BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC
KHOA
Tiểu luận
Trình bày thực trạng và
giải pháp về vấn đề thù lao
lao động tại một doanh
nghiệp - công ty cổ phần
bưu chính Viettel
Học Viện Tài Chính
1
Lớp CQ46/32.02
Nhóm 8
BÀI TẬP QUẢN TRỊ NGUỒN NHÂN LỰC
Đề Tài : Trình bày thực trạng và giải pháp về vấn đề
thù lao lao động tại một doanh nghiệp.
Giáo viên: Võ Thị Vân Khánh
Sinh viên thực hiện: Nhóm 8
Danh sách nhóm:
1. Lê Thị Như Trang
2. Đào Minh Thúy
3. Vũ Thị Phượng
4. Nguyễn Đình Tuyền
5. Nguyễn Thúy Quỳnh
6. Nguyễn Văn Tỉnh
7. Nguyễn Văn Tùng
8. Trần Tiến Thắng
9. Hồ Thị Bạch Vân
2
VẤN ĐỀ THÙ LAO LAO ĐỘNG
TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN BƯU CHÍNH
Vốn điều lệ : 60.000.000.000 đồng (Sáu
mươi tỷ đồng)
Ngày 1-7-1997 Trung tâm phát hành báo chí - tiền thân của Công ty
Bưu chính Viettel được thành lập . Và đến 27-7-1993 theo quyết định
336/QD-QP của Bộ quốc phòng Công ty Bưu chính Viettel trực thuộc Tổng
Công ty Viễn thông Quân đội Viettel được chính thức ra đời đã triển khai
dịch vụ bưu chính đáp ứng nhu cầu xã hội đồng thời đánh dấu một bước đổi
mới trên thị trường kinh doanh dịch vụ bưu chính còn đang bỏ trống và phá
vỡ sự độc quyền trong lĩnh vực kinh doanh này tại Việt Nam. Trong quá
trình hoạt động kinh doanh và phát triển, Công ty Bưu chính đã khẳng định
được vị trí của mình trên thị trường , sau 10 năm hoạt động công ty đã đạt
4
mức doanh thu 200 tỷ đồng. Với 4 trung tâm khai thác, 1 trung tâm phát
triển dịch vụ viễn thông, 2 trung tâm phát hành báo, 2 bưu cục ngoại dịch,
100 bưu cục thu phát, 35 bưu cục phát. Dịch vụ có mặt tại 64 tỉnh, thành
phố; kinh doanh trong 3 lĩnh vực chuyển phát nhanh, phát hành báo và làm
đại lý dịch vụ viễn thông của Tổng công ty Viettel, Bưu chính Viettel đã trở
thành nhà cung cấp dịch vụ thứ 2 sở hữu một mạng lưới bưu chính bền vững
trên khắp 64 tỉnh thành.
Triết lý kinh doanh
• Mỗi khách hàng là một con người – một cá thể riêng biệt cần được tôn
trọng, quan tâm và lắng nghe, thấu hiểu và phục vụ một cách riêng biệt. Liên
tục đổi mới, cùng với khách hàng sáng tạo ra các sản phẩm dịch vụ ngày
càng hoàn hảo.
• Nền tảng cho một doanh nghiệp phát triển là xã hội. VIETTEL cam kết
tái đầu tư cho xã hội thông qua việc gắn kết các hoạt động sản xuất kinh
doanh với các hoạt động xã hội, hoạt động nhân đạo.
• Chân thành với đồng nghiệp, cùng nhau gắn bó, góp sức xây dựng
mái nhà chung VIETTEL.
II. Thực trạng thù lao lao động tại doanh
Về phía người lao động thì nhờ vào tiền lương mà họ có thể
nâng cao mức sống giúp họ hòa đồng với văn minh và xã hội.
6
2. Thực trạng thù lao lao động tại công ty.
2.1 Cơ cấu thù lao lao động
Cơ cấu thù lao lao động gồm thù lao cơ bản, các khuyến khích tài chính, các
phúc lợi và các yếu tố phi tài chính.
A, Thù lao cơ bản: (tiền lương và tiền công): Ở Viettel thì việc tính lương
như sau:
- Tính lương cứng dựa trên cơ sở thâm niên công tác và hệ số chức danh
hiện đang hưởng
- Tính lương chức danh: phần lương này trả cho lao động căn cứ theo chức
danh công việc họ đảm nhận, mức độ hoàn thành công việc và năng suất làm
việc, qui mô thị trường hoạt động
để xác định được lương Viettel căn cứ vào KI đây là chỉ số đảnh giá mức độ
hoàn thành công việc cả về số lương và chất lượng. Tùy theo từng công ty
thành viên hoạt đông ở lĩnh vực nào sẽ có cách tính KI khác nhau
Ngoài ra có: Tiền lương làm đêm:
- CBCNV làm đêm (từ 22 giờ hôm trước đến 6 giờ sáng hôm sau) thì
được trả thêm bằng 30% tiền lương chức danh (T
CDI
) của công việc đang
đảm nhận vào ban ngày.
