Tiểu luận: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động quảng cáo khi người tiêu dùng đã ngán doc - Pdf 20


………… o0o…………

Tiểu luận
Giải pháp nâng cao hiệu
quả hoạt động quảng cáo
khi người tiêu dùng đã
ngán
Lời mở đầu
Trong nền kinh tế thị trường với sự cạnh tranh rất cao giữa các doanh
nghiệp, để giành giật thị phần thì doanh nghiệp luôn đưa ra các chiến lược
marketing xúc tiến mạnh mẽ , trong đó không thể không kể đến quảng cáo. Mục
đích của quảng cáo là để thu hút sự chú ý của khách hàng, thuyết phục họ về
những lợi ích, sự hấp dẫn của sản phẩm nhằm thay đổi hoặc củng cố thái độ và
lòng tin tưởng của người tiêu thụ về sản phẩm của Công ty, tăng lòng ham muốn
mua hàng của họ và đi đến hành động mua hàng.Quảng cáo là một trong những
công cụ quan trọng nhất của hoạt động chiêu thị. Quảng cáo chuyển các thông tin
có sức thuyết phục đến các khách hàng mục tiêu của Công ty. Công tác quảng cáo
đòi hỏi sự sáng tạo rất nhiều. Quảng cáo là một nghệ thuật và ta có thể ưu ái dành
cho cái tên là: Nghệ thuật chiêu dụ khách hàng .
Nhưng nghệ thuật sẽ không còn là nghệ thuật nếu nó bị lạm dụng một cách
quá mức .Quảng cáo đang ngày cáng đánh mất đi bản sắc tốt đẹp của nó trong mắt
người tiêu dùng .Hiện nay ,quảng cáo xuất hiện ở khắp mọi nơi : trên truyền
hình,FM, internet,trên đường phố,trong siêu thị, sân bóng đá nhưng phần lớn là
quảng cáo lại rất “ không đúng lúc- không đúng chỗ- không đúng đối tượng” .
Việc quảng cáo thừa về lượng nhưng thiếu về chất như vậy chỉ làm cho người tiêu
dùng cảm thấy thêm chán ngán mà thôi . Vậy doanh nghiệp đưa ra nhiều quảng
cáo để được gì khi người tiêu dùng đã ngán ? Đề tài mà nhóm chúng tôi thực hiện
nhằm tìm lời giải đáp cho câu hỏi này . Bài tiểu luận được chia làm 3 chương :
Chương I : Khái quát về quảng cáo
Chương II : Quảng cáo để được gì khi người tiêu dùng đã ngán?

• Quảng cáo là một công cụ maketing quan trọng giúp nhà sản xuất đạt mục
tiêu truyền thông, một bộ phận quan trọng trong các mục tiêu maketing.
• Quảng cáo giúp thông tin, tạo ra nhu cầu, tăng mức bán, nâng cao thị phần.
• Quảng cáo giúp người sản xuất thông tin nhanh chóng cho thị trường, quảng
cáo hỗ trợ cho việc bán hàng, giảm chi phí phân phối.
• Quảng cáo tạo môi trường cạnh tranh nâng cao chất lượng, cải tiến mẫu mã,
dịch vụ.
• Quảng cáo còn là một công cụ hỗ trợ cho các công cụ khác trong maketing-
mix.
Đối với nhà phân phối.
• Thông tin quảng cáo giúp cho các nhà phân phối bán hàng nhanh hơn,
thuận lợi hơn, giảm chi phí bán hàng do mãi lưc gia tăng nhờ áp lực của
quảng cáo.
• Quảng cáo giúp thiết lập quan hệ tốt giữa nhà phân phối và khách hàng.
Đối với người tiêu dùng.
• Quảng cáo cung cấp những thông tin về hàng hóa, dịch vụ, trang bị cho
người tiêu dùng những kiến thức cần thiết để lựa chọn cho sản phẩm trước
khi mua sắm.
• Giúp người tiêu dùng tiết kiệm thời gian tìm kiếm, mua sắm, và cả tiền bạc.
• Quảng cáo giúp người tiêu dùng nâng cao trình độ nhận thức sản phẩm, dịch
vụ đang lưu thông trên thị trương, nhắc nhỡ thúc đẩy họ thay đổi việc sử
dụng sản phẩm.
Đối với xã hội.
• Quảng cáo góp phần tài trợ cho các nội dung giá rẻ và miễn phí trên
Internet, TV, báo chí và các phương tiện truyền thông khác".

