Tiểu luận: Thực trạng và giải pháp cho môi trường kinh doanh tại Việt Nam - Pdf 20

Tiểu luận

Thực trạng và giải pháp cho
môi trường kinh doanh tại
Việt Nam MÔI TRƯỜNG KINH DOANH VIỆT NAM
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

A. Thực trạng
1.Dân số
Dân số Việt Nam vẫn đang tăng nhanh, bình quân trên 1 triệu người mỗi
năm, nghĩa là bằng dân số một tỉnh thuộc loại trung bình.
Theo Tổng cục thống kê, năm 2005 Việt Nam có khoảng 83,1199 triệu
người, là nước đông dân thứ 13 trên thế giới. Mật độ dân số lên tới 252
người/km
2
(trong khi đó các chuyên gia LHQ tính toán để có cuộc sống thuận
lợi, bình quân chỉ nên có 30-40 người/km
2
). Sang năm 2006,dân số Việt Nam
tăng lên 84,1158 triệu người, là nước đứng thứ 14 trên thế giới,mật độ dân cư
là 254 người/km2, cao gấp 6 lần so với mức chuẩn quốc tế.Dự báo đến giữa
thế kỉ,Việt Nam sẽ trở thành 1 trong 16 nước có trên 100 triệu dân.
Các đặc điểm của dân số Việt Nam, trong đó lưu ý vấn đề dân số trẻ
nhưng đang bước vào thời kỳ quá độ chuyển đổi sang dân số già.
Những người sinh ra sau năm 1975 ước chiếm khoảng 63% tổng dân số, tuy

nhanh…là những điều kiện thuận lợi giúp các doanh nghiệp trong và ngoài
nước phất triển sản xuất.Nhưng vẫn tồn tại một số vấn đề mà chúng ta vẫn
chưa khắc phục được đó là:lao động không có trình độ chiếm tỉ trọng lớn, ý
thức kỉ luật, ý thức lao đông kém, trình độ quản lí,tổ chúc chưa cao…
2.Kinh tế
Đã có sự cải thiẹn đáng kể trong các cân đối vĩ mô. Thâm hụt ngân sách
giảm, quan hệ giữa tích lũy và đầu tư trở nên hài hòa hơn. Trong lĩnh vực tiền
tệ ngan hang quan hệ và sự bất hợp lí giữa lãi suất cho vay tiền VNĐ và USD
đã được thu hẹp. Thời gian qua chung ta duy trì được xuất nhập khẩu ở mức
cao và lien tục trong nhiều năm, dạt thành tích tốt trong xóa đói giảm nghèo.
Tuy nhiên chất lượng tăng trưởng chưa cao do năng suất lao động và hiêu quả
thấp,năng lực cạnh tranh quốc tế còn thua kém, lạm phát sau một số năm
được kiềm chế tốt thì thời gian gần đây lại có biến động tăng, khó kiểm soát.
Trong khi đó do chưa có luật cạnh tranh nên tình trạng bảo họ thiếu hợp lí , lạm dụng độc quỳên nhà nước thành đọc quyền doanh nghiệp trong một số
lĩnh vực như điện lực , dầu khí, hàng không chậm được xóa bỏ đã trở thành
rào cản cho cạnh tranh và nâng cao hiệu quả lao động và cải thiện chất lượng
dịch vụ.
Việt Nam đã gia nhập WTO vào tháng 1/2007 và đạt được những bước
tăng trưởng kinh tế ấn tượng trong vài năm trở lại đây. Năm 2005, kinh tế của
Việt Nam đã tăng trưởng 8,4% và 8,2% trong năm 2006. Năm 2007, kinh tế
Việt Nam dự đoán sẽ đạt mức tăng trưởng 8,3%.
Đặc biệt,Thị trường bán lẻ Việt Nam đang phát triển nhanh chóng, kinh
doanh bán lẻ tăng với tốc độ trung bình khoảng 23%/năm. Theo số liệu của
Ngân hàng Thế giới, năm 2007, chỉ số phát triển bán lẻ của VN đứng thứ 4
thế giới chỉ sau Ấn Độ, Nga và Trung Quốc. VN sẽ bắt đầu thực hiện các cam
kết trong lĩnh vực bán lẻ từ ngày 1-1-2009.
Hiện tại, thu nhập dành cho tiêu dùng của người Việt Nam đang tăng