- Nhân viên phát hành báo chí tại các Bưu cục có thời gian làm việc từ
3 giờ sáng được hưởng phụ cấp 150.000 đ/người/tháng.
- Nhân viên phát hành báo chí tại các Bưu cục có thời gian làm việc từ
6 giờ sáng được hưởng phụ cấp 50.000 đ/người/tháng.
Tiền lương làm thêm giờ: Tiền lương làm thêm giờ được tính theo
tiền lương chức danh (T
CDI
Thực hiện tốt việc trích nộp các khoản liên quan đến người lao động như
BHYT, BHXH, KPCĐ.
Mua bảo hiểm tai nạn cho những CBCNV thường xuyên đi trên đường với
mức 56.000Đ người / 560 người.
Các ngày lễ tết luôn có chế độ tiền thưởng phù hợp, có trả thêm tháng lương
thứ 13, viettel cung thường tổ chức các chương trình giải trí liên hoan văn
nghệ giữa các tập thể, tham quan nghỉ mát, đặc biệt có câu lạc bộ bong đá
viettel là sân chơi bổ ích cho toàn cán bộ công nhân viên của họ
Không chỉ với nhân viên của mình mà viettel còn quan tâm đến cả người
than của họ: hàng năm viettel luôn gửi thư chúc tết, quà và cả tiền ( 500k
đến 1triệu) tới gia đình của cán bộ, nhân viên của mình. Đây là 1 việc làm
rất ý nghĩa thể hiện sự tri ân và tạo động lực cho nhân viên của mình.
D, Các yếu tố phi tài chính : yếu tố thuộc bản thân công việc và môi trường
làm việc
Nhắc đến viettel là liên tưởng đến hình ảnh của những người lính làm viễn
thông, có qui mô lớn và cũng là niềm mơ ước của nhiều người.
Môi trường làm việc : làm việc với tác phong của người lính có lỉ luật, đoàn
kết gắn bó giúp đỡ lẫn nhau, năng động . viettel luôn có những qui định, chế
tài xử phạt rõ rang nghiêm mình, ở viettel thi tất cả các nhân viên đều phải
có 1 thống nhất chung và nó đã trở thành 1 nét riêng có của người viettel về
time làm việc: đến chỗ làm trước 5 phút mới là đi làm đúng giờ’
Hiện nay viettel đang là 1 trong các tập đoàn lớn của VN, lợi nhuận hàng
năm lớn, là 1 thương hiệu lớn vì vậy việc được làm việc cho họ là rất đúng,
9
là nơi có thể thể hiện được bản than có cơ hội thăng tiến và phát triển nghề
ngiệp. Người Viettel rất tự hào về mình.
2.2 Các nhân tố ảnh hưởng.
thực chất của việc nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến thù lao lao động
chính là việc xem xét sự ảnh hưởng của các yếu tố đó đến tiền lương, tiền
công của người lao động. những yếu tố đó bao gồm:
tương đối ổn định xong trong thời kỳ vừa qua lạm phát liên tục tăng cao đặc
biệt từ đầu năm tới giờ , lãi suất ngân hàng tăng …
những khó khăn, những thực trạng kinh tế đặt ra cho cuộc sống của mỗi cá
nhân những đòi hỏi để đảm bảo cuộc sống .
doanh nghiệp cần chý ý các yếu tố này tiến hành kinh doanh đạt hiệu quả tạo
lợi nhuận ,cân đối thù lao đảm bảo thoả mãn cho các cá nhân nhắm giữ cũng
như thu hút lao động.
d. Các tổ chức công đoàn
Công đoàn là tổ chức chính tri xã hội rông lớn của công nhân và của
người lao động việt nam. Nó có vai trò ngày càng mở rộng trong hội
nhập kinh tế quốc tê giải quyết các quan hệ ngày càng phức tạp và đa
dạng
e. Thị trường lao động:
Hiện nay thị trường lao động trong nước đang rơi vào tình trạng thiếu cân
bằng giữa cung và cầu về lao động, chất lượng lao động cũng như năng suất
lao động còn thấp(2/3 trong số việc làm là không bền vững),chênh lệch tiền
lương có xu hướng tăng dần, mặc dù đang từng bước cải thiện nhưng tình
trạng thừa lao động chân tay thiếu lao động lành nghề vẫn còn tồn tại. Chất
11
lượng lao động hay vấn đề thừa, thiếu lao động là những vấn đề đáng quan
tâm nó quyết định đến thù lao của người lao động.