1.3 Chức năng của quảng cáo
 Thông tin: mục đích của quảng cáo là nhằm thông tin, thu hút và tăng sự
ham muốn mua hàng của người tiêu dùng về lợi ích, sự hấp dẫn, tính tiện ích
của sản phẩm qua những thông số về kỹ thuật, kinh tế của sản phẩm.

nào đó hoặc thay đổi quan niệm sai lệch về sản phẩm hay muốn bổ sung một tính
năng mới mà khách hàng chưa từng nghĩ đến,hoặc muốn giữ lại khách hàng có ý
định chuyển sang sử dụng sản phẩm nhãn khác.
Thúc đẩy hành động mua sản phẩm của người tiêu dùng
Thúc đẩy khán giả đi đến hành động mua sản phẩm và xảy ra càng sớm càng
tốt. Hành động mua sản phẩm trực tiếp có thể gọi điện thoại,gửi thư hoặc fax đơn
đặt hàng, làm cho khán giả hình thành quyết định mua săm ngay lập tức.
Củng cố thái độ.
Doanh nghiệp có sản phẩm hàng đầu trên thị trường áp dụng để giữ thị phần
và doanh số của mình. Những công ty này đưa ra một sản phẩm mới nhưng mục
tiêu chính của họ là làm cho người tiêu dùng luôn nhớ tới tên tuổi của mình và gắn
bó với nhãn hiệu.
1.5 Phương tiện quảng cáo
Quảng cáo đến với công chúng bằng nhiều hình thức. Ta có thể chia quảng
cáo thành các nhóm chính như sau:
-Các phương tiện nghe nhìn: bao gồm truyền hình, trên đài phát thanh và trên
Internet, trong đó, quảng cáo trên truyền hình là hình thức phổ biến nhất và có
phạm vi tác động rất rộng, lại vừa có thể truyền tải hình ảnh và âm thanh chân
thực đến người xem.
- Các phương tiện in ấn: gồm có báo chí, tạp chí, tờ rơi, niên giám…mà quảng cáo
trên báo chí và tạp chí là hai hình thức được áp dụng nhiều nhất Quảng cáo bằng
báo chí có thể kết hợp cả ngôn ngữ và hình ảnh, có thể được truyền tay nhau, được
lưu giữ hoặc đọc lại.
-Các phương tiện quảng cáo ngoài trời: bạn có thể thấy loại hình quảng cáo này ở
bất cứ đâu, đặc biệt là những nơi có mật độ người qua lại cao như các công viên,
ngã tư, và các đường phố chính. Quảng cáo ngoài trời gồm: hộp đèn quảng cáo,
biển quảng cáo điện tử, áp phích, pa-nô…
-Các phương tiện quảng cáo di động: quảng cáo trên phương tiện giao thông như
xe buýt hay taxi và trên các vật phẩm quảng cáo như áo phông, mũ, áo mưa, túi
xách, ba lô…

