khai thực hiện chiến lược DS - KHHGĐ đến năm 2000 theo
tinh thần Nghị quyết Hộ
i nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII về chính
sách DS- KHHGĐ. Kết quả đạt được của chương trình DS- KHHGĐ Việt Nam đã góp phần
đáng kể vào việc đẩy mạnh phát triển kinh tế- xã hội, xoá đói giảm nghèo, nâng cao chất
lượng cuộc sống và tăng thu nhập bình quân đầu người (GDP) hàng năm trong thập kỷ qua.
Mặc dù mức sinh giảm nhanh, nhưng qui mô dân số Việt Nam vẫn ngày một lớ
n do số dân
tăng thêm trung bình mỗi năm còn ở mức cao. Từ nay đến năm 2010, trung bình mỗi năm
dân số Việt Nam tăng thêm khoảng 1 triệu đến 1,1 triệu người. Vấn đề dân số bao gồm quy
mô, cơ cấu, chất lượng dân số và phân bố dân cư, là những thách thức lớn đối với sự phát
triển bền vững đất nước và nâng cao chất lượng cuộc sống cả hiện tại và trong t
ương lai.
Trong điều kiện kinh tế- xã hội Việt Nam ở thập kỉ đầu của thế kỷ 21, khi mức sinh đạt gần
mức thay thế, muốn duy trì được xu thế giảm sinh vững chắc, thì không thể chỉ tập trung giải
quyết vấn đề qui mô dân số như trong thời gian qua, mà cùng với giảm sinh phải giải quyết
đồng bộ, từng bước, có trọng điểm các vấn đề v
ề chất lượng, cơ cấu dân số và phân bố dân
diện quốc tế hàng năm thế giới sản xuất ra được 1,7 tỷ tấn lương thực / 6 tỷ người = 300
kg/người. Từ thập niên 60 các nước đang phát triển đã tiến hành cuộc cách mạng xanh. Tới
n
ăm1985 Ấn độ mới thoát đói. Như vậy nếu: RNI cuả toàn thế giới là 1,4%, thì số dân tăng
lên hàng năm là 77 triệu (một năm thế giới phải sản xuất thêm 25 triệu tấn mới đủ lương
thực đảm bảo cho cuộc sống của số người tăng thêm.
b) Việt Nam: đã thoát đói năm 1989, sau khi trả lại ruộng đất cho nông dân, chỉ một năm sau
VN đã có gạ
o xuất khẩu và đạt bình quân 300 kg lương thực/người/năm. Hiện VN sản xuất
được khoảng 40/ năm triệu tấn lương thực quy thóc và đứng đầu thế giới về xuất khẩu gạo.
Chúng ta đã đảm bảo được lương thực ăn, có quỹ cho chăn nuôi và tái đầu tư nhưng do lưu
thông kém nên từng vùng vẫn đói.
Tóm lại 1/3 số người trên trái đất thiếu ăn trong đó có 500 triệ
u người thiếu thường xuyên.
Thiếu ăn, suy dinh dưỡng làm cho sức khoẻ kém, bệnh tật nhiều, tuổi thọ trung bình thấp,
năng suất lao động giảm. Nếu ở nước ta RNI vẫn tiếp tục tăng cao thì bình quân lương thực/
người sẽ tiếp tục giảm không đáp ứng được nhu cầu của nhân dân.
III.3.2 Gia tăng dân số và tài nguyên - môi trường
Hiện nay số lượng dân hơn 5 tỷ của trái đất
đã trở nên quá tải đối với khả năng cung ứng cuả
môi trường tự nhiên. Người tăng nhưng đất không tăng, khả năng sản xuất của trái đất là có
hạn, khả năng của môi trường chịu đựng những tác động của con người cũng là có hạn. Nếu
41
ngày hôm nay chúng ta khai thác đến cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên và gây ô nhiễm môi
trường, thì không chỉ chúng ta, mà cả các thế hệ con cháu chúng ta trong tương lai sẽ không
còn gì để sống và phát triển (Nguyễn Văn Ngừng, 2004).