f. Kinh doanh trong lĩnh vực bưu chính mang lại những khó khăn
trong việc thu hút lực lượng lao động, tính đến năm 2008 lao động trong
ngành bưu chính là 48 nghìn người doanh thu đạt 6-7 nghìn tỷ đồng
không hấp dẫn được người lao động. Tuy nhiên những năm gần đây đã
có những biến chuyển tốt, khắc phục khó khăn phát triển mạnh, ngày
càng có sức hấp dẫn đối với nhiều lao động nước ta hiện nay . Đây là
ngành có nhu cầu nhân lực cao nhất trong nền kinh tế với mức lương
bình quân 5.5trđ năm 2010; tiềm năng dồi dào về lực lượng lao động trẻ
được đào tạo bài bản , tuy nguồn lao động phục vụ ngành không thiếu
h. Mong đợi của xã hội:
Xã hội mong đợi ở công ty không chỉ là mong đợi về vật chất với mức
lương phù hợp, mà còn mong đợi hơn ở công ty những đáp ứng về tinh
thần. Đáng tự hào hơn nữa đó là đóng góp chung tay góp sức vì xã hội sự
tiến bộ, văn minh công bằng .Làm được điều đó đối với công ty sẽ là
thành công lớn tạo sức hấp dẫn rất lớn đối với lao động
2.2.2.Các yếu tố thuộc về doanh nghiệp :
Công ty cổ phần bưu chính viettel là 1 doanh nghiệp có quy mô lớn với
mức vốn điều lệ 60 tỷ đồng , sau 10 năm hoạt động doanh thu đạt 200 tỷ
đồng (2007) và đến 25/09/2010 mức doanh thu 362 tỷ đồng với 1300 lao
động, điều đó chứng tỏ doanh nghiệp có đủ khả năng chi trả cho lực lượng
lao động trong doanh nghiệp và thậm chí còn chi trả cao hơn mức trung bình
của thị trường lao động. Doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực bưu chính
với công nghệ tiên tiến hiện đại thu hút nhiều nhân lực cho doanh nghiệp .
13
Những năm gần đây ngành bưu chính đem lại doanh thu cho tương đối cho
ngân sách nhà nước tạo hấp dẫn cho người lao động khi tham gia vào
ngành. Lĩnh vực có nguồn nhân được đào tạo tại các trường như học viện
công nghệ bưu chính viễn thông và các trường đaih học cao đẳng đào tạo
cán bộ khác tuy nhiên lực lượng lao động thành thạo chưa có nhiều . Hiện
nay bộ bưu chính viễn thông đã tích cực thực hiện chính sách tích cực để bổ
sung nguồn lực cho lĩnh vực này .
Một tổ chức công đoàn là không thể thiếu trong tình hình kinh tế hiện nay
và công ty cổ phần bưu chính viettel cũng không phải là ngoại lệ với phòng
tổ chức lao động (vai trò của phòng này đã được trình bày) .
Là 1 thành viên của tập đoàn viễn thông quân đội viettel công ty cũng tuân
thủ những triết lý kinh doanh , những bài học , những chuẩn mực, đạo đức
riêng của người viettel. Công ty trả lương trả công cho người lao động đúng
theo năng lực và cống hiến của họ với tiêu chí công bằng, cộng thêm thưởng
hay những hậu đãi khác, và việc thăng chức dựa vào năng lực, trình độ và
. Chuẩn mực Người Viettel:
a. Có khát vọng xây dựng Viettel thành một Tập đoàn hùng mạnh.
b. Trung thực, đoàn kết, biết ơn người đi trước.
c. Luôn đặt lợi ích tập thể lên trước.
d. Tư duy đột phá và dám làm việc khó.
e. Dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm.
15
f. Chấp nhận gian khổ.
g. Tự lực, tự cường.
h. Tỷ mỉ, triệt để.
Quy tắc ứng xử: gồm các quy tắc ứng xử tại nơi làm việc, ứng xử trong
công việc, ứng xử giữa những người Viettel với nhau, ứng xử của lãnh đạo
Viettel, ứng xử với đối tác và ứng xử với khách hàng. Trong các quy tắc này
thể hiện rất rõ nét trách nhiệm cao của người Viettel
- Cố gắng:yêu cầu về thể lực, trí lực, quan tâm tới những điều cụ thể chi
tiết, những yêu cầu quan tâm khác
- Điều kiện làm việc: các điều kiện của công việc như ánh sáng, tiếng
ồn, bụi…và các rủi ro khó tránh.
