Mở đầu
Dân c là tiến chỉ hết sức quan trọng và có thể coi là tiêu chí đặc trng
nhất để hình thành các sắc thái văn hóa hết sức phong phú, đa dạng. Việt
Nam là một đất nớc nhiều tộc ngời và sự khác biệt về qui mô dân số, hoàn
cảnh sống, điều kiện lịch sử, truyền thống và bản sắc văn hóa. Do vậy, Đảng
và Nhà nớc ta chủ trơng phát triển toàn diện và chú ý tính đặc thù và bản sắc
của mỗi dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Vấn đề này có vai
trò quan trọng trong nghiên cứu thực tiễn, góp phần không nhỏ vào việc
hoạch định các chơng trình phát triển kinh tế - xã hội ở các địa phơng, nhất là
với các tộc ngời, địa phơng còn ở trình độ phát triển chậm, mang nhiều nét
đặc thù.
1
PHầN I. ĐặC TRƯNG VĂN HóA
i. Nguồn gốc dân tộc Việt Nam
Vấn đề nguồn gốc dân tộc và làm rõ nguồn gốc dân tộc Việt Nam có
tầm quan trọng đặc biệt không chỉ trong lĩnh vực nghiên cứu lịch sử, văn hóa
mà còn có ý nghĩa thiêng liêng đối với các thế hệ ngời Việt Nam. ở đây đa ra
hai cách giải thích nguồn gốc dân tộc Việt Nam đó là cách giải thích nguồn
gốc dân tộc thông qua các sự tích, truyền thuyết và thứ hai là dựa trên quan
điểm khoa hoc.
Từ xa đến nay, nhiều dân tộc trên đất nớc ta cũng đã tìm cách giải
thích nguồn gốc dân tộc mình thông qua các sự tích, truyền thuyết nh: Chàng
hơu sao và nàng cá chép; Đẻ đất đẻ nớc của dân tộc Mờng; truyền thuyết Quả
bầu của dân tộc Thái, Khơ Mú; nhng tiêu biểu nhất là truyền thuyết Hùng V-
ơng của dân tộc Việt (Kinh). Truyền thuyết Hùng Vơng kể rằng: Tơng truyền
cháu ba đời của vua Thần Nông (Trung Quốc) là vua Đế Minh trong một
chuyến tuần thú phơng Nam đến núi Ngũ Lĩnh vào Động Đình Hồ gặp Tiên
Nữ, tình cảm nảy nở giữa ngời Bắc kẻ Nam dẫn đến nhân duyên sau đó sinh
hạ đợc thái tử đặt tên là Lộc Tục. Vua Đế Minh ở với Tiên Nữ đợc ít lâu rồi
trở về Phơng Bắc trớc khi về Ông cho lập đàn tế trời đất rồi nói: "Ta nhất sinh
có nhiều mĩ nữ, chỉ sinh đợc có thái tử là Đế Nghi. Sau khi kết hôn với Tiên
kết quả nghiên cứu của nhà khảo cổ học ngời Pháp Mácpêrô và Lê Văn Siêu.
Căn cứ vào những di chỉ khảo cổ học đã tìm thấy ở Việt Nam từ thời kỳ đồ đá
đến thời đại kim khí (tiêu biểu là các di chỉ khảo cổ học tìm thấy ở Núi Đọ
(Thanh Hóa) thuộc thời đại đá cũ cách ngày nay hàng chục vạn năm, đến di
chỉ khảo cổ học Sơn Vi (Phú Thọ) thuộc thời đại đá giữa cách ngày nay
khoảng trên dới 1 vạn năm, đến các di chỉ thuộc thời kỳ đá mới cách ngày
nay 5 - 6000 năm; sau đó là chuyển sang giai đoạn các nền văn hóa kim khí
3
Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun, Đông Sơn phát triển hết sức rực rỡ, với
những hiện vật tìm thấy rất phong phú trên một địa bàn rộng...) nhóm nghiên
cứu thuộc Viện Viễn Đông Bát Cổ (Hà Nội) đã đa ra quan điểm dân tộc Việt
Nam có nguồn gốc bản địa.
Cùng với những công trình trên, học giả Đào Duy Anh, trên cơ sở khảo
đính về lịch sử Trung Quốc thời Xuân Thu Chiến Quốc, thấy có nớc Việt
bị nớc Sở chinh phục; không chịu thần phục sự thống trị của ngời Hán, một
bộ phận c dân nớc Việt đã phiêu dạt xuống phơng Nam vào Bắc Đông Dơng
và miền Bắc Việt Nam sinh sống, dần dần bị Việt hóa trở thành một bộ phận
của c dân Việt... Vì vậy, ông đã đa ra quan điểm ngời Việt vốn là một bộ
phận của c dân nớc Việt thời Xuân Thu Chiến Quốc.
Trên cơ sở những kết quả nghiên cứu về thời đại Hùng Vơng đã đợc
công bố, Bình Nguyên Lộc cũng đa ra quan điểm, ngời Việt có nguồn gốc từ
Tây Tạng thiên di xuống sinh sống ở miền Nam Trung Quốc, Bắc Đông D-
ơng và Bắc Việt Nam, mà hiện diện của nhóm c dân này là c dân nói tiếng
Tày Thái.