3.Chính trị-pháp luật
Việt Nam được coi là quốc gia có nền chính trị và xã hội ổn định, ít
căng thẳng sắc tộc, tôn giáo.Việc Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế
giới (WTO) đang mở ra một thị trường tiềm năng cho ngành kinh tế. Quèc
Héi ViÖt Nam ®· th«ng qua Luật Doanh nghiệp (DN) chung không phân biệt
DN trong nước và nước ngoài, và Luật đầu tư với nhiều điểm đổi mới hấp dẫn
(có hiệu lực từ 1.7.2006). Đến trước năm 2012, thuế nhập khẩu đánh vào các
mặt hàng tiêu dùng sẽ giảm từ 5% đến 10%.
Hàng loạt các quy định được coi là "yếu tố cản trở" thu hút đầu tư
nước ngoài đã được dỡ bỏ như: quy định buộc DN phải xuất khẩu 80%, yêu
cầu về tỷ lệ nội địa hóa Bên cạnh đó là những quy định "cởi mở" hơn như
thống nhất giá điện giữa người trong nước và người nước ngoài.
Điều được thừa nhận rộng rãi là môi trường kinh doanh ở nước ta đã
có những bước tiến lớn về phía trước theo hướng phù hợp hơn với đòi hỏi của
thực tế và thông lệ quốc tế.Tuy nhiên nếu so với yêu cầu của cuôc sống , môi trường pháp lý ở nước ta vẫn còn nhiều bất cập như các thể chế kinh tế thị
trường chưa được xây dựng hoàn chỉnh và đồng bộ, nhiều bộ luật cơ bản như
luật cạnh tranh và kiểm soát độc quyền vv còn chậm được ban hành, chưa
đủ minh bạch, thiếu sự ổn định cần thiết, tính nhất quán chưa cao và khó tiên
liệu được. Đặc biệt là còn nhiều văn bản quy phạm pháp luật được xây dựng
và ban hành chưa sát hợp với đòi hỏi và điều kiện thực tiễn, không xuất phát
từ quan điểm phục vụ và hỗ trợ hoạt động của các doanh nghiêp hoặc mang
tính chủ quan của mọt bộ phận cán bộ , cơ quan quản lí nhà nước.Bên cạnh
đó, giữa các qui dịnh luật pháp ghi trên giấy và tổ chức thực hiện trên thực tế
còn khoảng cách khá xa lạ do nhiều nguyên nhân khác nhau.
*)Thứ nhất,các qui định luật pháp còn thiéu sự động bộ, còn chứa đựng
những yếu tố chưa sát hợp thực tiễn.
*)Thứ hai, tổ chức thực hiện chưa triệt để và nghiêm minh.