Con ngưới phải khai thác các loại tài nguyên để phục vụ cho cuộc sống hàng ngày (tạo ra
chất thải ngày một nhiều), thông qua hoạt động của mình con người làm cho môi trường bị ô
42
Dân số tăng nhanh, tài nguyên suy giảm, môi trường ô nhiễm đang là những vấn đề bức xúc.
Gia tăng dân số đang gây ra các áp lực từ các nguồn chất thải làm cho tình trạng ô nhiễm
môi trường tiếp tục gia tăng:
- Gia tăng chất thải rắn sinh hoạt, nước thải sinh hoạt, chất thải rắn công nghiệp, chất
thải nguy hại
- Khai thác triệt để dễ gây cạn kiệt tài nguyên hậu quả
là suy thoái môi trường trầm trọng.
- Dân sô tăng quá nhanh do đó một số nhu cầu tối thiểu không được thỏa mãn: nhu cầu về
nhà ở, việc làm, dịch vụ giáo dục, chăm sóc sức khỏe, nước sạch và hạ tầng kỹ thuật
III.3.3 Gia tăng dân số và giáo dục
Giáo dục là một trong những chỉ số cơ bản nói lên chất lượng của cuộc sống. Trình độ học
vấn c
ủa mỗi nước phản ánh mức độ phát triển của quốc gia, cũng như trình độ văn minh của
nước đó. Trình độ học vấn cao là điều kiện rất quan trọng để con người phát triển toàn diện,
dễ thích ứng với điều kiện phát triển của xã hội và khoa học kỹ thuật. Tác động tiêu cực của
phát triển dân số quá nhanh đối với giáo dục biểu hi
ện ở một số khía cạnh sau:
- Xã hội không có điều kiện và khả năng đầu tư thích đáng cho giáo dục nên tình trạng
dân trí thấp. Ở những nước có nền kinh tế phát triển cao, chi phí cho giáo dục chiếm
từ 5 -7% GNP. Ớ những nước đang phát triển do nền kinh tế thấp kém, dân số tăng
nhanh nên chi phí cho giáo dục chiếm khoảng 3 % GNP.
- Dân số tăng nhanh đã ảnh hưởng đến giáo dục c
ả về số lượng lẫn chất lượng. Trên
Thế giới hiện nay có 27% số dân từ 18 tuổi trở lên mù chữ. Các nước đang phát triển
có số dân > 15 tuổi mù chữ chiếm 37%, số người mù chữ tập trung chủ yếu ở Châu
Phi và Châu Á.
- Ở nước ta số học sinh cấp 1 đã tăng lên nhiều nhưng vẫn còn 15% trẻ em chưa được
đến trường chủ yếu tập trung ở vùng núi, Tây nguyên và ÐBSCL.
c vụ không đảm bảo
do quá tải là những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của người dân, hay nói cách
khác là chất lượng dân số vì thế sẽ bị giảm sút.
