Nguồn gốc dân tộc Việt Nam và Ðịa
đàng phương Ðông – Phần 2
2- Có phải Người Hoà Bình tràn lan về phía nam (Indonesia ?) , lên hướng
bắc (Trung Hoa ?) và sang hướng tây (Thái Lan).
Văn hoá Hòa Bình (với giai đoạn muộn từ 7000 đến 12000 năm trước đây) được
bà Colani, nhà khảo cổ Pháp, khai quật, nghiên cứu và đề xuất ra vào cuối những
năm 1920. Văn hoá này có những đặc trưng về dụng cụ đá cuội (pebble) ghè trên
một hay hai mặt thành chopping tools và về nơi cư dân sống : hang động đá vôi.
Cho đến nay người ta chưa có bằng chứng trực tiếp về sự nảy sinh nông nghiệp
trong văn hoá Hoà Bình ở Việt Nam, mặc dù có những bằng chứng gián tiếp, như
môi trường, sự khủng hoảng về cách tìm thức ăn, sự xuất hiện của rìu đá mài.
Danh từ "Hoà Bình" ngày nay được các nhà khảo cổ thế giới dùng trong khái niệm
techno-complex (phức hợp kĩ thuật) để chỉ những di tích khảo cổ loại này. Nhiều
hang động có di tích người tìm thấy ở Thái Lan qua những thập niên gần đây được
xếp vào techno-complex loại Hoà Bình. Khi nghiên cứu phấn hoa trong tàng đất
khảo cổ ở nhiều hang, đặc biệt trong Spirit Cave tại Thái Lan, người ta nghĩ là chủ
nhân chúng đã bắt đầu trồng một số cây như trầu cau, bầu bí.vào giai đoạn cuối
của thời săn bắt-hái lượm. Theo thói quen trong ngành, người ta dùng tên của nơi
mà đặc trưng về di tích khảo cổ được tìm thấy lần đầu -Hoà Bình- để chỉ di tích có
đặc trưng đó tìm được sau này, ngay cả khi chúng được tìm ra trong vùng khác.
"Người Hoà Bình" là những người thuộc văn hoá đặc trưng tiền đá mới (pre-
neolithic) này. Tôi nghĩ không phải dụng cụ đá tìm được ở Úc Châu là từ Hoà
Bình mà ra, vì tuổi di tích Úc già hơn, bởi niên đại sớm nhất của văn hoá Hoà
Bình, theo khảo cổ học Việt Nam, là 18 ngàn năm trước (với rất ít di tích trong
khoảng thời gian từ đó đến 12 ngàn năm trước). Người sống ở Hoà Bình khó lòng
vượt mấy ngàn cây số để đến Úc từ 14 000 đến 20 000 năm trước. Theo tôi, chữ
"người Hoà Bình" dùng cho các di tích ở nơi khác không có nghiã là người ở Hoà
Bình -Bắc Việt- vào thời điểm đó (7 000 đến 12 000 năm trước) đã tràn lan đến
những nơi khác như Thái Lan, Indonesia, Úc, Trung Hoa.
Về văn hoá Hoà Bình, các nhà khảo cổ Việt Nam đã đóng góp rất nhiều qua các
khi có ảnh hưởng của Ần Độ"?.
Tôi e rằng có nhầm lẫn về điểu này: Việt Nam cổ xuất khẩu trống đồng chứ không
xuất khẩu đồ gốm. Đồ gốm thời Phùng Nguyên, trước Đông Sơn, có hoa văn độc
đáo, sau đó được dùng trang trí đồ đồng Đông Sơn.
Gốm Đông Nam Á nổi tiếng thế giới là gốm Lapita xưa 3500 năm, tìm được ở
nhiều đảo vùng nam Thái Bình Dương. Gốm Lapita nổi tiếng không phải chỉ vì
đẹp, mà còn vì dính dáng đến nguồn gốc các thuyết thiên di của giống dân nói
tiếng Nam Đảo. Đó là thuyết "chuyến tàu nhanh" (express train) chở dân Nam Đảo
đi từ Đài Loan đến khắp vùng biển nam Thái Bình Dương của Bellwood, và thuyết
"hai chuyến tàu, nhanh và chậm" của Oppenheimer. Cả hai đều không nhắc nhở
đến gốm Phùng Nguyên.
Theo thuyết "chuyến tàu nhanh" của Bellwood, người nói tiếng Nam Đảo từ Đài
Loan dùng thuyền vượt biển đến chiếm lĩnh nhanh chóng chuỗi đảo hoang trong
vùng nam Thái bình Dương, liên tiếp đảo này đến đảo kia trong vòng vài trăm
năm ; họ mang theo đồ đạc, kĩ thuật (làm gốm Lapita), thú nuôi, cây trồng, vào
3500 năm trước đây. Còn Oppenheimer chủ trương rằng trước chuyến tàu nhanh
này, đã có "chuyến tàu chậm" "chở người tị nạn hồng thuỷ" (ở thềm Sunda ), từ
bắc Borneo đến vùng đảo Nam Thái Bình Dương nói trên vào 9000 hay 10000
năm trước. Ở mỗi nơi họ ngừng lại một thời gian, "lai giống" với người bản địa
thuộc chủng Australoid, họ sinh sống và sinh sôi trước khi lên đường tiếp tục đi
qua đảo khác.
