Tiểu luận
Thực trạng và giải pháp về
vấn đề dân số ở nước ta
1
2
PHẦN I : THỰC TRẠNG DÂN SỐ VIỆT NAM
Ngày dân số thế giởi năm nay đến với nước ta trong niềm tự hào và phấn
khởi bởi những thành tựu của sự nghiệp đổi mới. Đúng vào lúc dân số thế giới
đạt tới con số 3 tỷ người và dân số Việt Nam vừa vượt qua con số 30 triệu
người thì Chính phủ Việt Nam ban hành quyết định số 216/CP ngày
26/12/1961 về việc sinh đẻ có hướng dấn với mục đích: “Vì sức khoẻ của bà
mẹ, vì hạnh phúc và hoà thuận trong gia đình và để nuôi dạy con cái được chu
đáo, việc sinh đẻ của nhân dân cần được hướng dẫn chu đáo”. Ngày
26/12/1961 trở thành một mốc lịch sử quan trọng của chương trình dân số Việt
Nam, ngày Việt Nam chính thức tuyên bố tham gia chương trình dân số toàn
cầu, đánh dấu sự khởi đầu về nhận thức được ý nghĩa của mối quan hệ giữa
dân số và phát triển trong tiếng chuông báo động về tình hình gia tăng dân số
quá nhanh trên thế giới.
Sau nhiều năm phán đấu kiên trì và gian khổ, công tác dân số kế hoạch
hoá gia đình ( DS - KHHGĐ) ở nước ta đã có chuyển biến đáng kể và đạt kết
quả đáng khích lệ. Nhiều mục tiêu nêu ra trong chiến lược DS – KHHG đến
năm 2000 về mặt giảm mức sinh, về quy mô dân số và thực hiện kế hoạch hoá
gia đình đã được thực hiện vượt mức. Số con trung bình của một phụ nữ Việt
Nam ở tuổi sinh đẻ (từ 15 đến 49) ngày càng giảm. Lấy năm 1960 làm mốc,
lúc đó số con trung bình của họ và 6,39 con (tương đương với mức sinh tiềm
năng) đến năm 1975, tức sau 14 năm thực hiện sinh đẻ có kế hoạch là 5,25
con; năm 1985 là 3,95 con; năm 1994 là 3,1 con, năm 1999 là 2,3 con và năm
2002 là 2,28 con.
Tỷ lệ sinh con cũng ngày càng giảm. Năm 1960, tỷ lệ sinh ở miền Bắc là
43,9%, đến năm 1975 giảm xuống còn 33,2%. Sau khi thực hiện Nghị quyết
Trung ương 4, tỷ lệ sinh giảm rất nhanh, năm 1994 giảm còn 2,53%; năm
2000 còn 1,90%. Tỷ lệ sinh con thứ 3 cũng giảm dần nhưng chưa ổn định.
- Quy mô dân số quá lớn với 87 triệu dân, nước ta xếp thứ 13 trên thế
giới về quy mô dân số. Mật độ dân số thì nước ta còn gấp đôi thế
giới, gấp 6 lần mật độ mà các nhà khoa học thế giới cho là hợp lý. 4
Dân số nước ta lại phát triển nhanh, từ năm 1921 đến 1975, dân số
nước ta tăng gấp 5 lần, trong khi thế giới tăng khoảng 3 lần.
- Cơ cấu dân số trẻ: hiện nay tỷ lệ trẻ em 14 tuổi trở xuống của nước
ta chiếm 33% trong khi Nhật Bản khoảng 16%.
- Dân số phân bố không đều và chủ yếu tập trung ở nông thôn, chỉ có
23% dân số sông ở đô thị.
- Quy mô dân số lớn nên lực lượng lao động dồi dào, Việt Nam vừa
có khả năng phát triển toàn diện các ngành kinh tế, vừa có thể
chuyên môn hoá lao đông sâu sắc, tạo điều kiện nâng cao năng suất
lao động, thúc đẩy xã hội phát triển. Lực lượng lao động của nước ta
vào loại trẻ, dễ chuyển dịch và tạo ra tính năng động cao trong hoạt
động kinh tế.