Thời đại thông tin bùng nổ, truyền hình vẫn là phương tiện quảng cáo được
ưa chuộng nhất, đông người xem nhất,có khả năng thu được lợi nhuận nhanh và
nhiều nhất. Chính vì thế, quảng cáo trên truyền hình được xem là phương tiện đạt
hiệu quả nhanh nhất với nhà sản xuất, là nguồn thu lớn và chủ yếu đối với các đài
truyền hình. Có những đoạn phim quảng cáo trên truyền hình có hình ảnh, lời nói
minh họa cho các sản phẩm được trau chuốt, chọn lọc , slogan độc đáo .Nhờ
vậy ,nhiều sản phẩm chiếm được tình cảm của người xem, một phần lớn nhờ vào
phim quảng cáo ấn tượng. Mọi người vẫn còn nhớ đoạn quảng cáo chai bia Sài
Gòn với câu: Có thể bạn không cao, nhưng người khác vẫn phải ngước nhìn. Các
em nhỏ rất thích mẩu quảng cáo về sữa tươi của Vinamilk, vì hình ảnh các chú bò
ngộ nghĩnh, bài hát vui nhộn . Quảng cáo vẫn còn sức hút với khán giả nếu nó
được đầu tư dàn dựng một cách sáng tạo , công phu .
Những đài truyền hình lớn như VTV, HTV , BTV đạt doanh thu quảng
cáo cao ngất ngưởng. Trước đây thời lượng quảng cáo của VTV phân bố rộng
khắp nhưng nay được chọn lọc dồn vào những giờ nhất định, tập trung nhất là vào
giờ vàng trên kênh VTV1 và VTV3. Vấn đề đáng bàn nhất với quảng cáo trên
truyền hình hiện nay, chính là thời lượng phát sóng. Pháp lệnh quảng cáo, Chương
2, Điều 10 về quảng cáo rất rõ: “Báo hình được quảng cáo không quá 5% thời
lượng của chương trình, trừ kênh chuyên quảng cáo; mỗi đợt phát sóng đối với
một sản phẩm quảng cáo không quá 8 ngày, trừ trường hợp đặc biệt do Chính phủ
quy định; mỗi ngày không quá 10 lần; các đợt quảng cáo cách nhau ít nhất 5 ngày;
không quảng cáo ngay sau hình hiệu, trong chương trình thời sự”. Hầu hết nhà đài
đều vi phạm quy định về quảng cáo.
Theo quy định, quảng cáo chiếm 5% thời lượng phát sóng. Nhưng quy định này
không rõ ràng nên nhà đài vẫn có thể “lách” được. Đối với những đài truyền hình
lớn, phát sóng 24/24 giờ thì 5% dành cho quảng cáo là thời lượng không nhỏ.
Hình 2.2 BẢNG GIÁ QUẢNG CÁO GIỜ VÀNG TRÊN VTV
THỜI GIAN
DIỄN GIẢI
GIÁ QUẢNG CÁO (Đơn vị tính: VNĐ/TVC)

5

Nhãn hàng bột giặt Omo (Tập đoàn Unilever) 9,8 triệu USD
Nhằm mang lại hiệu quả tối đa cho việc quảng bá thương hiệu, các doanh
nghiệp đang đổ xô vào mua quảng cáo , đặc biệt trên các phim truyền hình. Và với
những bộ phim có lượng người xem cao, quảng cáo luôn được lồng ghép khá
nhiều vào thời gian phát sóng.Hiện nay, nhiều nhà sản xuất đã và đang tung ra các
chiêu quảng cáo sản phẩm của mình ngày một độc đáo hơn, ấn tượng hơn. Tuy
nhiên để tạo ra những ấn tượng mạnh trong quảng cáo đã có không ít những hình
ảnh quảng cáo rất phản văn hóa.
Đáng phê phán hơn ,hiện nay quảng cáo còn bị một số doanh nghiệp lạm dụng
nhằm quảng bá thương hiệu, sản phẩm một cách sai sự thật. Các hãng sữa, "đao
phủ" đối với ngân quỹ của các ông bố, bà mẹ trẻ, thường có đợt tăng giá mới.
Trước đó, một trong những lý do được đưa ra nhằm bảo vệ việc tăng giá là họ bỏ
công sức, tiền của nghiên cứu, tạo ra loại sữa được bổ sung nhiều DHA, vitamin,
khoáng chất tốt cho sự phát triển thể chất, trí tuệ con em chúng ta. Dĩ nhiên, họ
không quên quảng cáo cho những "thành tựu " này. Nhưng hàm lượng DHA,
vitamin, khoáng chất có đúng như họ quảng cáo? Nhiều khảo sát cho thấy không
có bằng cứ kiểm định hoặc thấp hơn nhiều chỉ số in trên vỏ hộp.
Về phía người tiêu dùng
Phần lớn quảng cáo chỉ phát vào những giờ, những chương trình có đông
người xem nhất như: chương trình ca nhạc, chiếu phim, vì thế tần suất các phim
quảng cáo trở nên dày đặc, khiến người xem phải chờ đợi lâu. Khán giả bực mình
vì đang xem phim phải ngừng giữa chừng 2 đến 3 lần vì quảng cáo. Với những bộ
phim hay, được nhiều người xem chú ý, những tập càng về sau, thời lượng quảng
cáo gần bằng với thời lượng một tập phim. Nhiều chương trình, người xem rất khó
chịu vì những hàng chữ chạy dưới mà nội dung chẳng ăn nhập gì với chương trình
đang phát sóng!
Những phim Việt Nam chiếu khung giờ vàng (20-22h) như Chạy án, Cô gái
xấu xí, Những người độc thân vui vẻ… thời gian gần đây thu hút khá nhiều sự