giao dịch, thậm chí chưa thấy bày hàng chất xám.
Cho nên các doanh nghiệp vào chợ, chủ yếu là để mua bán máy móc,
thiết bị mới, mà chưa tìm kiếm các bản quyền sáng chế, hoặc tìm gặp các nhà
nghiên cứu để đặt hàng là hợp đồng nghiên cứu và triển khai. Khá đông các
nhà khoa học, công nghệ vào chợ, chủ yếu mới chỉ để "xem cho biết". Trong
khi đó, các đối tác nước ngoài tranh thủ cơ hội này để nắm bắt nhu cầu hàng
chất xám của các doanh nghiệp ta.
Nhà nước đã có chủ trương và các chính sách bước đầu nhằm mở đường
cho giới nghiên cứu gắn mình với thực tiễn đời sống rộng lớn, sôi động với
những bước phát triển ngày càng nhanh, để từng bước tự trang trải hoặc tiến
đến mô hình doanh nghiệp chất xám. Giới khoa học, công nghệ hoan nghênh,
nhưng chuyển biến còn chưa mạnh.
Tới nay, ở hầu hết các tổ chức khoa học, công nghệ nhà nước, số đề tài
nghiên cứu sát với nhu cầu thực tiễn hiện vẫn ít hơn nhiều và gặp trở ngại do
thiếu vốn để thực hiện, so với đề tài được giao và được Nhà nước cấp kinh
phí. Nhiều tổ chức khoa học, công nghệ chưa chủ động, xông xáo đi tìm kiếm,
gõ cửa các doanh nghiệp để tìm các hợp đồng nghiên cứu hiệu quả. Ngay cả việc quảng bá, chào hàng, kêu gọi các giao dịch từ đối tác bằng nhiều cách
thức, trên báo chí, trên mạng internet, thì giới khoa học, công nghệ ta cũng
chưa làm được là bao.
Chúng ta đều hiểu rằng nền kinh tế nước ta chỉ có thể tăng trưởng nhanh,
bền vững, với các sản phẩm có sức cạnh tranh trên thị trường thế giới, khi thị
trường khoa học, công nghệ phát triển cân đối với các loại hình thị trường
khác như thị trường tài chính, thị trường bất động sản, thị trường dịch vụ, v.v.
Ðể kích hoạt thị trường này, thiết nghĩ vai trò hoạch định chính sách,
điều tiết thị trường của Nhà nước là rất quan trọng. Nhà nước đã cho phép lập
Quỹ phát triển khoa học và công nghệ, nên xúc tiến đưa quỹ vào hoạt động,
bảo đảm sử dụng quỹ một cách công khai, đầu tư có chọn lọc, đúng việc,

rừng, tài nguyên thủy hải sản, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản và tài
nguyên du lịch.
Tài nguyên rừng
Rừng của Việt Nam có nhiều loại cây gỗ quý như: đinh, lim, sến, táu,
cẩm lai, gụ, trắc, pơ mu Tính chung, các loài thực vật bậc cao có tới 12.000
loài. Cây dược liệu có tới 1.500 loài. Lâm sản khác có nấm hương, nấm linh
chi, mộc nhĩ, mật ong Về động vật, ước tính ở Việt Nam có 1.000 loài chim,
300 loài thú, 300 loài bò sát và ếch nhái, chưa kể các loài côn trùng. Ngoài
những loài động vật thường gặp như hươu, nai, sơn dương, gấu, khỉ còn có
những loài quý hiếm như tê giác, hổ, voi, bò rừng, sao la, công, trĩ, gà lôi đỏ
Rừng của Việt Nam hiện đang bị thu hẹp diện tích, nhất là rừng nguyên
sinh. Nhiều loài thực vật, động vật quý hiếm đang bị khai thác, săn bắn lén
nên gỗ và chim thú ngày càng cạn kiệt, nhiều loài thú quí đang đứng trước
nguy cơ tuyệt chủng.
Tài nguyên thuỷ hải sản
Diện tích mặt nước kể cả nước ngọt, nước lợ và nước mặn là nguồn tài
nguyên phong phú về tôm, cá trong đó có rất nhiều loài quý hiếm. Chỉ tính
riêng ở biển đã có 6.845 loài động vật, trong đó có 2.038 loài cá, 300 loài cua,
300 loài trai ốc, 75 loài tôm, 7 loài mực, 653 loài rong biển Nhiều loài cá thịt ngon, giá trị dinh dưỡng cao như cá chim, cá thu, mực Có những loài
thân mềm ngon và quý như hải sâm, sò, sò huyết, trai ngọc
Biển Việt Nam cũng là tiềm năng khai thác muối phục vụ sinh hoạt,
công nghiệp và xuất khẩu.
Tài nguyên nước
Việt Nam được xếp vào hàng những quốc gia có nguồn nước dồi dào.
Diện tích mặt nước lớn và phân bố đều ở các vùng. Sông suối, hồ đầm, kênh
rạch, biển chính là tiền đề cho việc phát triển giao thông thuỷ; thuỷ điện;
cung cấp nước cho trồng trọt, sinh hoạt và đời sống