Với 80,5 triệu dân cũng là 80,5 triệu người tiêu dùng. Đây là một thị
trường rộng lớn, hấp dẫn đầu tư, kích thích sản xuất, phát triển kinh tế. Tuy
nhiên, những đặc điểm dân số nói trên cũng có tác động tiêu cực đến sự
nghiệp phát triển kinh tế. Điều này có thể tập trung xem xét trên các khía
cạnh, tác động của dân số đến nguồn lao động, việc làm tăng trưởng kinh tế,
tiêu dùng và tích luỹ.
1. Dân số với lao động và việc làm:
a/ Đặc điểm dân số với lao động, việc làm:
Dân số và phát triển nguồn nhân lực tạo việc làm có mối quan hệ hữu cơ
với nhau, tác động lẫn nhau trong các quá trình phát triển. Quá trình tăng,
giảm dân số có quan hệ vơi sự phát triển quy mô và chất lượng nguồn nhân
lực xã hội, tác động đến quan hệ cung – cầu lao động trên thị trường lao động
Số lượng
tỷ lệ
(%)
Nông thôn 14.330
77,4
13.796
79,6
28.126
78,5
Thành thị 4.178
22,6
3.543
20,4
7.721
21,5
Tổng số 18.508
30,8
35 – 44 17,4
24,8
24,9
24,9
45 –54 10,8
11,4
11,5
11,4
Trên 55 8,7
7,7
6,9
7,3
Tổng số 100.0
100.0
n s
ố
ở
đ
ộ
tu
ổ
i lao
đ
ộ
ng (tri
ệ
u
người)
30,3
35,6
40,7
46,2
51,5
T
ỷ
nh qu
â
n h
à
ng n
ă
m qua
các thời kỳ (trăm nghìn người)
900 1.060
1.023
1.090
1.055Nguồn lao động nước ta hiện nay đông đảo và tăng nhanh, một mặt do sự
bùng nổ dân số ở các thời kỳ trước, mặt khác, do sự vận động tự nhiên của dân
số cơ cấu dân số đang chuyển dần từ loại hình cơ cấu dân số trẻ sang loại hình
dân số ngày càng hợp lý hơn. Sự biến đổi này làm cho nguồn lao động tiếp tục
tăng và tiếp tục trẻ hoá. Số lượng lao động trẻ (từ 16 đến 35 tuổi) tăng lên
không ngừng suốt từ nay đến năm 2005; từ 25 triệu tăng năm 1990 lên 26,8
triệu năm 1995 và 30,4 triệu năm 2005. Đây rõ ràng là một thế mạnh của
nguồn lao động nước ta trong công cuộc xây dựng đất nước trong thời gian
tới, trong điều kiện đất nước có nguồn vốn đầu tư it, trang bị kỹ thuật thấp. Số
thanh niên trẻ trong tổng số nguồn lao động là những người trẻ, khoẻ, nhanh
nhạy, dễ tiếp thu và nắm bắt kỹ thuật mới, công nghệ mới, nếu được đào tạo
và bồi dưỡng một cách chu đáo chắc chắn sẽ là một nguồn lực mạnh để xây
dựng đất nước.
nước khuyến khích phát triển cũng gặp nhiều khó khăn khi diện tích đất đai 8
bình quân của các hộ gia đình ngày càng bị thu hẹp. Thêm nữa là tình trạng
khó khăn trong tạo việc làm ở các ngành khác đã dẫn tới hiện tượng tồn đọng
thêm lao động nông thôn vào khu vực nông nghiệp. Năm 1997, có tới
7.358,199 người từ 15 tuổi trở lên, chiếm 25% tổng số lao động hoạt động
kinh tế thường xuyên ở khu vực nông thôn thiếu việc làm. Tình trạng khan
hiếm đất dẫn tới đồng ruộng manh muốn, phân tán, khó thúc đẩy việc áp dụng
các tiến bộ khoa học, kỹ thuật như cơ giới hoá, thuỷ lợi hoá, tổ chức lao động
khoa học. Tình trạng di dân tự do từ nông thôn lên thành thị hoặc từ đồng
bằng sông Hồng lên miền núi phía Bắc và Tây nguyên đã phát sinh và ngày
càng tăng mạnh, dẫn đến nạn phá rừng trầm trọng. Diện tích rừng suy giảm
theo tốc độ tăng của dân số, dân số năm 1981 so với năm 1943 tăng 2,5 lần,
diện tích rừng chỉ còn lại 40%.