phẩm, dịch vụ có nhiều hơn một đối tượng khách hàng, có khi dành cho đại chúng
– không phân biệt tuổi tác, giới tính, thu nhập, tầng lớp . Nhưng, dù gì thì trong
mỗi một đối tượng khách hàng lại có rất nhiều điểm khác nhau: họ ở những nơi
khác nhau, họ có những thói quen khác nhau, những nơi họ thường xuyên đến
khác nhau, kiểu quan sát của họ khác nhau, cách tiếp nhận thông tin khác nhau,
tính cách khác nhau .
Để thông điệp của sản phẩm hoặc thương hiệu tiếp cận được với khách
hàng tiềm năng, doanh nghiệp phải sử dụng nhiều hình thức quảng cáo thông qua
nhiều phương tiện thông tin đại chúng khác nhau. Bởi, quảng cáo trên truyền hình
dù được phủ sóng khắp nơi cũng sẽ không đến được với những người không dành
thời gian cho tivi, quảng cáo trên báo dù phát hành cả nước cũng sẽ không tiếp xúc
được với những ai không dành thời gian đọc báo, quảng cáo trên radio dù phủ
nhiều kênh cũng sẽ không “lọt tai” những ai không có thói quen nghe đài, hay các
hình thức quảng cáo ngoài trời cũng có những hạn chế về vị trí và tần số xuất
hiện… Vì vậy, hầu hết các doanh nghiệp ngày nay đều sử dụng kết hợp nhiều
kênh truyền thông khác nhau với mục tiêu tăng cường tiếp cận khách hàng, giới
thiệu về sản phẩm, dịch vụ của mình, thông tin về các đặc điểm và lợi ích của sản
phẩm cũng như thúc đẩy khách hàng mua sắm.Ví dụ như : các doanh nghiệp kinh
doanh sản phẩm tiêu dùng thịnh hành như bột giặt, dầu gội đầu ,sữa tắm …liên tục
quảng cáo trên rất nhiều phương tiện đại chúng với mật độ hết sức dày đặc . Khi
“phủ sóng” nhiều kênh quảng cáo như vậy, các doanh nghiệp vừa muốn tăng cơ
hội tiếp cận khách hàng tiềm năng, vừa muốn tác động liên tục đến khách hàng.
Họ có thể thấy quảng cáo trên đường đi làm, nghe quảng cáo khi đi taxi, xem
quảng cáo khi đọc báo, nhìn quảng cáo khi đi thang máy, thấy quảng cáo khi đi
ăn… Những nghiên cứu của Viện Gallup (Hãng nghiên cứu thị trường lớn nhất
của Mỹ): Vào năm 1965, chỉ cần chạy một quảng cáo tivi 3 lần trong 3 ngày liên
tục vào giờ cao điểm trên một kênh truyền hình quốc gia, thì có thể đạt được mức
độ nhận biết thương hiệu của nhóm các bà nội trợ là 90% , còn năm 2002, số lần
chạy quảng cáo cần thiết để đạt được mức nhận biết 90% là 137 lần vào giờ cao
điểm. Vì thế quảng cáo càng nhiều thì cơ hội để thương hiệu của doanh nghiệp