Nước (Đà Nẵng), Nha Trang (Khánh Hoà), Vũng Tàu (Bà Rịa - Vũng Tàu)
Với hàng nghìn năm lịch sử, Việt Nam có trên bảy nghìn di tích (trong
đó khoảng 2.500 di tích được nhà nước xếp hạng bảo vệ) lịch sử, văn hoá, dấu
ấn của quá trình dựng nước và giữ nước, như đền Hùng, Cổ Loa, Văn Miếu
Đặc biệt quần thể di tích cố đô Huế, phố cổ Hội An và khu đền tháp Mỹ Sơn
đã được UNESCO công nhận là Di sản Văn hoá Thế giới. Hàng nghìn đền,
chùa, nhà thờ, các công trình xây dựng, các tác phẩm nghệ thuật - văn hoá
khác nằm rải rác ở khắp các địa phương trong cả nước là những điểm tham
quan du lịch đầy hấp dẫn.
Với tiềm năng du lịch phong phú, đa dạng, độc đáo như thế, mặc dù còn
nhiều khó khăn trong việc khai thác, những năm gần đây ngành Du lịch Việt
Nam cũng đã thu hút hàng triệu khách du lịch trong và ngoài nước, góp phần
đáng kể cho nền kinh tế quốc dân. Hơn thế, bằng tiềm năng và sản phẩm du
lịch của mình, ngành Du lịch đang tạo điều kiện tốt cho bè bạn khắp năm
châu ngày càng hiểu biết và yêu mến đất nước Việt Nam.
Nguồn suối nước khoáng cũng rất phong phú như: suối khoáng Quang
Hanh (Quảng Ninh), suối khoáng Hội Vân (Bình Định), suối khoáng Vĩnh
Hảo (Bình Thuận), suối khoáng Dục Mỹ (Nha Trang), suối khoáng Kim Bôi
(Hoà Bình)
Về ô nhiễm không khí, theo kết quả nghiên cứu cho thấy, chất lượng
không khí ở những khu vực xa thành phố và khu công nghiệp còn trong sạch,
các chỉ tiêu chất lượng không khí còn ở dưới giới hạn cho phép. Trong khí đó,
chất lượng không khí tại các khu công nghiệp và một số thành phố đã giảm
sút, nhiều nơi bị ô nhiễm một cách nghiêm trọng, nhiều chỉ tiêu chất lượng,
nồng độ vượt qua giới hạn cho phép. Ngay tại thủ đô Hà Nội, nồng độ bụi từ 2,1 đến 45,8mg/m
3
, gấp từ 4 đến 90 lần giới hạn cho phép (0,5mg/cm

3
, CH
4
từ phân hữu cơ, nhất là phân động vật, N
2
O
và NO từ phân đạm, CO
2
và các chất khí độc khác do đốt các sản phẩm sinh
học, phế thải nông nghiệp, đốt phá rừng làm nương rẫy. Hóa chất là một trong
những ngành công nghiệp thải ra nhiều chất độc hại vào cả các môi trường
đất, nước và không khí, trực tiếp ảnh hưởng đến điều kiện làm việc của công
nhân. Hàm lượng chất độc hại trong không khí khu vực sản xuất của các cơ sở
sản xuất hóa chất thường vượt rất xa tiêu chuẩn qui định. Ngành công nghiệp
dệt chiếm 65% giá trị tổng sản lượng của ngành công nghiệp nhẹ, công nghệ
gồm kéo sợi, dệt, nhuộm. Trong công đoạn tẩy trắng hầu hết đều dùng clo
hoặc các hợp chất của clo. Nước thải sau khi nhuộm có thành phần gồm clo,
sulfat, nitrat, các acid HCl, H
2
SO
4
và xút. Trong sản xuất, lượng nước thải
khoảng 0,13m
3
cho một mét vải. Nồng độ bụi của các nhà máy thuộc ngành
dệt cũng khá lớn, tức là cao gấp 2 hoặc 3 lần giới hạn cho phép. Ngành công
nghiệp vật liệu xây dựng, sản xuất xi mǎng, gạch, vôi, sứ là chủ yếu. Trong
ngành này, ô nhiễm chủ yếu là bụi và khói do nhiên liệu cháy và do nguyên
liệu khi nung nóng phát ra, nồng độ bụi cao hơn định mức cho phép từ 32 đến
111 lần. Nồng độ bụi trong các xí nghiệp gạch cũng khá cao, cũng có nồng độ