Công nghiệp và dịch vụ là những ngành cần tập trung vốn đầu tư lớn,
nhưng do quy mô dân số tăng nhanh, cơ cấu dân số trẻ đòi hỏi phải sử dụng
nhiều thu nhập quốc dân (GDP) cho giáo dục, y tế, phúc lợi xã hội, dẫn đến
tình trạng thiếu trầm trọng vốn tích luỹ đầu tư cho công nghiệp, dịch vụ.
Cơ cấu lao động theo ngành nghề của Việt Nam thể hiện tình trạng lạc hậu của
nền kinh tế, cho đến năm 1998, lao động công nghiệp mới chỉ chiếm 13%,
dịch vụ 21%, còn chủ yếu 66% vẫn làm việc trong ngành nông nghiệp.
ở khu vực kinh tế có sự khác biệt rõ rệt về cơ cấu lao động làm việc theo
nhóm ngành kinh tế. ở khu vực kinh tế Nhà nước lao động chủ yếu làm vịêc
trong nhóm ngành dịch vụ, ở khu vực có vốn đầu tư nước ngoài thành phần
kinh tế hỗn hợp và ở thành phần kinh tế tư nhân, lao động chủ yếu làm việc
trong nhóm ngành công nghiệp và xây dựng, ở khu vực kinh tế tập thể, cá thể,
lao động chủ yếu làm việc trong nhóm ngành nông lâm, ngư nghiệp Đến
năm 1999 số người làm việc trong khu vực tập thể giảm xuống một nửa so với
nhân
C
á
thể
H
ỗ
n
hợp
100% v
ố
n
nước ngoài
T
ổ
ng
số
Th
à
nh th
ị
27,0
5,8
1,9
60,7
ố
9,8
27,0
0,7
61,0
1,0
0,5
100,0Dân số có việc làm: Hiện tại, chất lượng lao động thấp, cơ cấu đào tạo nghề
không hợp lý, phân bố không phù hợp là những nhân tố quan trọng cùng với
yếu tố thiếu vốn, khủng hoảng tài chính, tiền tệ gây khó khăn trong quá trình
tạo thêm việc làm trong khu vực công nghiệp, dịch vụ. Tỷ lệ công nhân kỹ
thuật được đào tạo ở nước ta còn thấp, chỉ chiếm 4,37% lực lượng lao động và
một nửa trong số đó tuy đã được đào tạo nhung không có bằng.
So với các nước trên thế giới và trong khu vực, tỷ lệ thất nghiêp của Việt Nam
hiện nay tương đối cao và không ổn định (năm 1996: 5,62%, năm
1997:5,81%) và tập chung ở những vùng đông dân hay các đô thị lớn
Bảng 1.4: Tỷ lệ thất nghiệp của lao động Việt Nam phân theo vùng.
Đơn vị: Tỷ lệ %.
N
ng H
ồ
ng
7,31
7,56
8,25
B
ắ
c Trung b
ộ
6,67
6,69
7,62
Duy
ê
n h
ả
i mi
ề
n trung
5,3
Đ
ồ
ng b
ằ
ng s
ô
ng C
ử
u Long
4,59
4,56
6,44
B
ì
nh qu
â
n c
ả
n
ư
ớ
c
5,62
11
Đến đây, chúng ta đã có một bức tranh khá đầy đủ về nguồn lao động
nước ta. Nguồn lao động nước ta có đặc điểm trí, khoẻ trong những điều kiện
và môi trường thuận lợi đã tỏ rõ sự nhanh nhạy, thông minh, tháo vát, nhưng
nhìn chung chất lượng còn thấp, nhiều mặt đang ở mức báo động. Tất cả
những điều trên đã gây ra những khó khăn lớn trong việc đáp ứng những nhu
cầu để phát triển kinh tế – xã hội, đặc biệt trong việc giải quyết sắp xêp việc
làm cho người lao động.
Thực tế cho thấy, ở các địa phương có tỷ lệ tăng dân số cao kinh tế – xã
hội cũng thường chậm phát triển, chất lượng nguồn nhân lực thấp. Đời sống
của người lao động và dân cư tại các địa phương này chậm được cải thiện, thể
hiện ở thu nhập bình quân/người/ năm thấp so với mức bình quân chung cả
nước (năm 2000 cả nước thu nhập bình quân đầu người là 651,5 nghìn đồng
thì Hoà Bình: 383,7 nghìnđồng; Gia Lai: 499,2 nghìn đồng, ), số hộ có thu
nhập thấp không có điều kiện để đầu tư phát triển vốn nhân lực.
