Tiểu luận: Phân tích sự giống nhau và khác nhau giữa thuế, phí và lệ phí. Trình bày tình hình thu thuế VAT tại một Công ty trách nhiệm hữu hạn - Pdf 20



II Tiểu luận

Phân tích sự giống nhau và khác
nhau giữa thuế, phí và lệ phí.
Trình bày tình hình thu thuế
VAT tại một Công ty trách
nhiệm hữu hạn


2
NỘI DUNG

1. Các khái niệm thuế, phí và lệ phí
- Thuế là nguồn thu theo nghĩa vụ được qui định bằng luật pháp. ở Việt
Nam có hai loại thuế: thuế trực thu là thuế đánh trực tiếp vào thu nhập (thuế
thu nhập công ty, thuế thu nhập cá nhân) và thuế gián thu (thuế doanh thu,
thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất nhập khẩu, thuế sử dụng
tài nguyên…)
- Phí là khoản tiền mà tổ chức, cá nhân phải trả khi được một tổ chức,
cá nhân khác cung cấp dịch vụ được quy định trong Danh mục phí do Nhà
nước quy định.
- Lệ phí là khoản tiền mà tổ chức, cá nhân phải nộp khi được cơ quan
nhà nước hoặc tổ chức được uỷ quyền phục vụ công việc quản lý nhà nước
được quy định trong Danh mục lệ phí do Nhà nước quy định.
2. Sự giống nhau và khác nhau giữa thuế phí và lệ phí.
* Sự giống nhau: là khoản tiền phải nộp do Nhà nước quy định. Thuế,
lệ phí là nguồn thu của ngân sách nhà nước, tuy nhiên trong khoản phí có
loại do nhà nước thu có loại do các tổ chức cá nhân thu.
* Sự khác nhau:
- Thuế là công cụ phân phối thu nhập quốc dân, không chỉ để có nguồn
thu, mà điều chỉnh, can thiệp vào nền kinh tế, thực hiện việc điều tiết kinh tế
vĩ mô, là công cụ bảo vệ kinh tế trong nước và cạnh tranh với nước ngoài.
Thuế tồn tại qua các hình thái xã hội có Nhà nước, là nguồn thu chủ yếu, ổn
định của ngân sách nhà nước (chiếm trên 80% tổng số thu ngân sách nhà
nước và cơ bản trang trải nhu cầu chi tiêu trong ngân sách nhà nước).
- Phí và lệ phí là khoản mà các cá nhân và tổ chức phải nộp khi nhận
được sự phục vụ của các cá nhân tổ chức khác hoặc sự phục vụ công việc
quản lý nhà nước.



4
các doanh nghiệp xuất khẩu và đảm bảo nguyên tắc thu đúng, thu đủ. Điều
quan trọng là hệ thống thuế này chưa phù hợp với hệ thống tài chính chung
mà các nước áp dụng khi tham gia hội nhập kinh tế quốc tế. Chính vì vậy
mục tiêu của Luật thuế giá trị gia tăng được ban hành là nhằm khắc phục
những nhược điểm trên.
b) Tình hình thu thuế tại công ty TNHH Trần Liên Thịnh
* Công ty TNHH Trần Liên Thịnh
Trụ sở chính : Số 5 Thể Giao, quận Hai Bà Trưng
Nhà máy sản xuất : Đông Ngạc, Từ Liêm, Hà Nội
Công ty TNHH Trần Liên Thịnh được thành lập theo quyết định số
596/TM của Bộ thương mại ngày 20-3-19996.
Từ năm 1996 đến nay, công ty liên tục sản xuất kinh doanh có hiệu quả,
nộp thuế và thực hiện các nghĩa vụ khác đối với Nhà nước cũng như chính
quyền địa phương rất đầy đủ.
* Chức năng của công ty TNHH Trần Liên Thịnh :
Công ty cơ chức năng chính là kinh doanh nội thương, tổ chức sản xuất
và cung ứng dịch vụ phục vụ kinh doanh trong nước. Mặt hàng kinh doanh
của công ty là nước tinh khiết Waterman và các loại máy chiết nước. Ngoài
ra, từ năm 1999 đến nay, công ty trở thành đại lý phân phối cho hãng cà phê
Trung Nguyên, độc quyền phân phối và chuyên trách quản lý các đại lý của
Trung Nguyên tại miền Bắc Việt Nam.
* Nhiệm vụ của công ty :
+ Kinh doanh đúng ngành nghề đăng ký, kinh doanh hiệu quả để phát
triển, mở rộng phạm vi hoạt động.
+ Tổ chức nắm bắt các thông tin về thị trường, giá cả mặt hàng, nghiên
cứu thị trường một cách toàn diện để có những giải pháp kinh tế, các quyết
nhất quyết định chất lượng sản phẩm. Chính vì vậy việc củng cố và phát triển
mối quan hệ lâu dài với các bên cung cấp trên cơ sở hợp tác cùng có lợi luôn
được công ty quan tâm thích đáng. Nguồn nước tại Đông Ngạc, Từ Liêm
được khai thác từ độ sâu hoàn toàn có đầy đủ các điều kiện và tiêu chuẩn trở 6
thành nguyên liệu phục vụ cho quá trình tinh lọc nước. Do dây chuyền tinh
lọc cũng như công tác kiểm soát chất lượng sản phẩm lấy căn cứ là tiêu chuẩn
quốc tế nên sản phẩm nước tinh khiết Waterman có chất lượng rất cao.
Công ty TNHH Trần Liên Thịnh là một trong những công ty đầu tiên
quyết định đầu tư lớn vào lĩnh vực kinh doanh nước tinh khiết do nhận thấy
nhu cầu tiêu thụ to lớn của sản phẩm này. Tiếp sau nhãn hiệu Waterman, một
loạt các nhãn hiệu khác cũng ra đời như Lavie, Sapwa, Laska, Tiền Hải, Cúc
Phương, Vital khiến cho thị trường nước tinh khiết trở nên sôi động.
Trong giai đoạn hiện nay, nước ta mở cửa hội nhập với bạn bè trên thế
giới nên bộ phận những người nước ngoài làm việc tại Việt Nam ngày càng
chiếm số lượng lớn. Số lượng các văn phòng đại diện, các chi nhánh của các
công ty nước ngoài và các công ty liên doanh tăng mạnh, những đối tượng
này là khách hàng chính của công ty, có tác động đáng kể đến nhu cầu tiêu
thụ sản phẩm nước tinh khiết Waterman của công ty. Những khách hàng
nàycó thu nhập cao, đời sống có điều kiện tiếp cận với trình độ tiêu dùng cao
trên thế giới nên nhanh chóng thích ứng tiêu dùng, việc tiêu dùng đã trở
thành thói quen của họ.
Nhận thức của người tiêu dùng phổ thông đối với loại sản phẩm nước
tinh khiết trong thời gian gần đây đã được nâng cao. Họ đã hiểu rõ hơn ích
lợi của việc sử dụng nước tinh khiết trong cuộc sống. Mặt khác, đời sống
người dân cũng được cải thiện rõ rệt nên họ có những nhu cầu cao hơn trong
sinh hoạt, họ quan tâm nhiều hơn đến những sản phẩm có tác dụng tốt đối với
sức khoẻ của họ nhưng không gắn bó nhu cầu thiết yếu giống như đối với