III.3.5. Đô thị hóa và gia tăng dân số
Gần 150 năm trước, trào lưu đô thị hóa bắt đầu ở Châu Âu, lan sang Châu Mỹ những năm
cuối thế kỷ 19 và Châu Á là những năm 60, 70 thế kỷ 20. Đây chính là h
ệ quả tự nhiên của
quá trình hiện đại hóa đất nước qua cuộc cách mạng công nghiệp. Trước đó sự chuyển biến
các chức năng đô thị thời kỳ giao lưu hàng hóa, tiền tệ đã xuất hiện hàng loạt nhà ga mới, hệ
thống hạ tầng giao thông, điện nước, các phương thức xây dựng mới và vật liệu bê-tông, sắt,
thép với các chủ đầu tư mớ
i, làm thay đổi bộ mặt của đô thị, kiến trúc thế giới. Chỉ trong thế
kỷ 20, các nước phát triển đã chuyển gần như 80, 90% số dân cư trú từ nông thôn sang cư trú
ở đô thị, đưa số người sống trong đô thị hiện nay chiếm tỷ lệ 50% dân số của trái đất (hơn 3
tỷ người chỉ trong một thế kỷ). Trong trào lưu đô thị hóa, không có đi
ểm khởi đầu rõ ràng
nhưng chính cuộc cách mạng công nghiệp đã chuyển hóa cả thành thị và nông thôn một cách
sâu sắc và toàn diện. Khác với nước ta, nhiều nước phát triển có cả hàng trăm năm để xây
dựng nếp sống, văn minh đô thị. Họ có đô thị với những cư dân đã quen đi làm theo thời
gian biểu của nhà máy, công xưởng và đi lại bằng các phương tiện công cộng. Họ quen vớ
i
các chức năng chung của đô thị và coi trọng giá trị công ích của đô thị hơn lợi ích cá nhân và
hình thành văn hóa đô thị trong nhiều thế hệ. Chưa cần phân tích sâu nguyên nhân dẫn tới
hiện tượng này nhưng ai cũng nhận thấy đô thị ở ta càng phát triển thì càng bộc lộ nhiều yếu
kém, gây tác hại lâu dài, với các căn bệnh của đô thị như giao thông, nước thải sinh hoạt, di
dân tự
do, xây dựng không phép và nhất là công tác hoạch định đô thị chưa thật sự được
quan tâm hàng đầu (Bùi Thị Nga, 2006). Nhìn chung, quy hoạch đô thị ở ta hiện nay chưa
phải là phục vụ nhu cầu và thói quen của đại bộ phận dân cư, và thiếu tính hệ thống và điều
c ép lớn tới tài nguyên thiên nhiên và môi trường trái đất do khai thác quá mức các
nguồn tài nguyên phục vụ cho các nhu cầu nhà ở, sản xuất lương thực, thực phẩm,
sản xuất công nghiệp v.v
- Tạo ra các nguồn thải tập trung vượt quá khả năng tự phân huỷ của môi trường tự
nhiên trong các khu vực đô thị, khu sản xuất nông nghiệp, công nghiệp.
- Sự chênh lệch về tốc độ phát triển dân số giữ
a các nước công nghiệp hoá và các nước
đang phát triển gia tăng, dẫn đến sự nghèo đói ở các nước đang phát triển và sự tiêu
phí dư thừa ở các nước công nghiệp hoá. Sự chênh lệch ngày càng tăng giữa đô thị
và nông thôn, giữa các nước phát triển công nghiệp và các nước kém phát triển dẫn
đến sự di dân ở mọi hình thức.
- Sự gia tăng dân số đô thị và sự hình thành các thành phố lớn - siêu đô thị
làm cho
môi trường khu vực đô thị có nguy cơ bị suy thoái nghiêm trọng. Nguồn cung cấp
nước sạch, nhà ở, cây xanh không đáp ứng kịp cho sự phát triển dân cư. Ô nhiễm môi
trường không khí, nước tăng lên. Các tệ nạn xã hội và vấn đề quản lý xã hội trong đô
thị ngày càng khó khăn.
-
III.4. CHÍNH SÁCH DÂN SỐ Ở VIỆT NAM
Việc gia tăng dân số quá nhanh trên thế giới hiện nay là một vấn đề mang tính toàn cầu. Việ
c
bùng nồ dân số ở các nước đang phát triển, việc di cư ồ ạt từ nông thôn ra thành thị, tốc độ đô
thị hoá rất cao và sự xuống cấp của môi trường là những nguyên nhân làm cho sự phát triển
của xã hội kém bền vững. Rất nhiều hội nghị, hội thảo đã đề cập đến RNI. Do vậy, mỗi quốc
gia có nhiệm vụ soạn thảo chính sách dân số riêng cho đất n
ước mình. Chính sách dân số là
một bộ phận không thể thiếu được trong hệ thống chính sách của một quốc gia. Toàn bộ các
chính sách này nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống cho nhân dân và cả quốc gia.