Quá trình CNH – HĐH sẽ tạo thêm nhiều việc làm trong các ngành nghề
mới với công nghệ và quản lý hiện đại (đặc biệt là khu công nghệ cao), đòi hỏi
chất lượng nguồn nhân lực phải đổi mới, nâng cao để thoã mãn nhu cầu phát
triển. Trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập, tính cạnh tranh kinh tế, nâng
cấp công nghệ và nhu cầu đào tạo lại người lao động ngày càng tăng, dẫn đến
sự biến động và tình trạng thất nghiệp thường xuyên. Do đó, chất lượng dân
số, suy cho cùng là chất lượng nguồn nhân lực có ý nghĩa quyết định đối với
khả năng tìm việc làm và tạo việc làm. Cơ hội việc làm đối với lao động có kỹ
năng cao hơn rất nhiều so với lao động không có kỹ năng. Các mối quan hệ
dân số, việc làm đã được các nhà kinh tế nước ngoài tổng kết với tính quy luật
như sau:
Tăng dân số kéo theo tăng nhu cầu việc làm để thoã mãn sự tăng thu nhập
và tiêu dùng của số lượng người phải nuôi có quy mô và tăng nhanh trong dân
13
Với các đặc điểm kể trên, vấn đề tạo việc làm, tăng thêm thu nhập cho
người lao động đã và đang trở thành nhiệm vụ kinh tế – xã hội bức xúc nhất
của nước ta hiện nay. Giải quyết việc làm trên cơ sở định hướng sau:
(1) Giảm bớt sức ép về cung lao động nhờ việc đẩy mạnh kế hoạch hoá gia
đình, di dân, để cân đối giữa vốn lao động và các loại vôn khác, mở rộng xuất
khẩu lao động, tăng cường đào tạo nghề, nâng cao chất lượng lao động. Để
tiếp tục và đẩy mạnh cuộc vận động thực hiện kế hoạch hoá gia đình, duy trì
tốc độ tăng dân số thấp, bảo đảm quy mô dân số hợp lý cho sự phát triển xã
hội đòi hỏi mỗi người dân phải quán triệt sâu sắc quan điểm chỉ đạo của Đảng
và Nhà nước là giảm sinh và duy trì mức sinh thay thế. Đảng và Nhà nước
phải có các chính sách và giải pháp đủ mạnh để khuyến khích toàn xã hội đẩy
mạnh công tác dạy nghề, hướng nghiệp nhằm phát triển nguồn nhân lực với
chất lượng cao, đủ sức cạnh tranh và thoã mãn yêu cầu của thị trường lao động
về số lượng, chất lượng, cơ cấu ngành nghề, tạo ra sụ hấp dẫn đối với người
sử dụng lao động
(2) Xây dựng và thực hiện hệ thống chính sách kinh tế vĩ mô có hiệu lực thúc
đẩy tăng trưởng kinh tế cao đi kèm với tăng nhu cầu về lao động một cách bền
vững như: Luật và chính sách hỗ trợ cho kinh tế hộ gia đình, tăng đầu tư và cơ
sở hạ tầng và dịch vụ xã hội, tăng tín dụng quy mô nhỏ và đào tạo cho nông
dân, cho các doanh nghiêp phi công nghiệp ở nông thôn, doanh nghiệp nhỏ ở
thành phố và những người làm việc tự dụng, khuyến khích các khu kinh tế có
khả năng tạo việc làm. Vì vậy, phải có các chính sách thoã đáng để khuyến
khích các khu vực kinh tế, trước nhất là doanh nghiệp vừa và nhỏ, kinh tế
trang trại và kinh tế hộ gia đình, các chương trình trọng điểm quốc gia, các
công trình xây dựng cơ sở hạ tậng sử dụng nhiều lao động. Thu hút 7,5 triệu
lao động vào làm việc để giảm dần tỷ lệ thất nghiệp xuống dưới 5%.