Trong 3 năm trở lại đây nền kinh tế thế giới đang hồi phục sau những
khủng hoảng trước đó, nhu cầu tiêu dùng có được ảnh hưởng tích cực. Thị
trường Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật chung; thị trường nước tinh
khiết cũng có sự tăng trưởng, tuy không nhiều, kéo theo sự tăng trưởng của
các Công ty nước tinh khiết. 8
Kết quả sản xuất kinh doanh của Công ty từ năm 2000-2002
TT

Chỉ tiêu ĐVT Năm 2000 Năm 2001 Năm 2002
1 Doanh thu
So với năm trước
Triệu đồng
%
54238
107
58577
108
64436
110
2 CP sản xuất kinh doanh
So với năm trước
Triệu đồng
%
4728
102
5021
106

102
13103
103
14020
107
7 Sản lượng sản xuất
So với năm trước
1000 lít
%
12887
102
13276
104
14596
109
Qua bảng số liệu trên ta thấy:
Hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty trong 3 năm trở lại đây tiến
triển tốt, doanh thu tăng đều đặn qua các năm.
Sản lượng sản xuất không ngừng tăng lên: Năm 2000 là 12.846 nghìn
lít, năm 2001 là 13.103 tăng 8% so với năm 2000, đến năm 2002 là 14.020
ngìn lít tăng 9% so với năm 2001. Điều đáng mừng là lợi nhuận của Công ty
cũng tăng tỷ lệ thuận với doanh thu của Công ty chứng tỏ một sự vận hành
hoàn hảo trong hoạt động sản xuất kinh doanh.
Một yếu tố khác như sản lượng làm ra hàng năm tiến triển tốt, đặc biệt
có sự gia tăng đột biến từ năm 2001, sang năm 2002 tuy chưa phải là mức 9
cao, sản luợng bán ra năm 2002 là 14.598 nghìn lít so với năm 2001 là 13.276
nghìn lít tăng 9%. Lý do của việc này là do Công ty đảm nhận trọng trách là

lại khuyến khích doanh nghiệp đầu tư trực tiếp => sản xuất phát triển ở nhiều
doanh nghiệp=> mở rộng diện thu trong chu kỳ tới.
Vấn đề đặt ra là cần phải đổi mới chính sách thuế như thế nào để vừa
bồi dưỡng nguồn thu lâu dài, vừa tính đến nhu cầu chi tiêu cấp thiết trước
mắt của Chính phủ. 11

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Giáo trình Luật Kinh tế
2. Giáo trình Chính sách kinh tế xã hội
3. Tạp chí Tài chính số 5 –2002
4. Tạp chí Tài chính số 6-2002
5. Tạp chí Tài chính số 3 - 2003.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status