Phân tích sự giống nhau và khác nhau giữa thuế, phí và lệ phí. Trình bầy tình hình thu thuế VAT tại một Công ty trách nhiệm hữu hạn. - Pdf 64

LỜI MỞ ĐẦU
Trong nguồn thu ngân sách của Nhà nước thì thuế, phí và lệ phí
chiếm tỷ lệ lớn (hơn 80%). Thu ngân sách nhà nước là thu bắt buộc, chủ
yếu thông qua thuế (trước đây khi chưa cải cách hệ thống thuế, nguồn thu
chủ yếu là từ vay và viện trợ). Nộp thuế là nghĩa vụ của các tổ chức và cá
nhân, là tuân theo luật pháp. Chính sách về thuế là một phần của chính
sách tài chính.
Hiện nay ở nước ta có nhiều loại thuế, phí và lệ phí mỗi loại thuế
đánh vào một đối tượng nhất định. Thuế là nguồn tài chính quan trọng
nhất, do Nhà nước thực hiện và đại diện cho lợi ích toàn xã hội.
Tuy thuế, phí và lệ phí là nguồn thu của ngân sách nhưng có giữa
chúng có sự giống nhau và khác nhau. Để hiểu rõ hơn vấn đề này em chọn
đề tài “Phân tích sự giống nhau và khác nhau giữa thuế, phí và lệ phí.
Trình bầy tình hình thu thuế VAT tại một Công ty trách nhiệm hữu hạn”.
1 1
NỘI DUNG
1. Các khái niệm thuế, phí và lệ phí
- Thuế là nguồn thu theo nghĩa vụ được qui định bằng luật pháp. ở Việt
Nam có hai loại thuế: thuế trực thu là thuế đánh trực tiếp vào thu nhập (thuế
thu nhập công ty, thuế thu nhập cá nhân) và thuế gián thu (thuế doanh thu,
thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất nhập khẩu, thuế sử dụng
tài nguyên…)
- Phí là khoản tiền mà tổ chức, cá nhân phải trả khi được một tổ chức,
cá nhân khác cung cấp dịch vụ được quy định trong Danh mục phí do Nhà
nước quy định.
- Lệ phí là khoản tiền mà tổ chức, cá nhân phải nộp khi được cơ quan
nhà nước hoặc tổ chức được uỷ quyền phục vụ công việc quản lý nhà nước
được quy định trong Danh mục lệ phí do Nhà nước quy định.
2. Sự giống nhau và khác nhau giữa thuế phí và lệ phí.
* Sự giống nhau: là khoản tiền phải nộp do Nhà nước quy định. Thuế,
lệ phí là nguồn thu của ngân sách nhà nước, tuy nhiên trong khoản phí có

- Thuế giá trị gia tăng thúc đẩy kinh doanh hợp pháp thông qua cơ chế
tự kiểm tra vì sổ sách kế toán và hoá đơn chứng từ bắt buộc trong thanh toán
thuế giá trị gia tăng là điều kiện để đối tượng nộp thuế được khấu trừ thuế
đầu vào đã nộp ở khâu trước, nên hạn chế được tình trạng trốn lậu thuế và tạo
ra sự kiểm soát lẫn nhau về thuế, từ đó nâng cao ý thức chấp hành pháp luật
của đối tượng nộp thuế, tạo thuận lợi cho quản lý thuế ở trong nước.
Qua nghiên cứu về thuế giá trị gia tăng, có thể thấy vấn đề chính sách là
rất cần thiết. Trước khi ban hành Luật thuế giá trị gia tăng, hệ thống thuế
nước ta tồn tại nhiều điểm bất hợp lý như khâu tính trùng, chưa khuyến khích
các doanh nghiệp xuất khẩu và đảm bảo nguyên tắc thu đúng, thu đủ. Điều
3 3
quan trọng là hệ thống thuế này chưa phù hợp với hệ thống tài chính chung
mà các nước áp dụng khi tham gia hội nhập kinh tế quốc tế. Chính vì vậy
mục tiêu của Luật thuế giá trị gia tăng được ban hành là nhằm khắc phục
những nhược điểm trên.
b) Tình hình thu thuế tại công ty TNHH Trần Liên Thịnh
* Công ty TNHH Trần Liên Thịnh
Trụ sở chính : Số 5 Thể Giao, quận Hai Bà Trưng
Nhà máy sản xuất : Đông Ngạc, Từ Liêm, Hà Nội
Công ty TNHH Trần Liên Thịnh được thành lập theo quyết định số 596/TM của Bộ thương mại ngày
20-3-19996.
Từ năm 1996 đến nay, công ty liên tục sản xuất kinh doanh có hiệu quả, nộp thuế và thực hiện các
nghĩa vụ khác đối với Nhà nước cũng như chính quyền địa phương rất đầy đủ.
* Chức năng của công ty TNHH Trần Liên Thịnh :
Công ty cơ chức năng chính là kinh doanh nội thương, tổ chức sản xuất và cung ứng dịch vụ phục vụ
kinh doanh trong nước. Mặt hàng kinh doanh của công ty là nước tinh khiết Waterman và các loại máy chiết
nước. Ngoài ra, từ năm 1999 đến nay, công ty trở thành đại lý phân phối cho hãng cà phê Trung Nguyên, độc
quyền phân phối và chuyên trách quản lý các đại lý của Trung Nguyên tại miền Bắc Việt Nam.
* Nhiệm vụ của công ty :
+ Kinh doanh đúng ngành nghề đăng ký, kinh doanh hiệu quả để phát triển, mở rộng phạm vi hoạt