Ở nước ta ngay từ những năm 1960 đã đề ra cuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch nhằm hạn
chế sự gia tăng dân số và xem chính sách dân số là quốc sách. Chính sách này không chỉ
về mọi mặt, nghề nghiệp vững vàng thu nhập cao. Nữ từ 24 tuổi trở lên mới có đủ tố
chất để làm mẹ và có đủ điều kiện tốt nhất để ch
ăm sóc con cái.
- Tư cách và ý thức trách nhiệm làm cha mẹ: khi bước vào cuộc sống gia đình cần
chuẩn bị cho mình có đầy đủ tư cách, có phẩm chất và năng lực tối thiểu bước đầu
cuả những người làm cha mẹ để chăm sóc giáo dục con cái trở thành những người
công dân tốt.
III.5. CHIẾN LƯỢC VỀ DÂN SỐ
Chiến lược dân số Việt Nam giai đoạn 2001-2010 đã được chính ph
ủ phê duyệt ngày
22/12/2000, trong đó khẳng định rõ quan điểm: công tác dân số là bộ phận quan trọng của
chiến lược phát triển đất nước, là một trong những yếu tố cơ bản để nâng cao chất lượng cuộc
sống của từng người, từng gia đình và toàn xã hội, góp phần quyết định để thực hiện công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Quyết định cũng chỉ
rõ đầu tư cho công tác dân số là đầu tư
cho sự phát triển bền vững và mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội trực tiếp, gián tiếp rõ rệt. Nhà
nước đảm bảo đủ nguồn lực cho công tác dân số, đồng thời vận động sự đóng góp của cộng
đồng và tranh thủ sự viện trợ của quốc tế. Chương trình dân số cần đẩy mạnh giáo dục truyền
thông dân số
và phát triển, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và chính quyền các cấp đối với
công tác dân số để nâng cao chất lượng dân số, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp
ứng nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, góp phần vào sự phát triển nhanh và bền
vững của đất nước. Chiến lược dân số được thực hiện trong 2 giai đoạn:
46
- Giai đoạn I (2001-2005) tập trung mọi nỗ lực đạt mục tiêu giảm sinh vững chắc, đặc biệt
tập trung vào những vùng có mức sinh cao, nhằm đạt mức sinh thay thế bình quân vào năm
2005. Bước đầu triển khai những mô hình và giải pháp thí điểm về nâng cao chất lượng dân
số. Tập trung các hoạt động tuyên truyền để chuyển đổi hành vi sinh sản và cung cấp dịch vụ
của yếu tố dân số và lồng ghép yếu tố dân số trong việc hoạch định chính sách và lập
kế hoạch.
III.5.2 Các chỉ tiêu cơ bản cần đạt được vào năm 2010
1. Phấn đấu nâng chỉ số phát triển con người (HDI) từ 0,664 điểm năm 1998 lên mức
trung bình tiên tiến so với thế giới, khoảng 0,700- 0,750 điểm. Trong đó: nâng tuổi
thọ trung bình của dân số từ 66,4 tuổi của năm 1998 lên 71 tuổi; tăng số năm trung
bình đi học từ 6,2 năm của năm 1998 lên trên 9 năm trên cơ sở phổ cập phổ thông
trung học cơ sở; tăng GDP bình quân đầu người lên gấp đôi so với hiện nay.
2. Nâng chỉ số phát triển giới (GDI) từ 0,668
điểm, năm 1998 lên 0,700 điểm. Hạ tỷ lệ
suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi từ 36,7% năm 1999 xuống còn 25%.