Cùng với Bình Nguyên Lộc, Giáo s Văn Tân dựa trên cơ sở nghiên cứu
các nhóm c dân cổ đã từng sinh sống ở bắc Đông Dơng, Tây Nguyên... ông
nhận thấy các dân tộc: Khạ (Lào), Khơ Mú, Kháng, Mảng, Xinh Mun, La Ha
và các dân tộc ở Tây Nguyên... có nhiều nét tơng đồng với c dân cổ ở châu
đại dơng, cả về thể tạng, tâm lí, ngôn ngữ... Trên cơ sở đó ông đa ra quan
điểm, một bộ phận dân tộc Việt có nguồn gốc từ châu Đại Dơng thiên di vào.
tộc Việt Namcòn giúp chúng ta thấy đợc mối quan hệ mật thiết hữu cơ giữa
văn hóa Việt Nam với văn hóa của các quốc gia trong khu vực Đông Nam á,
với những nét tơng đồng về kinh tế, văn hóa, ngôn ngữ, phong tục tập quán,
lễ nghi...
5
II. Dân tộc Việt Nam
Đất nớc Việt Nam trải dài trên vùng đất ven biển của Đông Nam á, từ
xa xa đã có nhiều dân tộc sinh sống, tổng cộng có 54 dân tộc sinh sống.
Ngoài dân tộc Việt ( kinh ) chiếm trên 80% dân số, sống chủ yếu ở đồng
bằng và trung du, 53 dân tộc ngời thiểu số sống chủ yếu ở vùng đồng bằng và
trung du,. ở phía Bắc và Tây Bắc, có ngời Thái, Tày, Nùng, Mông, Dao, Cao
Lan, Sán Dìu, Lô lô , ở Tây Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ có các dân tộc Thái,
Mờng..., ở Tây Nguyên có ngời Ba-na, Xơ-Đăng, Gia-va ; ở Tây Nam Bộ có
ngời Khơ-Me. Số lợng của mỗi tộc nguời cũng rất khác nhau. Các dân tộc M-
ờng, Thái, Tày có số dân trên d ới một triệu, ví dụ: Dân tộc mờng có
1.137.515 ngời; Thái: 1.328.725; Tày: 1.477.514. Trong khi các dân tộc khác
có tộc ngời chỉ khoảng hơn 300 ngời nh Brâu, Ơ Đu và Rơ- Mum.
Tiếng nói của các dân tộc Việt Nam thuộc 8 nhóm ngôn ngữ khác
nhau:
- Nhóm Việt - Mờng có:
Nhóm Việt - Mờng có 4 dân tộc là: Chứt, Kinh, Mờng, Thổ.
- Nhóm Tày - Thái có 8 dân tộc là: Bố Y, Giáy, Lào, Lự. Nùng,
Sán Chay, Tày, Thái.
- Nhóm Môn-Khơ me có 21 dân tộc là: BaNa, Brâu, Bru - Vân
kiều, Chơ ro, Co, Cơ ho, Cơtu, Gié - triêng, Hrê, Kháng, Khme, Khomu, Mạ,
Mảng, Mnông, Ôđu, Rơ măn, Tà ôi, Xinh mun, Xơ đăng, Xtiêng.
- Nhóm Mông_Dao có 3 dân tộc: Dao, Mông, Pà Thẻn.
- Nhóm Kađai có 4 dân tộc: Cờ lao, La chí, Laha, Pu péo.
- Nhóm Nam-đảo có 5 nhóm dân tộc: Chăm, Churu, Êđê, Gia-rai,
Ragrai.
hệ biện chứng giữa yếu tố nôi sinh và yếu tố ngoai sinh. Trong quá trình này
ngời Việt Nam không tiếp nhận toàn bộ mà chỉ chọn lọc lấy những giá trị
thích hợp cho tộc ngời mình.
Từ cơ tầng văn hóa Đông Nam á - một nền văn hóa nông nghiệp lúa
nớc Việt Nam đã có sự giao lu tiếp biến với văn hóa Trung Hoa. Đây là sự
giao lu rất dài trong nhiều thời kỳ lịch sử của Việt Nam. Cho đến nay, không
một nhà văn hóa học nào có thể phủ nhận ảnh hởng lớn của văn hóa Trung
hoa đối với văn hóa Việt Nam. Quá trình giao lu tiếp biến ấy diễn ra ở cả hai
trạng thái: giao lu cỡng bức và giao lu không cỡng bức.
Cả hai dạng thức của giao lu, tiếp biến văn hóa cỡng bức và tự nguyện
của mối quan hệ giữa văn hóa Việt Nam và văn hóa Trung Hoa đều là nhân
tố cho sự vận động phát triển đa dang của văn hóa Việt Nam qua diễn tính
lịch sử. Ngời Việt đã tạo ra khá nhiều thành tựu trong quá trình giao lu văn
hóa này. Ví dụ: Văn học nghệ thuật, các thể loại thơ, phong tục tập quán,
cách ăn mặc
Khác với Trung Hoa có đờng biên giới với Việt Nam, ấn Độ không
trực tiếp giáp với Việt Nam nhng văn hóa ấn Độ lại có ảnh hởng sâu đậm đến
văn hóa Việt Nam trên nhiều bình diện văn hóa ấn Độ thẩm thấu vào văn
hóa Việt Nam bằng nhiều thách thức và liên tục. Điều này không chỉ thể hiện
qua các nền văn hóa trớc đây nh: óc eo, Chăm Pa mà hiện nay nó còn thể
hiện rõ rệt trong văn hóa của một số vùng, một số dân tộc Việt Nam nh:
Chăm, Chân Đặc biệt, quá trình giao l u và tiếp xúc của văn hóa Việt Nam
và văn hóa phơng Tây theo lối sản xuất công nghiệp.
Sự đa dạng của nền văn hóa Việt Nam ngoài việc do giao lu tiếp biến
chọn lọc từ các nền văn hóa khác trên thế giới trớc hết phải kể đến sự đa dạng
của các yếu tố nội sinh trong nó: Văn hóa vùng, văn hóa vùng là một thực thể
văn hóa, hình thành tồn tại trong một không gian lãnh thổ nhất định, thể hiện
8