(3) Duy trì chỗ làm việc cho người lao động có việc làm, tránh sa thải hàng
loạt. Từng bước xây dựng và thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp.
giới cho thấy, đối với các nước đang phát triển, trong khi mức bình quân GNP 15
đầu người thấp thì tỷ lệ gia tăng dân số lai cao và ngược lại, đối với các nước
phát triển, GNP bình quân đầu người cao nhưng tỷ lệ gia tăng dân số lại thấp,
đặc biệt tỷ lệ sinh có xu hướng giảm. Để tăng trưởng kinh tế đòi hỏi chúng ta
phải tăng cường sức sản xuất xã hội, từ đó nâng cao thu nhập quốc dân. Muốn
đẩy mạnh quá trình này đòi hỏi phải tăng mức đầu tư. Tuy nhiên, do sự gia
tăng dân số, do tác động của mức sinh còn quá cao, tất dẫn tới một thực trạng
tỷ lệ dân số phụ thuộc trong tổng số dân (hoặc trong tổng số dân làm việc) cao
lên. Đây là gánh nặng đối với từng gia đình và đối với toàn bộ nền kinh tế, vì
tỷ lệ tiêu dùng lớn, tỉ lệ tích luỹ ắt sẽ giảm đi và dẫn đến giảm khả năng đầu tư
để tăng năng lực cần thiết cho nền sản xuất xã hội. Mặt khác, do tỷ lệ dân số
phụ thuộc lớn mà phải tăng đầu tư cho y tế, cho giáo dục, và các loại phúc lợi
xã hội khác, đầu tư trực tiệp cho sản xuất phải giảm đi Hậu quả là sản xuất
tăng chậm. Vấn đề này được thể hiện càng rõ hơn trong bối cảnh hiện nay,
chúng ta vừa trải qua dịch SAR, dịch cúm gia cầm, đã phần nào làm giảm
đầu tư nước ngoài vào Việt Nam. Điều này sẽ dẫn đến việc mọi nỗ lực để gia
tăng vốn của nền kinh tế để đạt được tốc độ tăng trưởng nhanh lại càng khó
khăn hơn. Khi đầu tư cho sản xuất giảm hoặc tăng chậm thì thu nhập quốc dân
tăng chậm. Trong khi đó, tỷ lệ tăng dân số vẫn cao làm quy mô dân số lớn lên,
dẫn đến thu nhập quốc dân tính theo đầu người không tăng hoặc tăng chậm.
Các chuyên gia dân số cho rằng khi dân số tăng lên 1% thì GDP phải tăng lên
từ 3% đến 4% mới đáp ứng được nhu cầu dân cư và nền kinh tế khi đó mới
phát triển bình thường.
Ở Việt Nam, kết quả nghiên cứu cho thấy, từ cuối những năm 80 và đầu
những năm 90 của thế kỷ trước, tỷ lệ gia tăng dân số cũng như mức sinh đã
giảm rõ rệt. Nếu như năm 1960 tỷ lệ gia tăng dân số ở nước ta là 3,4% và số
con trung bình của một phụ nữ trong dộ tuổi sinh (từ 15 – 49) là 6,3 con thì
ng
bình quân từ
1991 – 1995
T
ỷ
su
ấ
t sinh th
ô
từ 1993 – 1994
Mi
ề
n n
ú
i trung du B
ắ
c b
ộ
5,56
2,89
Đ
ồ
ng b
ă
ng s
T
â
y Nguy
ê
n
5,97
3,59
Mi
ề
n
đô
ng Nam b
ộ
12,85
2,18
Đ
ồ
ng b
ă
ng s
ô
ng C
ử
u Long
nghèo thì sự chênh lệch về tăng trưởng kinh tế giữa các vùng sẽ ngày càng
lớn.
Rõ ràng, nếu không có biện pháp hữu hiệu để giảm nhanh tốc độ gia tăng
dân số và đầu tư phát triển kinh tế mạnh hơn vào những vùng nghèo thì sự
chênh lệch như trên ở nước ta sẽ ngày càng lớn. Gia tăng dân số nhanh kìm
hãm tăng trưởng kinh tế ở các nước đang phát triển do những vấn đề chủ yếu
sau:
- Dân số tăng nhanh, các chi phí tiêu dùng tăng đã hạn chế tích luỹ và đầu
tư, chậm đổi mới kỹ thuật và công nghệ, hạn chế tăng năng suất lao
động. Hậu quả là chi phí cho số người mới sinh ra nhiều hơn số sản
phẩm thêm được.