47
3. Giảm tỷ lệ nhiễm mới HIV/AIDS. Phấn đấu giảm tỷ lệ trẻ sinh ra bị dị tật do các bệnh
di truyền và ảnh hưởng của chất độc màu da cam Đến năm 2005, cơ bản xóa hộ đói
và giảm tỷ lệ hộ nghèo (theo tiêu chuẩn hiện nay của Việt Nam) từ 10% năm 2000
xuống còn 5%; đến năm 2010 về cơ bản không còn hộ nghèo. Tỷ lệ thất nghiệ
p thành
thị không vượt qúa 5% (hiện nay là 7%).
4. Tăng thời gian lao động ở nông thôn từ 70% như hiện nay lên 80%- 85%. Tỷ lệ người
lao động đã qua đào tạo tăng lên khoảng 40% (hiện nay khoảng 20%).
5. Phần lớn dân cư được đăng ký theo các chỉ tiêu của hệ cơ sở dữ liệu quốc gia về dân
cư. Đáp ứng nhu cầu sử dụng các thông tin dữ liệu dân cư trong việc hoạ
ch định
chính sách và lập kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội. Tỷ lệ dân số thành thị chiếm từ
35-40%. Đảm bảo 75% số người di dân tự do có đăng ký.
III.5.3 Các giải pháp thực hiện
Các giải pháp thực hiện chiến lược về dân số được chia thành 3 nhóm: nhóm giải pháp tiên
n khai công
tác dân số với những mục tiêu và cách làm cụ thể phù hợp với đặc điểm của địa
phương, của mỗi ngành. Thường xuyên kiểm tra, đánh giá tình hình thực hiện và
48
phân công cán bộ chủ chốt trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo công tác dân số ở địa phương.
Các chỉ tiêu về dân số cần được lồng ghép vào việc hoạch định chính sách và lập kế
hoạch phát triển kinh tế - xã hội ở các cấp, các ngành và các địa phương.
- Phân cấp trách nhiệm cụ thể giữa trung ương và địa phương, giữa các ngành theo
nguyên tắc: Trung ương chịu trách nhiệm xây dựng luật, pháp lệnh, chi
ến lược, chính
sách, chương trình hành động, các hướng dẫn triển khai, tạo nguồn lực; giám sát,
đánh giá việc thực thi luật, pháp lệnh, chính sách. Địa phương chịu trách nhiệm triển
khai thực hiện luật, pháp lệnh, chính sách, chương trình hành động, chịu trách nhiệm
việc tổ chức thực hiện các hoạt động dân số và gia đình, sử dụng kinh phí và kết quả,
hiệu quả thực hiện mục tiêu.
- Phân bổ công khai toàn b
ộ nguồn lực, tập trung cho cơ sở, tăng hiệu quả sử dụng.
Căn cứ vào chương trình mục tiêu, định hướng, hướng dẫn của các cấp có thẩm
quyền và điều kiện thực tế của địa phương, các cấp cơ sở xây dựng kế hoạch và báo
cáo lên cấp trên xem xét, cân đối phê duyệt. Thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở để
đảm bảo nguồn lực được sử dụng có hiệu quả, đúng mục tiêu và tiết kiệm.
- Xây dựng cơ chế giám sát, đánh giá có căn cứ khoa học và quản lý thống nhất nguồn
lực đầu tư cho chương trình. Xây dựng và hoàn thiện hệ thống chỉ báo đánh giá, đặc
biệt là các chỉ báo đánh giá chất lượng chương trình để xử lý và cung cấp đầy đủ,
chính xác, kịp thờ
i những thông tin cần thiết, phục vụ cho việc chỉ đạo, điều phối các
hoạt động của chương trình dân số. Phối hợp chặt chẽ với các ngành liên quan trong
việc sử dụng thông tin để đánh giá hiệu quả, mức độ tác động của chương trình dân
số đối với các chương trình kinh tế - xã hội.
số toàn diện, cần đảm bảo định kỳ cung c
ấp thông tin với nội dung và hình thức phù
hợp cho lãnh đạo Đảng và Chính quyền. Tăng cường các cuộc tiếp xúc giữa lãnh đạo
Đảng và Chính quyền các cấp với đội ngũ làm công tác dân số, với công chúng và với
nhân dân trên các phương tiện thông tin đại chúng, qua các cuộc gặp mặt và trao đổi
trực tiếp nhằm đảm bảo thông tin hai chiều thông suốt và hiệu quả, đảm bảo mọi
chính sách và chủ trương về công tác dân số thực sự là do dân, củ
a dân và vì dân.