giải vô địch bóng bầu dục Mỹ Super Bowl. Kết quả là vào thời điểm đó , doanh số
Hyundai đã tăng 25% bất chấp bất chấp doanh số toàn thị trường xe hơi Mỹ cùng
sụt 38,4%.Việc duy trì quảng cáo trong thời kỳ khó khăn, giữa lúc các đối thủ
cạnh tranh làm ngược lại, có thể giúp gia tăng thị phần, lợi nhuận với một mức phí
tổn ít hơn so với thời điểm kinh tế thuận lợi. Như vậy, tuy không phải là công cụ
duy nhất, nhưng quảng cáo chính là công cụ hỗ trợ rất đắc lực cho việc xây dựng
thương hiệu trong thời kỳ suy thoái.
2.2.2 Quảng cáo vừa là bảo vệ thị phần vừa là gây sức ép lên đối thủ
Khi sản phẩm mới ra đời thì quảng cáo sẽ giúp giới thiệu các tính năng của
sản phẩm, nơi nào có thể mua được sản phẩm và thậm chí giá cả của sản phẩm.
Khi sản phẩm đã có chỗ đứng trên thị trường thì quảng cáo lúc này lại mang vai
trò thuyết phục khách hàng tiếp tục duy trì mua và sử dụng sản phẩm. Các nhãn
hiệu như Compaq, Dell, SAP, Oracle, Cisco, Microsoft, Starbucks, và Wal-Mart
đều được sinh ra từ làn sóng quảng bá ồ ạt. Khi quảng bá lắng xuống, các nhãn
hiệu nói trên đều đã chuyển sang hoạt động quảng cáo để bảo vệ thị phần của
mình. Việc giữ thị phần rất quan trọng, vì:
- Chi phí dành cho khách hàng mới luôn cao hơn chi phí để giữ chân khách
hàng cũ.
- Kiếm một khách hàng mới luôn khó khăn hơn việc giữ chân khách hàng
cũ.
- Khi một hệ thống khách hàng cũ đã trở thành khách hàng thân thiết thì nó
sẽ tạo ra một nền tảng vững chắc cho sự phát triển của doanh nghiệp, đặc biệt là
trong nền kinh tế cạnh tranh khốc liệt như hiện nay.
Chẳng sớm thì muộn, một nhãn hiệu hàng đầu phải chuyển chiến lược xây
dựng nhãn hiệu của mình từ quảng bá rầm rộ sang quảng cáo để bảo vệ địa vị. Chi
phí quảng cáo càng cao thì đối thủ cạnh tranh càng khó có cơ hội tiếp cận được thị
phần . Các nhãn hiệu hàng đầu không xem ngân sách quảng cáo là những khoản
đầu tư sinh lãi hay cổ tức. Quảng cáo tự nó không đem lại lợi nhuận, nhưng với
những nhãn hiệu hàng đầu thì quảng cáo sẽ khiến cho đối thủ cạnh tranh phải trả
một giá cắt cổ để có thế cạnh tranh . Một nhãn hiệu hàng đầu còn cần quảng cáo