Đồ gốm Á Châu nổi tiếng thế giới, gốm Jomon của cổ dân sống ở bắc Nhật, là
gốm sớm nhất thế giới (trên 10 000 năm trước), có nét đẹp riêng biệt, không thể
đến từ Hoà Bình, vì Hoà Bình là văn hoá không có đồ gốm, hay có rất ít vào thời
kì cuối ( Bắc Sơn ). Nhưng người Nhật ngày nay là con cháu của người thuộc văn
hoá Yayoi, không có cùng genes với chủ nhân gốm Jomon nổi tiếng này, cũng như
người Thái hiện tại có gốc ở vùng Vân Nam chứ không là hậu duệ trực tiếp của
chủ nhân các văn hoá cổ trên năm ngàn năm (Ban Chiang, Ban Kao.). Chủ nhân
văn hoá Yayoi đến Nhật chỉ vài trăm năm trước công nguyên, mang theo nghề
trồng lúa, và có khả năng là người U Việt di tản khi nước U Việt bị ngườI Hán
trước dân cổ ở vùng đó đã ăn nhiều gạo của lúa trồng hơn lúa hoang. Nhóm cư dân
bản địa này cũng bắt đầu làm đồ gốm thô xốp bằng đất trộn trấu. Kinh nghiệm về
trồng lúa tích tụ tại đấy trong mấy ngàn năm đã đưa đến nghề trồng lúa trong toàn
vùng nam Dương tử. Di tích xưa thứ hai, chín ngàn năm trước (9000), là Pengtou,
gần hồ Động Đình phía nam sông Dương tử (Trường giang). Hơn bốn mươi chỗ
có di tích lúa cổ hàng ngàn năm đã được tìm thấy ở vùng nam Trường giang. Gần
cửa biển nam Trường giang, di tích văn hoá Hemudu cho thấy văn minh lúa nước
trong vùng lên đến trình độ rất cao vào 7000 năm trước (sớm hơn cả di tích làng
trồng kê Banpo xưa nhất của tộc Hán phương bắc).
Hemudu là một làng vài trăm người sống trên nhà sàn trong vùng đầm lầy ở cửa
sông Tiền Đường. Dân Hemudu đã trồng lúa, ăn cơm, để lại lớp rơm và trấu dày
25- 50 cm (còn dính một số hạt lúa), có nơi dày đến cả thước, trên diện tích 400
thước vuông. Có thể đó là lớp "rác" để lại trên sân đập lúa. Di chỉ thực vật (củ ấu,
củ năng, táo.) và di cốt động vật hoang (hươu, trâu, tê giác, cọp, voi, cá sấu ) cho
thấy khí hậu vùng nam sông Dương tử bấy giờ thuộc loại nhiệt đới, hoàn toàn
thích hợp với việc canh tác lúa nước.
Nền văn hoá Hemudu xưa bảy ngàn năm (7000) có nhiều điểm gần gũi với văn
hoá Phùng Nguyên- Đông Sơn vốn là những văn hoá trẻ/trễ hơn nhiều (sau hơn
3000 năm). Cư dân vùng nam Trường giang lúc ấy có lẽ gần với cư dân Bắc Việt
về mặt chủng tộc và văn hoá hơn cư dân bắc Trung Hoa. Khuôn mặt đắp từ sọ
người Hemudu trưng bày ở Viện Bảo tàng Hemudu cho thấy họ giống người thuộc
chủng nam Mongolic, tức là chủng của người Việt Nam từ thời Đông Sơn về sau.
Sau văn hoá Hemudu, hàng loạt văn hoá lúa nước khác đã sinh ra dọc Trường
giang khoảng 4000 năm trước (Liangzhu, Majiabin, Quinshanyang, Qujialing,
Daxi, Songze, Dadunze.).
6-Tổ tiên chúng ta đã phát triển và ứng dụng kĩ thuật trồng lúa, hay tổ tiên
chúng ta là thầy dạy người Hán trồng lúa nước?