4. Mở rộng và nâng cao chất lượng các hình thức giáo dục dân số, SKSS/KHHGĐ, giới
và giới tính trong và ngoài nhà trường Mở rộng nội dung và thực hiện đổi mới
phương pháp giáo dục dân số, SKSS/KHHGĐ, giới và giới tính trong và ngoài nhà
trường ở mọi cấp học và ngành học của hệ thống giáo dục quốc dân với những hình
thức thích hợp theo hướng cung cấp kiến thức, tạo nhận thức và hành vi đ
úng đắn,
xây dựng kỹ năng sống phù hợp về dân số và phát triển bền vững, SKSS/KHHGĐ,
giới và giới tính. Giáo dục dân số và phát triển, sức khoẻ sinh sản, giới và giới tính
phải vừa đáp ứng yêu cầu của cuộc sống, vừa phù hợp với định hướng phát huy và
giữ gìn bản sắc dân tộc.
5. Khuyến khích việc cung cấp thông tin và tư vấn về dân số, SKSS/KHHGĐ
giới và
giới tính cho đội ngũ giáo viên và các bậc cha mẹ. Mở rộng việc đưa nội dung dân số
và phát triển, SKSS/KHHGĐ, giới và bình đẳng giới vào hệ thống các trường chính
trị nhằm nâng cao nhận thức cho học viên, tạo cơ sở cho việc lồng ghép các yếu tố
dân số và phát triển vào hoạch định chính sách phát triển bền vững.
6. Ứng dụng các kết quả nghiên cứu và khảo sát để nâng cao chất l
ượng các hoạt động
thông tin - giáo dục - truyền thông. Định kỳ đánh giá kết quả chuyển đổi hành vi của
các nhóm đối tượng nhằm điều chỉnh kế hoạch và nội dung hoạt động của chương
trình truyền thông cho phù hợp. Khai thác tối đa các kết quả nghiên cứu và khảo sát
trong thiết kế và triển khai các hoạt động thông tin - giáo dục - truyền thông phù hợp
hóa trang thiết bị và ứng dụng các kỹ thuật tiên tiến đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.
3. Nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em. Triển khai các mô hình thông
tin, giáo dục và tư vấn phù hợp về chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em để thay đổi tập
quán, nâng cao kiến thức và hi
ểu biết cho phụ nữ về sức khỏe và dân số.
III.6. THẢO LUẬN CUỐI CHƯƠNG
Câu 1: Hãy cho biết các khái niệm về dân số? trình bày mối quan hệ giữa chúng (nêu chi tiết
một vài khái niệm).
Câu 2: Phân tích nguyên nhân chính dẫn đến gia tăng dân số ở Việt Nam?
Câu 3: Trình bày mối quan hệ giữa dân số môi trường và phát triển? Các đề nghị của anh
chị về vấn đề dân số?