DN còn đơn giản, sơ khai và không hiệu quả. Yếu kém trong quy trình sản
xuất (như: năng suất lao động thấp, chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm chưa cao); Chi phí ngoài sổ sách lớn; Thiếu sự liên kết giữa các DN trong
nước để xây dựng một thị trường bán lẻ văn minh.
Việc tổ chức và cung ứng hàng hóa của các hãng phân phối còn phụ
thuộc rất nhiều vào các nhà sản xuất. Các nhà sản xuất và nhà phân phối vẫn
chưa tìm ra tiếng nói chung. Do không có định hướng hợp tác lâu dài mà chỉ
vì lợi ích trước mắt, không lường trước thiệt hại nên các nhà sản xuất thường
xuyên hủy bỏ hợp đồng khi thị trường có dấu hiệu biến động, dẫn đến nguồn
hàng trong các hệ thống phân phối bị bấp bênh, không ổn định.
Sự liên kết giữa các doanh nghiệp VN còn rất rời rạc, yếu kém. Hầu hết
những liên kết đang tồn tại hiện nay chỉ chạy theo số lượng, hình thức, chứ
chưa chú ý về mặt chất lượng. Điều này dẫn đến việc thiếu minh bạch và cạnh
tranh không bình đẳng trên thị trường.
Một điểm khác biệt cơ bản khác giữa những doanh nghiệp nước ngoài
so với đa số các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam là các doanh nghiệp
nước ngoài vào thị trường Việt Nam với một chiến lược trung, dài hạn. Ngay
từ đầu họ đã sẵng sàng bỏ ra một ngân sách đầu tư cần thiết, và thậm chí sẵn
sàng chấp nhận lỗ từ 3-5 năm đầu tiên để thâm nhập thị trường và chiếm thị
phần đa số. Trong khi các doanh nghiệp Việt Nam thường được cho là thiếu
tầm nhìn chiến lược, bị hạn chế bởi khả năng quản trị và trình độ chuyên môn,
họ không đủ sự tự tin và trình độ chuyên môn để đánh giá xu hướng, cũng
như tiềm năng của thị trường để mà có thể vạch ra một chiến lược lâu dài cho
doanh nghiệp của mình.
Khả năng tài chính hạn hẹp,năng lực tổ chức, quản lí hạn chế cũng là
những điểm hạn chế cơ bản của các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam.
Điểm hạn chế nầy chính là sức ép làm cho các doanh nghiệp Việt Nam hoạt
động với ưu tiên là có thể tồn tại trong giai đoạn trước mắt hơn là nhắm đến

