Quá trình hình thành tư liệu nghiên cứu những quan niệm chung về kinh tế nhà nước trong quá trình phát triển kinh tế nhiều thành phần p9 - Pdf 20


13

quyền, không có một lực lợng kinh tế khác cạnh tranh, do đó
khi chuyển sang cơ chế mới thì nhiều cơ sở KTNN không
thích nghi đợc với điều kiện mới. Đó cũng là một trong
những nguyên nhân quan trọng làm cho KTNN của nớc ta trì
trệ và kém hiệu quả.
3. Những giải pháp cơ bản nhằm phát huy vai trò chủ
đạo của KTNN
Để tạo khả năng tăng trởng nhanh và có hiệu quả, các
ngành KTNN cần tập trung nguồn lực thích đáng để xây dựng
các ngành kinh tế trọng điểm, mũi nhọn (công nghiệp năng,
điện tử và tin học, công nghệ sinh học, vật liệu mới). Những
ngành này phải đợc đầu t về vốn, lao động, kỹ thuật và công
nghệ để tạo ra sự tăng trởng và phát triển với tốc độ nhanh,
đủ sức chiếm lĩnh trên thị trờng khu vực và thị trờng quốc
tế.
Chúng ta tiến hành cổ phần hoá một số DNNN nhằm thu
hút vốn đầu t phát triển chiều sâu cho công ty dựa trên các
tiêu chí: Hiệu quả, đảm bảo xã hội, giữ định hớng, khả năng
về vốn tái đầu t của Nhà nớc Tuy nhiên cũng cần phân
định quá trình cổ phần hoá DNNN không phải là quá trình t
nhân hoá KTNN mà là thị trờng hoá nền kinh tế, không bao

14

cấp, bù lỗ tràn lan, chúng ta chấp nhận cạnh tranh và tiến hành
cổ phần hoá những doanh nghiệp làm ăn kém hiệuquả. Một
mặt thông qua thị trờng sắp xếp lại KTNN. Mặt khác, Nhà
nớc chủ động có biện pháp thu hẹp những DNNN làm ăn thua

nghĩa vụ và quyền lợi một cách rõ ràng. Thực tiễn hiện nay
cũng đòi hỏi Nhà nớc phải có kế hoạch gấp rút đào tạo, bồi
dỡng kiến thức và nghiệp vụ quả lý kinh doanh cho đội ngũ
cán bộ quản lý thuộc các DNNN. Việc đào tạo đội ngũ cán bộ
quản lý doanh nghiệp phải đi đôi với nâng cao tay nghề cho
ngời lao động, góp phần không ngừng nâng cao năng suất lao
động xã hội.
Trong chuyển dịch cơ cấu KTNN phải hết sức coi trọng
chuyển dịch cơ cấu kỹ thuật. KTNN phải lấy khoa học, công
nghệ hiện đại thích hợp là hớng phát triển chủ yếu không
ngừng đổi mới công nghệ nhằm nâng cao chất lợng sản
phẩm, nhất là sản phẩm xuất khẩu.

1617

quan trọng hơn, điều đáng sợ là nếu những tín ngỡng
đặcbiệt đợc xem nh đặc điểm xã hội thì xã hội học sẽ cho là
không có giá trị trong bản thân các tín ngỡng.
Nh vậy, có một sự rất miễn cỡng trong hầu hết các nhà
xã hội học Mỹ có đề cập tới vấn đề tín ngỡng tôn giáo trong
bất kỳ đờng hớng nào, phản bác lại các quan niệm xã hội,
không loại trừ sự phân tích nhiều hơn các loại hình tôn giáo
bên rìa hoặc giáo phái - bằng các gắn kết của các tín đồ đó.
Thực tế là có một tình thế tiến thoái lỡng nan gay gắt về
những vấn đề này. Sự tập trung về chức năng xã hội của tôn
giáo dẫn tới quan điểm cho rằng một số hình thức tôn giáo là
điều kiện cần thiết cho mọi hệ thống xã hội. Tuy vậy nhà xã

thần học Tin lành, Paul Tillich với mục tiêu là Thợng đế là
đấng quan tâm tới chúng ta cuối cùng. Tôn giáo đã phải làm
việc với các vấn đề về "mối quan tâm cuối cùng", lập luận
rằng, mọi ngời nh là bộ mặt của động vật xã hội (9). Điều
này làm dễ dàng cho cảm giác rằng thực tế không có vấn đề cơ
bản xã hội học. Khi định nghĩa tôn giáo. Sự xác nhận ở đây là


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status