- Số người bước vào độ tuổi lao động tăng nhanh, chi phí tạo việc làm và
mua sắm trang thiết bị không đáp ứng kịp đã hạn chế năng suất lao
động xã hội.
- Tỷ lệ tiết kiệm giảm trong tổng số sản phẩm quốc dân do tỷ lệ trẻ em ăn
theo cao, ảnh hưởng đến tốc độ tăng sản phẩm.
- Dân số tăng nhanh còn ảnh hưởng đến điều kiện giáo dục và đào tạo,
hạn chế việc thúc đẩy tiến bộ khoa học kỹ thuật – nhân tố giữ vai trò
quan trọng trong việc phát triển sản xuất.
Khi dân số tăng nhanh có thể làm cho chất lượng vốn con người giảm
xuống hoặc ở mức thấp và hầu như không cải thiện được. Điều này trước hết
liên quan đến việc cung cấp không đầy đủ dinh dưỡng và chăm sóc y tế cho
trẻ em và người lao động, trình độ học vấn thấp và lao động phần lớn không
được đào tạo. Do đó, năng suất lao động không cao khiến cho tổng sản phẩm
quốc dân tăng chậm.
Đối với yếu tô công nghệ , có nhiều lập luận cho rằng quy mô dân số và
tăng trưởng nhanh sẽ tạo sức ép làm nảy sinh các phát minh khoa học và đẩy 18
19
Một là, mức sinh ở nông thôn (nơi lao động chủ yếu làm nông nghiệp)
thường cao hơn rất nhiều, thậm chí gấp đôi so với thành thị (nơi lực lượng lao
động chủ yếu làm công nghiệp dịch vụ).
Hai là, sản xuất công nghiệp và dịch vụ thường đòi hỏi vốn lớn. Trong
khi đó, mức sinh cao, tỷ lệ phụ thuộc cao hạn chế tích luỹ mở rộng các ngành
kinh tế cần nhiều vốn.
Ba là, do mức sinh cao nên lực lượng lao động ở nông thôn đông đảo,
khó có cơ hội đào tạo nghề, phần lớn là lao động giản đơn. Theo tổng điều tra
dân số năm 1999, ở nông thôn nước ta là lao động giản đơn trong dân từ 15
tuổi trở lên chiếm tới 95,74%. Vì vậy, khó chuyển đổi sang công nghiệp và
dịch vụ là những ngành đòi hỏi lao động có trình độ chuyên môn.
3. Ảnh hưởng của dân số đến tiêu dùng và tích luỹ:
a/ Ảnh hưởng của dân số đến tiêu dùng:
Tiêu dùng là một yếu tố thúc đẩy phát triển, mở rộng thị trường. Có
nhiều yếu tố xác định khối lượng và cơ cấu vật phẩm tiêu dùng và các loại
dịch vụ nhưng quy mô, cơ cấu dân số là những yếu tố quan trọng. Tác động
của dân số tới tiêu dùng có thể nghiên cứu trên ba phần: xã hội, gia đình và cá
nhân.
Nghiên cứu tác động của dân số đến tiêu dùng trên phạm vi toàn xã hội
trước hết cho thấy khối lượng vật phẩm tiêu dùng và dịch vụ phụ thuộc chặt
chẽ và quy mô dân số.
Khẩu phần ăn chủ yếu của nước ta hiện nay là lương thực. Mức ăn bình
quân nhân khẩu trong năm phải đạt trên 300 kg lương thực quy thóc mới đảm
bảo đủ calo cho cơ thể. Cho đến năm 1989, sản lượng lương thực sản xuất qua
các năm tăng, song tỷ lệ gia tăng dân số cao nên lượng thóc bình quân đầu
người giảm và chưa đạt mức 300 kg/người/năm. Từ năm 1940 đến năm 1980,
sản lượng lương thực nước ta tăng lên 2,6 lần nhưng dân số tăng 2,8 lần nền
bình quân lương thực lại giảm từ 298 kg/người/năm còn 268 kg. Từ năm 1989
l
ệ
t
ă
ng t
ổ
ng s
ả
n l
ư
ợ
ng
lương thực
61,78 53,66 65,69
T
ỷ
l
ệ
t
ă
ng l
ươ
ng th
ự
c b
ì
tiêu dùng cho họ mà cho cả những người phụ thuộc vào họ và còn phải nhiều
hơn thế mới có tích luỹ mở rộng sản xuất.