tươi 100%”, “sữa tươi tiệt trùng”… nên hình thành cho người tiêu dùng một trạng
thái: Khi nhắc đến sữa tươi Vinamilk, ai cũng nghĩ rằng:”100% nguyên chất
“,một sự khẳng định chất lượng sữa Vinamilk khi mà người dùng đang rất băn
khoăn nghi ngờ về độ an toàn của các loại sữa sau scandal chất lượng kém, chứa
melamine , ẩm mốc, vị chua…Trên thế giới , cũng không ngoại lệ , như trường
hợp của BP , ngay sau thảm họa tràn dầu ở vịnh Mexico vừa qua , tập đoàn dầu
này đã chi tới hơn 93 triệu USD , gấp 3 lần số tiền quảng cáo cùng kỳ năm 2009 ,
để được xuất hiện trên khắp báo chí và truyền hình Mỹ . Mục tiêu của BP là để
thông báo cho công chúng về những nỗ lực làm sạch dầu và quá trình giải quyết
khiếu nại của người dân về việc bồi thường hậu quả sau sự cố trên. Hay như
Toyota, sau hàng loạt vụ thu hồi xe có vấn đề, nhằm lấy lại niềm tin vào chất
lượng xe của khách hàng Châu Âu , nhà sản xuất ô tô hàng đầu thế giới này đã
quyết định chi 26,3 triệu USD cho chiến dịch quảng cáo mang tên “Toyota của
bạn cũng là Toyota của chúng tôi” trên các kênh truyền hình, báo giấy và báo
online nhằm gửi gắm thông điệp Toyota cam kết đảm bảo chất lượng và tiêu
chuẩn an toàn đồng thời làm cho khách hàng tin rằng tất cả mọi công nhân đều
chăm sóc mỗi chiếc xe của khách hàng cẩn thận như chăm sóc chính chiếc xe của
họ.
2.4 Quảng cáo để củng cố hình ảnh thương hiệu
Quảng cáo không chỉ đơn thuần hỗ trợ cho sản phẩm hoặc dịch vụ mà còn
là công cụ để củng cố vị trí một thương hiệu mạnh. Không có thương hiệu nào trở
nên nổi tiếng nếu không có quảng cáo, dù bằng cách này hay cách khác. Quá trình
lập đi lặp lại quảng cáo sẽ làm thương hiệu in sâu vào tâm trí người tiêu dùng.
Thương hiệu chính là tài sản vô giá của mỗi doanh nghiệp và quảng cáo chính là
công cụ lý tưởng để doanh nghiệp truyền thông về hình ảnh của thương hiệu của
mình . Một thương hiệu mạnh luôn gắn liền với những hình ảnh, những biểu tượng
đặc trưng - tạo nên sự khác biệt và tạo ấn tương mạnh về thương hiệu. Việc dùng
quảng cáo để tạo ra một nhân vật, hoặc một biểu tượng đại điện cho thương hiệu
đã giúp tạo nên nhiều thương hiệu nổi tiếng ngày nay như: Chàng Cow Boy của
Marlboro, Chú sư tử của Kem Wall, Chàng hề Ronan của McDonald’s, Chuột

Trong bối cảnh hiện nay, với sự xuất hiện và tham gia ngày càng nhiều
thương hiệu đa quốc gia vào thị trường Việt Nam, hình thành nên sự cạnh tranh
khốc liệt giữa các doanh nghiệp trong nước với các doanh nghiệp quốc tế để tồn
tại, phát triển cũng như khẳng định vị thế sân nhà. Quảng cáo đã trở thành một
công cụ đắc lực trong cuộc chiến khẳng định thương hiệu. Đây là một thực tế
không thể phủ nhận.
Chương III: Giải pháp để quảng cáo hiệu quả với
doanh nghiệp và người tiêu dùng
3.1 Triển vọng hoạt động quảng cáo
Đầu tư của các doanh nghiệp châu Á cho quảng cáo và tiếp thị đang trở lại
mức trước khủng hoảng. Khi nhu cầu tiêu dùng ngày càng tăng, thì kỳ vọng về sự
phục hồi và khởi sắc của ngành quảng cáo càng lên cao. Năm 2009, trong khi ở
hầu hết các nước, thị trường quảng cáo có mức tăng trưởng khiêm tốn hoặc suy
giảm, thì thị trường Việt Nam vẫn giữ mức tăng trưởng tương đương với năm vừa
qua. Việt Nam hiện có khoảng 5000 đơn vị làm quảng cáo và hàng trăm nghìn
doanh nghiệp có nhu cầu lập bộ phận quảng cáo riêng. Bên cạnh đó còn có cả một
hệ thống bao gồm trên 80 Đài phát thanh, truyền hình và trên 500 cơ quan báo chí
cũng có các bộ phân quảng cáo riêng. Trong bối cảnh đó các doanh nghiệp chỉ cần
có nhu cầu và khả năng tài chính cho phép là sẽ được đáp ứng nhu cầu quảng bá
sản phẩm của mình một cách dễ dàng.
Mặt khác , Dự thảo về Luật Quảng cáo đã ra đời vào tháng 2-2009 và dự
kiến sẽ được Quốc hội thông qua vào năm 2010. Theo Dự thảo Luật, quảng cáo
trên báo in không được quá 10% và tạp chí là không quá 20%. Dự thảo Luật
Quảng cáo đưa ra khá nhiều nội dung mang tính chất bó hẹp đối với quảng cáo
trên truyền hình, phát thanh. Theo Dự thảo, không được quảng cáo trong các
chương trình có thời lượng phát sóng dưới 15 phút, các chương trình có thời lượng
phát sóng từ 15 đến 30 phút được quảng cáo 1 lần, đến 60 phút được quảng cáo 2
lần và trên 60 phút được quảng cáo 3 lần, mỗi lần không quá 5 phút. Việc ra đời
của Luật Quảng cáo vào lúc này là rất cần thiết , cấp bách . Thị trường quảng cáo
Việt Nam đang phát triển rất nhanh nhưng lại nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp và