hạng chỉ có 5 tiêu chí có thứ hạng cao hơn năm ngoái; một tiêu chí không đổi
và 4 tiêu chí còn lại đều tụt hạng.
Tiêu chí 1: Thành lập doanh nghiệp Để khởi sự một doanh nghiệp, nhà kinh doanh phải trải qua 11 bước
thủ tục, mất 50 ngày và một khoản chi phí tương đương với 20% thu nhập
bình quân đầu người.Tuy nhiên, Việt Nam đã tiến hành một số cải cách nhằm
giảm thời gian thành lập doanh nghiệp ở Việt Nam nhưng chưa được báo cáo
cập nhật. Luật doanh nghiệp mới có hiệu lực tháng 7/2006 giảm số ngày cấp
phép đăng ký kinh doanh ở Việt Nam nhưng cải cách này chưa được phản ánh
trong chỉ số tương ứng của Việt Nam năm nay.
Việc thực hiện quy trình một cửa tiến hành tháng 3/2007 với 3 bước
chính trong thủ tục thành lập doanh nghiệp là giấy đăng ký kinh doanh, cấp
mã số thuế, và giấy phép khắc dấu cũng chưa được đưa vào báo cáo năm nay.
Vì vậy, chỉ số “Thời gian thành lập doanh nghiệp của Việt Nam” vẫn giữ
nguyên 50 ngày như năm ngoái. So với năm ngoái, vị trí của Việt Nam không
thay đổi vẫn ở hạng 97.
Tiêu chí 2:Cấp giấy phép
Các bước thủ tục, thời gian và chi phí bỏ ra để giải quyết các giấy phép
hoạt động kinh doanh trong ngành xây dựng ở Việt Nam tương đối cao so với
các nước trong khu vực. Nhà đầu tư mất 14 bước thủ tục, 194 ngày và 373,6%
thu nhập bình quân đầu người, trong khi mức bình quân toàn khu vực là 185%
mức thu nhập bình quân; thậm chí nước láng giềng Thái Lan chỉ là 10,7%.
Bức tranh về giấy phép ở Việt Nam đã tụt 38 bậc từ hạng 25 xuống hạng 63.
Tuy nhiên, theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế, đây là thứ hạng trung
thực hơn so với năm ngoái bởi vì vấn đề giấy phép trên thực tế vẫn đang đặt
ra nhiều khó khăn cho Việt Nam hiện nay.
Tiêu chí 3: Tuyển dụng và sa thải lao động
Những khó khăn khi thuê mướn và sa thải công nhân, tập trung ở 6 yếu

bị hạn chế. Việt Nam đang xúc tiến việc xây dựng tổ chức đăng ký thông tin
tín dụng tư nhân. Khi tổ chức này được hình thành và các điều kiện pháp lý
cần thiết cho hoạt động của nó được ban hành chắc chắn sẽ giúp cho việc tiếp
cận thông tin tín dụng ở Việt Nam được dễ dàng hơn.
Tiêu chí 6: Bảo vệ nhà đầu tư
Tâm lý ngần ngại khi đầu tư vào Việt Nam thể hiện trong các chỉ số
này. Tiêu chí 6 xem xét ba phương diện bảo vệ nhà đầu tư gồm có tính minh
bạch trong giao dịch, trách nhiệm pháp lý của giám đốc và khả năng của cổ
đông kiện các nhà quản trị có hành vi sai trái. Tính tổng thể Việt Nam chỉ đạt
2,7/10. Chỉ số về trách nhiệm của giám đốc nằm trong nhóm thấp nhất thế
giới (0/10), quyền khiếu kiện của cổ đông và tính minh bạch đều thấp (2/10
và 6/10). Năm nay, thứ hạng của tiêu chí này là 165/178.
Tiêu chí 7: Đóng thuế
Theo báo cáo, các doanh nghiệp Việt Nam thuộc nhóm tiêu tốn nhiều
thời gian nhất để đáp ứng các yêu cầu về thuế. Nhưng thủ tục thuế nhiêu khê,
làm mất nhiều thời gian của doanh nghiệp là vấn đề đáng lưu ý. Bình quân
doanh nghiệp phải nộp 32 lần và mất 1.050 giờ làm việc trong khi ở Indonesia
là 266 giờ làm việc.
Tiêu chí 8: Thương mại quốc tế
Hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa ở Việt Nam đã cải thiện nhiều, chi
phí và thủ tục đã giảm nhưng vẫn còn mất thời gian. Để xuất một container
hàng, doanh nghiệp phải có sáu loại hồ sơ, mất 24 ngày và tốn 669 USD.
Trong khi đó, Trung Quốc chi phí thời gian không thấp hơn Việt Nam là 21
ngày nhưng chi phí tiền bạc lại thấp hơn đáng kể, chỉ 390 USD. Tương tự để
nhập khẩu một container, doanh nghiệp cần có 8 loại hồ sơ, mất 23 ngày và
881 USD. Việc phải chịu chi phí cao hơn nhiều so với các nước trong khu vực
đang gây ảnh hưởng không nhỏ cho tính cạnh tranh của Việt Nam. Năm nay,