2.2.4. Yếu tố thuộc về cá nhân người lao động: tác động rất lớn đến
việc trả lương. Mức tiền công phụ thuộc vào mức độ hoàn thành công
việc, trình độ, kinh nghiệm, thâm niên công tác, sự trung thành, tiềm
năng của người lao động.
Cụ thể Viettel đã có những chính sách rất tích cực để nhân viên của
mình cảm nhận được rằng Viettel là nơi mỗi cá nhân đều tự hào về
công việc của mình cũng như tài năng và công sức đóng góp đều được
công nhận xứng đáng. Viettel ngoài lương cứng còn có lương thưởng
theo năng suất, theo chất lượng công việc. Viettel luôn tổ chức kiểm
tra kiến thức và kỹ năng của nhân viên thường xuyên cũng như xây
dựng chiến lược đào tạo bài bản kỹ càng(ví dụ cho vị trí nhân viên
tổng đài được đào tạo từ 1 đến 1,5 tháng). Nếu như ở một số công ty
năng suất lao động và chất lượng sản phẩm.
Các hình thức trả lương theo thời gian:
a. Trả lương theo thời gian giản đơn:
Đây là chế độ trả lương mà tiền lương của mỗi người lao động do mức
lương cấp bậc cao hay thấp và thời gian thực tế làm việc nhiều hay ít quyết
định. Hình thức này chỉ áp dụng được ở những nơi khó xác định được định
mức lao động chính xác, khó đánh giá công việc cụ thể.
Công thức:
Số tiền
lương trả theo
thời gian
=
Mức lương cấp
bậc xác định ở mỗi
khâu công việc
x
Số thời gian
làm việc ở mỗi
khâu công việc
x
Hệ số
loại
phụ cấp
Nhược điểm: Là không xem xét đến thái độ lao động, đến hình thức sử
dụng thời gian lao động, sử dụng nguyên vật liệu, máy móc thiết bị nên khó
tránh được hiện tượng xem xét bình quân khi tính lương.
b. Trả lương theo thời gian có thưởng:
Chế độ trả lương này có sự kết hợp trả lương theo thời gian giản đơn
với tiền thưởng khi mà người lao động đạt được những chỉ tiêu về số lượng
hoặc chất lượng đã quy định – tức là ngoài lương thì người lao động còn
a.Trả công theo sản phẩm trực tiếp cá nhân.
19
Hình thức này được áp dụng đối với những công nhân sản xuất chính, công
việc họ mang tính độc lập tương đối, có thể định mức kiểm tra và nghiệm
thu sản phẩm một cách cụ thể và riêng biệt.
b. Trả công theo sản phẩm tập thể.
Hình thức này được áp dụng đối với những công việc cần một nhóm công
nhân ,đòi hỏi phải có sự phối hợp giữa các công nhân và năng suất lao động
chủ yếu phụ thuộc vào sự đóng góp của cả nhóm như lắp ráp các thiết bị, sản
xuất ở các bộ phận làm việc theo dây chuyền…
c. Trả công theo sản phẩm gián tiếp.
hình thức trả công này áp dụng cho các công nhân phụ mà công việc của họ
ảnh hưởng nhiều đến kết quả lao động của công nhân chính như công nhân
sửa chữa, phục vụ máy sợi , máy dệt trong nhà máy dệt, công nhân điều
chỉnh thiết bị trong nhà máy cơ khí
d.Trả công theo sản phẩm có thưởng
thực chất của hình thức trả công này là kết hợp hình thức trả công sản phẩm
trên với các hình thức tiền thưởng.
i. Hình thức trả công khoán
Hình thức trả công khoán áp dụng cho những công việc mà nếu giao chi tiết
từng bộ phận sẽ không có lợi mà phải giao toàn bộ khối lượng công nhân
hoàn thành trong một thời gian nhất định . hình thức này được áp dụng chủ
yếu trong xây dựng cơ bản, một số công việc trong nông nghiệp. Trong công
nghiệp thường xây dựng cho các công việc sửa chữa lắp ráp các sản phẩm
máy móc, thiết bị…
Thực tế tại công ty
Các hình thức và trả lương
20
Công ty Bưu chính Viettel trả lương cho người lao động theo 2 hình
thức:
việc khá tốt con người có thể được phát huy tài năng và khả năng sáng
tạo. Ngoài ra ở các công ty nước ngoài thường có thu nhập cao hơn. Vì
vậy các doanh nghiệp trong nước cũng cần phải có những chế độ chính
sách về thù lao hợp lý.