làm tiêu dùng ngán ngẩm, các nhà tiếp thị cần phải là những suy nghĩ sáng tạo ,
độc đáo .Một ý tưởng gọi là sáng tạo được chuyển tải hấp dẫn, dễ hiểu, dễ nhớ trên
các phương tiện truyền thông; phải nói được điều cốt lõi mà sản phẩm sẽ mang
đến người tiêu dùng. Một số ý tưởng quảng cáo hay như :
“Có thể bạn không cao nhưng người khác cũng phải ngước nhìn'' gắn liền với
bia Saigòn Special. Ý tưởng của quảng cáo này xuất phát từ kiểu dáng chai thấp
đặc trưng của Saigon Special.
Sữa Vinamilk đã đưa đến cho khách hàng thông điệp về sữa tươi nguyên chất
100% bằng đoạn quảng cáo sinh động là những chú bò sữa nhảy và hát “trăm
phần trăm , sữa tươi nguyên chất trăm phần trăm”.
Heiniken với đoạn quảng cáo khá đơn giản : phụ nữ thích mua sắm còn đàn ông
thích bia cùng với thông điệp : “Chỉ có thể là Heiniken” cũng đủ sức gây ấn
tượng mạnh với khán giả .
Bên cạnh sự sáng tạo , quảng cáo phải phù hợp với văn hóa và tâm lý của
mỗi dân tộc. Đôi khi những nhà quảng có ý tưởng rất hay nhưng khi thể hiện lại
không phù hợp với văn hóa. Ngày nay, uy tín và thương hiệu của các công ty nước
ngoài ngày càng tăng một phần là do cách quảng cáo phù hợp với văn hóa Việt
Nam, thuyết phục được người tiêu dùng vì vậy sản phầm của họ thu hút được
khách hàng. Công ty nghiên cứu thị trường Cimigo vừa công bố 10 quảng cáo
thành công nhất trên các kênh truyền hình của Việt Nam dựa vào cuộc khảo sát do
Cimigo tiến hành đã thu được 22.000 đánh giá cho hơn 140 TVC. Những quảng
cáo truyền hình thành công nhất đều có một điểm nhấn sáng tạo đó là thu hút sự
chú ý của khán giả và nhiều quảng cáo truyền hình thành công vì đã gây xúc động
cho người Việt hoặc mang đậm tính hài hước.
Hình 3.1 : DANH SÁCH TOP 10 TVC ẤN TƯỢNG
Hạng Nhãn hàng TVC Thông điệp
1 Vinamilk Bóng bay Uống Vinamilk đóng góp 6 triệu
ly sữa cho trẻ em nghèo
2 Vinamilk Đàn bò nhảy múa 100% sữa tươi nguyên chất
3 Simply Trẻ em Uống sữa đậu nành Simply mang

ra .
Chu trình mua sắm sản phẩm: Tần suất nhóm khách hàng chủ yếu của
quay trở lại với sản phẩm/dịch vụ như thế nào? Ví dụ : Người ta mua thực phẩm
thường xuyên hơn là mua trang sức.
Môi trường tâm lý: Biến đổi tâm lý của khách hàng sẽ thế nào, nếu họ
nhìn/nghe thấy quảng cáo ? - Người ta thường tiếp nhận thông tin theo các cách
hoàn toàn khác nhau tại những thời điểm khác nhau :sáng đọc báo , chiều lướt web
còn tối xem tivi chẳng hạn .

Trích đoạn Quảng cáo kết hợp PR hướng đến khách hàng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status