nay (từ hạng 93 lên 83). Đây chính là một cảnh báo cho thấy Việt Nam cần
đẩy mạnh cải cách nhanh hơn nữa, triệt để hơn nữa nếu muốn cạnh tranh về
thu hút đầu tư.
 Việt Nam gia nhập WTO:cơ hội và thách thức
 Cơ hội Hội nhập kinh tế quốc tế và gia nhập WTO sẽ mang lại cho nền kinh tế
Việt Nam nhiều cơ hội và không ít thách thức. Những cơ hội mà việc gia nhập
WTO đem lại cho Việt Nam :
 Hàng hóa và dịch vụ Việt Nam được đối xử bình đẳng.
 Hệ thống chính sách minh bạch, ổn định sẽ giúp tăng cường thu
hút đầu tư nước ngoài, tạo môi trường thuận lợi cho đầu tư trong
nước và nước ngoài.
Cải cách các chính sách liên quan đến đầu tư theo hướng giảm thiểu các
rào cản trái với quy định của WTO, bãi bỏ sự phân biệt đối xử theo MFN và
NT, các nhà đầu tư sẽ yên tâm hơn khi tiến hành đầu tư vào thị trường tiêu thụ
rộng.
Việt Nam cũng nhận được nhiều sự hỗ trợ về tài chính, tín dụng và viện
trợ không hoàn lại của các tổ chức và các chính phủ nước ngoài.
Việc thực hiện những cam kết về mở của thị trường dịch vụ chắc chắn
cũng sẽ kéo theo một làn sóng đầu tư nước ngoài vào nhiều ngành kinh tế
dịch vụ.
Đầu tư nước ngoài gia tăng sẽ đem lại những lợi ích cho nền kinh tế như:
- Tạo động lực tăng trưởng sản xuất công nghiệp.
- Tác động mạnh mẽ tới tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu.
- Góp phần đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý và cán bộ kinh doanh năng
động, sáng tạo
- Giải quyết việc làm cho lao động trực tiếp và gián tiếp trong nhiều
ngành kinh tế.

 Thách thức đối với Chính phủ
- Phải sửa đổi và xây dựng cơ chế chính sách phù hợp với các quy định
của WTO:
Sửa đổi và xây dựng mới khối lượng lớn văn bản luật và pháp lệnh
Khuôn khổ pháp luật về kinh tế thương mại cần được hoàn thiện để hoạt
động hiệu quả hơn và phù hợp hơn với các quy định và chuẩn mực quốc tế. Nội luật hóa những vấn đề mới phát sinh trong thương mại quốc tế
Bỏ các phương thức quản lý không phù hợp với WTO như những lệnh
cấm, hạn chế định lượng, trợ cấp không đúng qui định.
Xây dựng các chính sách mới phù hợp với quy định của WTO như AMS,
hỗ trợ xuất khẩu trong xúc tiến thương mại, nâng cao chất lượng hàng hóa, hỗ
trợ cước vận tải.v.v…
- Nguồn thu ngân sách bị suy giảm: Việc cắt giảm thuế nhập khẩu sẽ làm
giảm đáng kể nguồn thu ngân sách trong giai đoạn đầu.
- Vấn đề cán cân thanh toán: Thâm hụt cán cân thanh toán sau khi gia
nhập WTO là vấn đề lo ngại của các nước đang phát triển nói chung và Việt
Nam nói riêng.
- Giải quyết vấn đề phát sinh như đào tạo lại để giải quyết việc làm cho
những người lao động mất việc…
- Việc cải cách doanh nghiệp đòi hỏi đầu tư rất nhiều về vốn, kỹ thuật và
cả yếu tố con người;
- Nguồn nhân lực là một yếu tố quan trọng và bao trùm nhiều thách thức
lớn trong tiến trình hội nhập. Các cán bộ Việt Nam thường hạn chế về kinh
nghiệm, kiến thức kinh tế thị trường, ngoại ngữ và đặc biệt là kỹ năng đàm
phán;
- Vấn đề an sinh xã hội: Giải quyết việc làm cho người lao động dư thừa
do cải tổ ngành sản xuất trong nước để phát triển, đặc biệt đảm bảo đời sống
của người nông dân;