Tại công ty Viettel
Ưu điểm: hiện nay nhiều người rất tự hào cũng như nhiều người đang
rất mong ước được làm việc tại công ty Viettel. Điều này chứng tỏ công
ty đã có những bước đi đúng đắn trong chính sách chiến lược của mình.
Đặc biệt là về môi trường làm việc và chế độ lương thưởng rõ ràng, hợp
lý, quan tâm không chỉ cán bộ công nhân viên mà cả người nhà họ nữa.
Do vậy kích thích, khuyến khích tinh thần người lao động. Điều này đã
được trình bày ở các phần trên nên xin không nhắc lại.
Nhược điểm Nhưng không gì là hoàn hảo, và ở công ty cũng vậy. –
Về thời gian trả lương: Chất lượng nhân viên kế toán còn yếu, chưa tương
xứng với tiềm năng của Công ty đặc biệt là đối tượng phục vụ trực tiếp còn
thiếu tính chuyên nghiệp. Việc trả lương cho người lao động nhiều lúc còn
khá chậm gây ra hiệu ứng không tốt.
- Về hình thức trả lương:
Việc trả lương khoán tạo khoảng cách về thu nhập giữa các đơn vị do
được lợi thế về thị trường ( có đơn vị thu nhập bình quân 6 – 8
triệu/tháng/người; có đơn vị chỉ có 1,8-2 triệu/tháng/ người).
22
Ngoài ra, chẳng hạn như trong công ty có việc xếp loại công nhân viên,
không một phòng ban nào được phép xếp tất cả nhân viên loại A. Nếu
không bình chọn được nhân viên làm việc kém hiệu quả hơn thì người
quản lý phải chịu nhận loại B. Như vậy nâng cao sự tự giác cho nhân
viên hơn nhưng cũng là áp lực với người quản lý và nhiều khi còn gây ra
tiêu cực hơn.
V. MỘT SỐ GIẢI PHÁP
Vấn đề thù lao lao động của công ty Viettel trong thời điểm hiện tại có
chung, phồi hợp công tác nghiệp vụ với các đơn vị trong Công ty, chịu
trách nhiệm về công tác ngiệp vụ trực tiếp làm hoặc quản lý dưới đơn vị.
-Hoàn thiện công tác kế toán tiền lương
Nhân viên nhân viên bán hàng, nhân viên sellcare làm việc tại các Bưu
cục và được hưởng lương khoán. Do đó công ty sẽ không phân biệt được các
loại chi phí, cho nên nó sẽ ảnh hưởng đến công tác phân tích chi phí. Công
ty nên có biện pháp tiết kiệm, hạ thấp chi phí cho phù hợp với từng loại.
Ngoài ra cần chú ý về thời gian trả lương, có thể do phân chia lợi nhuận
nhưng cũng có thể do những tồn tại ở phòng kế toán và thủ quỹ nên lương
nhân viên bị trả chậm Điều này là không tốt.
- Quản lý lao động
Ngoài việc theo dõi ngày công làm việc của CBCNV qua “Bảng chấm
công” tại các phòng ban, đơn vị trong Công ty, nên theo dõi thêm số giờ làm
việc của mỗi lao động. Nếu một lao động làm việc không đủ thời gian quy
định thực hiện trừ công theo giờ, ngược lại trường hợp người lao động làm
thêm giờ thì sẽ được hưởng tiền lương làm thêm hợp lý nhằm khuyến khích
CBCNV hăng say làm việc, tạo ra nhiều lợi nhuận cho Công ty.
24
KẾT LUẬN
Như đã nói ở trên, vấn đề thù lao lao động luôn là vấn đề rất được sự quan
tâm của các doanh nghiệp, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay. Công ty bưu
chính Viettel cũng không là ngoại lệ. Mặc dù hiện tại công ty đã làm khá tốt
nhưng để tiếp tục hát triển thì công ty cần làm tốt hơn nữa.
Qua các phương tiện như báo chí, internet và hỏi trực tiếp nhân viên công ty
thì nhóm đã thu được thông tin và đưa ra một số ý kiến đánh giá như trên.
Mặc dù biết rằng đang còn rất sơ sài, chưa thực sự tốt như mong muốn
nhưng đó đã là sự cố gắng đoàn kết và hợp tác của cả nhóm. Rất mong cô
giáo có nhiều nhận xét xác thật giúp nhóm có thể làm tốt hơn nữa. Xin chân
thành cảm ơn cô.
25