51
CHƯƠNG IV: TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
IV.1. TỔNG QUAN VỀ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
Trong khoa học môi trường thường đề cập đến khái niệm tài nguyên (resources). Theo nghĩa
rộng tài nguyên bao gồm tất cả các nguồn vật liệu (materials), năng lượng (energy), thông
tin (information) có trên Trái Đất và trong vũ trụ mà con người có thể sử dụng phục vụ cuộc
sống và sự phát triển của nhân loại. Tài nguyên thường được phân thành tài nguyên thiên
nhiên (natural resources) gắn liền với các nhân tố thiên nhiên, và tài nguyên con người gắn
liền với các nhân tố con người và xã hội (Murdoch, 1989). Tài nguyên là t
ất cả dạng vật chất
hữu dụng phục vụ cho sự tồn tại và phát triển cuộc sống con người và thế giới động vật. Tài
nguyên thiên nhiên (TNTN) là một phần của các thành phần môi trường. Ví dụ: rừng cây,
đất đai, nguồn nước, khoáng sản, cùng tất cả các loài động thực vật khác. Các dạng TNTN:
lượng
mặt trời
Gió
Thủy triều
Dòng chảy
Nhiên liệu
d
ư
ới
đ
ấ
t
Khoáng sản
kim loại: sắt
đồn
g
, nhôm,
Khoáng sản
không kim loại:
cát, phosphate,
đát sét
Có thể phục hồi
Không khí trong lành Nước ngọt
Đất phì
hi
Cây và con (tính đa dạng)
Hình 4.1 Các dạng tài nguyên thiên nhiên
52
Trái đất là hành tinh có sự sống, tuy nhiên do sự tác động của con người nên khả năng duy
- Sức ép về dân số tiếp tục gia tăng, số lượng và chất lượng lao động kỹ thuật (về cơ cấu
ngành nghề, kỹ năng, trình độ) chưa đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động.
- Mô hình tiêu dùng của dân cư đang diễn biến theo chiề
u hướng tiêu tốn nhiều nguyên
vật liệu, năng lượng và thải ra nhiều chất thải và chất độc hại. Mô hình tiêu dùng này
đã, đang và sẽ tiếp tục làm cho môi trường tự nhiên bị quá tải bởi lượng chất thải và
sự khai thác quá mức.
- Một số tệ nạn xã hội như nghiện hút, mại dâm, căn bệnh thế kỷ HIV/AIDS, chưa
được ngăn chặn có hiệu quả, gây thấ
t thoát và tốn kém các nguồn của cải, tạo ra nguy
cơ mất ổn định xã hội và phá hoại sự cân đối sinh thái.
53
IV.2. CÁC DẠNG TÀI NGUYÊN CHÍNH
IV.2.1 Năng lượng
Năng lượng là dạng vật chất đặc biệt và thành phần không thể thiếu và cũng không thể
thay thế được trong hệ sinh thái. Năng lượng có tác dụng tạo nên các hoạt động sống, và
đồng thời biến đổi cùng với chuỗi thức ăn và tuần hoàn vật chất. Năng lượng có thể biến đổi
từ dạng này sang dạng khác và không hề mất đi. Thật v
ậy dù tồn tại ở bất kỳ dạng nào thì
năng lượng và dạng vật chất không thể thiếu được trong cuộc sống của con người. Tuy vậy
sử dụng năng lượng cũng là nguồn gây ô nhiễm môi trường ở hầu hết các nước. Năng lượng
cũng là một tiêu chuẩn để đo sự tăng trưởng của các nước (Bùi Thị Nga, 2000;2004).
IV.2.1.1 Các dạng năng lượng
a Các ngu
ồn năng lượng hóa thạch
- Dầu hỏa, là một chất nhão, màu đen, hỗn hợp nhiều cacbua hydro, là nguồn năng
năng lượng mặt trời khá cao nên khó được thị trường chấp nhận.
54
d Năng lượng hạt nhân
Đã từ lâu năng lượng hạt nhân đã được sử dụng trên thị trường và ngày nay vẫn còn khá
nhiều ý kiến về sự tranh cãi này, có một nhóm cho rằng sử dụng năng lượng hạt nhân thì
hiệu suất sẽ cao hơn, an toàn hơn và giá thành sẽ hạ hơn, một số người thì cho rằng chúng
kém an toàn, và xây dựng rất tốn kém.