ở Việt Nam, từ năm 1990 về trước, nền kinh tế tăng trưởng thấp và
không ổn định, tốc độ gia tăng dân số lại tương đối cao nên chưa có tích luỹ từ
nội bộ nền kinh tế quốc dân. Giai đoạn 1991 – 1995, GDP tăng ở mức cao
bình quân 8,3%/năm, trong khi tỷ lệ tăng dân số giảm đáng kể đã tạo được
nguồn tích luỹ cho đầu tư trong nước. Mấy năm gần đây, phần dành cho tích
luỹ đầu tư hàng năm đã chiếm trên 1/4 giá trị của tổng sản phẩm trong nước,
gấp hơn hai lần trước năm 1987.
Có thể thấy, từ năm 1997, mức tăng trưởng kinh tế là khá cao và ổn định
nên khối lượng tiết kiệm và đầu tư vẫn được mở rộng. Đây là kết quả tổng hợp
của các chính sách đổi mới về kinh tế – xã hội trong đó có tác dụng tích cực
của chính sách dân số. Việc giảm mức sinh, quy mô gia đình nhỏ, tỷ lệ phụ
thuộc ngày càng thấp đã làm tăng khả năng tích luỹ , tiết kiệm của các hộ, tạo
điều kiện để các gia đình tăng vốn đầu tư ngày một nhiều hơn. 22
PHẦN II. MỘT SỐ GIẢI PHÁP VỀ VẤN ĐỀ DÂN SỐ
Ở NƯỚCTA
Những vấn đề đặt ra từ sự gia tăng dân số ảnh hưởng tới kinh tế – xã hội
đòi hỏi phải có những giải pháp toàn diện, liên tục và đồng bộ. Thực hiện chỉ
tiêu kế hoạch về dân số không chỉ là nhiệm vụ của một ngành, một cấp hay
một lĩnh vực mà bao gồm hầu hết các ngành, các lĩnh vực và trên phạm vi toàn
quốc. Trên nguyên tắc này, chúng ta cần thực hiện những giải pháp sau:
Thứ nhất, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực: Sự phát triển kinh tế xã
hội phụ thuộc lớn vào chất lượng nguồn nhân lực. Chất lương lao động là yếu
tó quan trọng góp phần quyết định tốc độ phát triển, khả năng hội nhập và
cạnh tranh trên trường quốc tế. Chất lượng nguồn nhân lực do công tác giáo
tài nguyên và môi trường có mối quan hệ khăng khiết. Sự phát triển bền vững
chỉ có thể đạt được nếu như quy mô dân số và sự gia tăng dân số hoà nhịp với
bước tiến của năng lực sản xuất xã hội.
Thứ tư,tiếp tục bổ sung ,sửa đổi các chế độ chính sách về lao động theo
Nghị Quyết Đại hội Đảng I X và theo các quy định của Bộ Luật lao động để
phát triển thị trường lao động trong nước.Tạo môi trường và điều kiện cho các
cơ sở sản xuất kinh doanh , doanh nghiệp ,cho người lao động tìm và việc làm
ở mọi nơi ,bảo vệ quyền và lợi ích cho người lao động và sử dụng lao động ,
đẩy mạnh xuất khẩu lao động có tổ chức và hiệu quả ,khuyến khích các hình
thức tạ mở việc làm cho bản thân và xã hội
Thứ năm:đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu lao động , cơ cấu ngành nghề
gắn với sự chuyển dịch cơ cấy kinh tế theo hướng công nghiệp hóa , hiện đại
hóa, đưa nhanh tiến bộ công nghiệp khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông
nghiệp ,phát triển nông thôn.
‘Thứ sáu:có các chính sách thỏa đáng để khuyến khích các khu vực kinh
tế trước nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ ,kinh tế trang trại và kinh tế họ
gia đình ,các chương trình phát triển kinh tế , xã hội trọng điểm quốc gia, các
công trình xây dựng cơ sở hạ tầng sử dụng nhiều lao động 24