quốc tế nên sản phẩm nước tinh khiết Waterman có chất lượng rất cao.
Công ty TNHH Trần Liên Thịnh là một trong những công ty đầu tiên quyết định đầu tư lớn vào lĩnh
vực kinh doanh nước tinh khiết do nhận thấy nhu cầu tiêu thụ to lớn của sản phẩm này. Tiếp sau nhãn hiệu
Waterman, một loạt các nhãn hiệu khác cũng ra đời như Lavie, Sapwa, Laska, Tiền Hải, Cúc Phương, Vital
khiến cho thị trường nước tinh khiết trở nên sôi động.
Trong giai đoạn hiện nay, nước ta mở cửa hội nhập với bạn bè trên thế giới nên bộ phận những người
nước ngoài làm việc tại Việt Nam ngày càng chiếm số lượng lớn. Số lượng các văn phòng đại diện, các chi
nhánh của các công ty nước ngoài và các công ty liên doanh tăng mạnh, những đối tượng này là khách hàng
chính của công ty, có tác động đáng kể đến nhu cầu tiêu thụ sản phẩm nước tinh khiết Waterman của công ty.
Những khách hàng nàycó thu nhập cao, đời sống có điều kiện tiếp cận với trình độ tiêu dùng cao trên thế
giới nên nhanh chóng thích ứng tiêu dùng, việc tiêu dùng đã trở thành thói quen của họ.
Nhận thức của người tiêu dùng phổ thông đối với loại sản phẩm nước tinh khiết trong thời gian gần
đây đã được nâng cao. Họ đã hiểu rõ hơn ích lợi của việc sử dụng nước tinh khiết trong cuộc sống. Mặt
khác, đời sống người dân cũng được cải thiện rõ rệt nên họ có những nhu cầu cao hơn trong sinh hoạt, họ
quan tâm nhiều hơn đến những sản phẩm có tác dụng tốt đối với sức khoẻ của họ nhưng không gắn bó nhu
cầu thiết yếu giống như đối với nước tinh khiết. Đây cũng là yếu tố góp phần vào sự gia tăng nhu cầu sử
dụng nước tinh khiết.
Với nhu cầu dồi dào như vậy, ngành công nghiệp tinh lọc nước tinh khiết theo đó cũng lớn mạnh, rất
nhiều hãng tinh lọc nước ra đời. Các hãng này cạnh tranh quyết liệt với nhau, từng bước phân chia và nắm
giữ các khúc thị trường. Các hoạt động này cũng góp phần kích thích nhu cầu của người tiêu dùng.
Tiềm năng của thị trường nước tinh khiết là rất lớn, nhưng hiện nay công ty TNHH Trần Liên Thịnh
cũng như các công ty khác mới chỉ khai thác được một phần thị trường. Điều này dẫn đến sự cạnh tranh gay
gắt trên thị trường. Là một trong nước công ty hàng đầu đi tiên phong trong lĩnh vực kinh doanh này, công ty
có lợi thế là tiếp cận thị trường đầu tiên, gây dựng tốt các mối quan hệ bạn hàng tin tưởng và gắn bó. Nhưng
công ty cũng có điểm yếu là khả năng tài chính nói chung và ngân sách dành cho hoạt động XTTM nói riêng
còn kém so với các đối thủ cạnh tranh là các công ty liên doanh, công ty 100% vốn nước ngoài có hậu thuẫn
tài chính mạnh mẽ. Với nguồn lực tài chính có hạn, nhưng công ty luôn tìm cách sử dụng nguồn lực này một
5 5


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status