Năng lượng hạt nhân có hai dạng: dạng sử dụng n
ăng lượng giải phóng trong quá trình phản
ứng dây chuyền phá vỡ (fission reaction) nguyên tử Uranium 235 bằng các Neutron và dạng
sử dụng năng lượng giải phóng trong phản ứng kết hợp (fusion reaction). Việc sử dụng điện
năng hạt nhân tránh được các dạng ô nhiễm thông thường tại các nhà máy nhiệt điện, nhưng
nguồn gây nguy hiểm lớn về môi trường như sau: chất thải phóng xạ từ các nhà máy sản
xuất nhiên liệu hạ
t nhân U235; vận tải nhiên liệu hạt nhân từ nơi chế tạo tới nhà máy điện,
các rò rỉ từ các lò phản ứng; vật chứa các phế thải từ nhiên liệu và thiết bị của các bộ phận
phản ứng và phế thải nhiệt từ nước làm lạnh các lò phản ứng.
e Thủy điện
Ngăn sông bằng các con đê lớn chứa nước để dùng sức nước t
ạo ra dòng điện và được xem
là dạng năng lượng sạch, không thải ra chất gây ô nhiễm. Tuy nhiên gần đây các nhà môi
trường lên tiếng cảnh báo về nguồn điện này vì có một số vấn đề môi trường phát sinh như
là: hệ sinh thái của thủy vực sẽ bị thay đổi, có khả năng xảy ra lũ lụt ở khu hạ nguồn. Trung
bình tiềm năng thủy điện của thế giớ
i ước tính vào khoảng 2.214.000 MW. Trong đó Châu Á
có khoảng 610.000 MW; Châu Phi 780.000 MW; Nam Mỹ 600.000 MW; Châu Âu đã khai
thác đến 50% tiềm năng thủy điện; Châu Phi 5%. Ở miền nam Việt Nam, nhà máy thủy điện
56
g Năng lượng từ thực vật
Củi, rơm, lá cây khô, những vật rơi rụng và phân bò là nguồn năng lượng rẻ tiền và dễ
kiếm nhất. Đây cũng là hình thức tiết kiệm đối với những vùng còn nghèo. Việc trồng các
cây năng lượng cũng cần được chú ý nhiều hơn nhất là các loại cây có hàm lượng tinh dầu
cao, và năng lượng cao như mía đường
Hình 4.5 Hệ thống Cối xay gió ở Hà Lan, nơi đặt cối xay gió giáp với biển
(Nguồn: Bùi Thị Nga)
Hình 4.6 Cối xay gió ở Hà Lan, nơi đặt cối xay gió trong nông trại
57
h Năng lượng từ rác thải
Tuy không phổ biến nhưng thật sự là nguồn năng lượng tốt để phục vụ nhu cầu con
người. Ở Hà Lan và Mỹ là hai quốc gia có nhiều nhà máy đốt rác để tạo năng lượng hay ủ
rác để tạo ra nguồn phân hữu cơ cung cấp dưỡng chất cho cây trồng và cũng góp phần hạn
chế ô nhiễm môi trường
IV.2.1.2 Sử dụng năng lượng và các v
ấn đề môi trường
Việc sử dụng năng lượng là thiết yếu nhưng nó xảy ra rất nhiều sự cố về các vấn
đề môi trường trong hiện tại và tương lai:
- Khai thác dầu thường gây nhiều bất lợi cho môi trường như làm mất diện tích đất, rò rỉ từ
các ống dẫn dầu gây ô nhiễm các con sông và ô nhiễm biển, xáo trộn môi trường, nhất là
ở những vùng hoang dã xa xôi, giảm
đa dạng sinh học, tai nạn do xảy ra cháy nổ, trầm
trọng hơn gây thiệt hại cho hệ sinh thái biển vì hiện tượng tràn dầu.
- Khai thác than đá sẽ gây ô nhiễm môi trường không khí, ô nhiễm đất và sự cố sụp đỗ đất
trong quá trình khai thác, giảm đa dạng sinh học. Hạn chế cảnh quan chung quanh khu
dụng là năng lượng mặt trời, được dùng m
ột cách tự nhiên để soi sáng, sưởi ấm, phơi khô