lớn của nền kinh tế. Cải cách hệ thống chính sách thuế đảm bảo bình đẳng
giữa các thành phần kinh tế, quản lý thuế minh bạch, công khai và đảm bảo
thực hiện đầy đủ các cam kết quốc tế về thuế.
Kiên trì thực hiện chính sách quản lý ngân sách thận trọng, chú trọng
đầu tư cho giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học, công nghệ nhằm chuẩn bị cơ sở cho phát triển kinh tế tri thức; giảm tối đa bao cấp gắn với việc cổ phần
hóa doanh nghiệp nhà nước.
2. Thực hiện việc chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước theo hướng đa sở
hữu, với mục tiêu đại bộ phận các doanh nghiệp nhà nước sẽ thực hiện cổ
phần hóa, sắp xếp lại; đổi mới phương thức quản lý và đầu tư vốn nhà nước
thông qua Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước, xây dựng và áp
dụng mô hình quản trị công ty hiện đại, theo chuẩn mực quốc tế.
3. Hoàn thiện hệ thống pháp luật tài chính phù hợp với quá trình
chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, đảm bảo tuân thủ các nguyên tắc hội
nhập và thông lệ quốc tế; Thiết lập môi trường kinh doanh minh bạch, thông
thoáng, có tính cạnh tranh cao, đảm bảo quyền bình đẳng cho các doanh
nghiệp trong nước và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
4. Phát triển thị trường vốn trong nước. Chính phủ khuyến khích phát
triển đa dạng các hàng hóa và sản phẩm tài chính trên thị trường như cổ
phiếu, trái phiếu Chính phủ và trái phiếu doanh nghiệp; gắn việc cổ phần hóa
doanh nghiệp với đấu giá, niêm yết trên thị trường chứng khoán; phát triển hệ
thống dịch vụ tài chính hỗ trợ như kế toán, kiểm toán, tư vấn tài chính; đẩy
mạnh phát triển và mở cửa thị trường bảo hiểm và xây dựng thị trường chứng
khoán Việt Nam an toàn, hiệu quả, trong tương lai có khả năng kết nối với các
thị trường chứng khoán khu vực và trên thế giới; mở rộng thu hút các nhà đầu
tư nước ngoài tham gia vào thị trường vốn Việt Nam dưới nhiều hình thức
(quỹ đầu tư, công ty quản lý quỹ, tư vấn tài chính, cung cấp các dịch vụ
chứng khoán, v.v…).

ứng cầu. Chính cơ chế hỗ trợ này sẽ khuyến khích được cả ba nhà dễ dàng
liên kết với nhau và nhất là phát huy được chức năng "bà đỡ" của Nhà nước
trong quá trình tạo lập và thúc đẩy phát triển thị trường công nghệ. Về môi
trường pháp lý phải xây dựng và hoàn thiện vấn đề quản lý KH-CN, thi hành
luật sở hữu trí tuệ nhất là vấn đề bản quyền, quyền sở hữu trí tuệ, quyền tác
giả; sớm ban hành luật chuyển giao công nghệ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status