Theo tôi, diều này đúng. nếu ta chấp nhận rằng cư dân trồng lúa sống ở phía nam
Trường giang(thuộc nhóm Bách Việt, theo sử Tàu ) là tổ tiên của dân Việt Đông
Sơn hoặc là anh em ruột với tổ tiên người Việt Đông Sơn, mà vì lí do nào đó tổ
bán trao đổi đến tận Mã Lai, Indonesia, nhưng lại là một văn hoá nằm trong thời kì
đồ sắt, tức là thời nằm sau thời đồng thau trong quá trình tiến triển văn minh các
nơi trên thế giới theo thứ tự trước sau là : đồ đá cũ, đồ đá mới (đá mài), đồ đồng
thau, đồ sắt. Nghĩa là cư dân ấy vẫn còn quá "lưu luyến" đến đồ đồng thau (vì tuy
đã biết nhưng không chú ý nhiều đến đồ sắt ?! ). Đồ sắt có những điểm trội hơn đồ
đồng trên phương diện kinh tế và quân sự : sắt cứng chắc, kiếm sắt chặt gãy kiếm
đồng, và tên sắt xuyên qua áo giáp đồng. Thời Đông Sơn quả có sản xuất nhiều đồ
đồng thau chạm trổ tinh vi : vũ khí (dao găm, qua, giáp che ngực, lưỡi lao ) và cả
lưỡi rìu, lưỡi cày (tuy lưỡi cày sắt đã xuất hiện). Người Hán chính nhờ phát triển
mạnh kĩ thuật đồ sắt vào thời Chiến Quốc nên đã thắng các nhóm dân giáp ranh
phía nam còn mãi bám vào đồ đồng thau, như nước U Việt ba trăm năm trước
công nguyên. Các di tích quân Tần ( ở Xi'an) cho thấy họ mang khí giới và giáp
sắt. Người Hán tiếp tục thanh toán các nước Mân Việt, Ấu Việt, rồi diệt luôn Ấu
Lạc thời Đông Sơn ! Hay nói cách khác, nếu văn hóa ta xưa kia "cao nhất", mà lại
bị Hán đô hộ, ấy bởi ta "thua" họ về sức mạnh, kĩ thuật, kinh nghiệm chinh chiến;
nghĩa là ta không xem kĩ thuật, quân sự như một thành tố của một nền văn hóa !
8- "Đô thị cổ xưa nhất trong vùng là do tiền nhân chúng ta xây dựng" ?
Đô thị cổ xưa nhất trong vùng? Tuỳ theo vùng xem xét có bao gồm cả nam
Trung Hoa hay Ần Độ không. Thành Cổ Loa xưa nhất Việt Nam xây vào thời An
Dương Vương, hơn hai trăm năm trước công nguyên. Về kiến trúc hiện nay không
còn gì nhiều. Theo truyền thuyết, thành xây hình trôn ốc, gồm 9 vòng, có hào nước
thông với sông Hoàng Giang nối với sông Cầu và sông Hồng. Hiện nay chỉ còn
những đoạn lẻ của ba vòng thành đất, với vòng lớn nhất chu vi 9 km.
Trong khi đó, phía bắc vùng đất Loa thành là Trung Hoa, nước lớn nhất thế giới
vào thời đó. Vua Trung Hoa, Tần Thuỷ Hoàng Đế thu phục được nhiều thành trì
bằng đá (còn dấu vết đến ngày nay) khi đánh bại những nước vùng bắc và trung
nước Tàu. Tần Thuỷ Hoàng còn cho xây Vạn Lý Trường Thành ngăn dân phía bắc
xâm lấn. Xưa hơn nữa, một ngàn năm trước đó, nhà Thương, nhà Ấn xây thành
bảo vệ các thủ đô vùng bắc Trung Hoa, và ở nam sông Dương tử nền văn minh
hơn là một quốc gia). Có lẽ vì vậy mà vũ khí thời Đông Sơn được chạm trỗ kĩ
lưỡng, như đồ dùng trong nghi lễ hơn là khí giới giết người trong các trận chiến.
Lại thêm một chi tiết về "sức mạnh kĩ thuật" (hơn Việt) của tộc Hán !
Những điểm nêu trên không nhằm mục đích "hạ uy tín" của tổ tiên dân Việt, chủ
nhân các văn hoá từ Hoà Bình đến Đông Sơn. Một vùng nhỏ, ít dân như Bắc Việt
không thể so sánh được với các nhóm dân quá đông đúc sống trên một vùng rộng
lớn như Trung Hoa. So với cư dân khác tại Đông Nam Á, ngoài trừ kĩ thuật làm
trống đồng, văn minh Đông Sơn có lẽ cũng không cao hơn nhiều. Dĩ nhiên về mặt
chính trị, Trung Hoa với số dân và chủng tộc quá đông đảo, phải tìm mọi cách để
tránh những nổi dậy, yêu sách sắc tộc và/hoặc để cổ động, biện minh cho chủ
trương bành trướng, cũng như Việt Nam, để giữ đoàn kết dân tộc, tự vệ trước
người láng giềng quá lớn và nhiều tham vọng. Một trong những phương tiện là ra
sức chứng minh, khẳng định sự lâu đời và liên tục đồng nhất hoặc hơn trội về cội
nguồn văn hoá, chủng tộc của mình.
Nhưng quả là liều mạng khi xem "Đông Nam Á là một trung tâm văn hoá lớn ngay
từ thời cổ đại, trong đó Việt Nam là nơi hội tụ ở mức độ đầy đủ nhất mọi đặc
trưng của văn hoá khu vực", như một học giả trong nước đã viết (theo Tạ Chí Đại
Trường, xem phần sách tham khảo) mà không đưa ra lí luận cũng như bằng chứng
thuyết phục.