Bình luận câu nói của chủ tịch Hồ Chí Minh:
“Nước Việt nam là một, dân tộc Việt Nam là một.”
Chương I: Chủ nghĩa Mác-Lênin về vai trò của quần chúng nhân dân.
I. Những quan niệm cơ bản của triết học Mác-Lênin về con người
1. Con người là một thực thể thống nhất giữa mặt sinh vật với mặt xã hội
2. Con người là chủ thể và là sản phẩm của lịch sử
II- Quan hệ giữa cá nhân và xã hội
1. Khái niệm cá nhân
2. Biện chứng giữa cá nhân và xã hội
III- Vai trò quần chúng nhân dân trong lịch sử
1. Khái niệm quần chúng nhân dân trong lịch sử
2. Vai trò của quần chúng nhân dân
Chương II: Truyền thống đoàn kết của dân tộc Việt Nam.
Chương III: Nội dung đoàn kết dân tộc trong tư tưởng Hồ Chí Minh.
I. Những quan điểm cơ bản của Hồ Chí Minh về đoàn kết dân tộc.
II.Nguyên tắc đại đoàn kết của Hồ Chí Minh.
Chương IV: Tính đúng đắn của câu nói qua thực tiễn lịch sử.
1
Chương I: Chủ nghĩa Mác-Lênin về vai trò của quần chúng
nhân dân.
I. Những quan niệm cơ bản của triết học Mác-Lênin về con người
1. Con người là một thực thể thống nhất giữa mặt sinh vật với mặt xã hội
Triết học Mác đã kế thừa quan niệm về con người trong lịch sử triết
học, đồng thời khẳng định con người hiện thực là sự thống nhất giữa yếu tố
sinh học và yếu tố xã hội.
Tiền đề vật chất đầu tiên quy sự tồn tại của con người là giới tự nhiên.
Cũng do đó, bản tính tự nhiên của con người bao hàm trong nó tất cả bản
tính sinh học, tính loài của nó. Yếu tố sinh học trong con người là điều kiện
đầu tiên quy định sự tồn tại của con người. Vì vậy, có thể nói: Giới tự nhiên
là "thân thể vô cơ của con người"; con người là một bộ phận của tự nhiên; là
kết quả của quá trình phát triển và tiến hoá lâu dài của môi trường tự nhiên.
Với phương pháp luận duy vật biện chứng, chúng ta thấy rằng quan hệ
giữa mặt sinh học và mặt xã hội, cũng như nhu cầu sinh học và nhu cầu xã
hội trong mỗi con người là thống nhất. Mặt sinh học là cơ sở tất yếu tự nhiên
của con người, còn mặt xã hội là đặc trưng bản chất để phân biệt con người
với loài vật. Nhu cầu sinh học phải được "nhân hóa" để mang giá trị văn
minh con người, và đến lượt nó, nhu cầu xã hội không thể thoát ly khỏi tiền
đề của nhu cầu sinh học. Hai mặt trên thống nhất với nhau, hoà quyện vào
nhau để tạo thành con người viết hoa, con người tự nhiên - xã hội.
3
2. Con người là chủ thể và là sản phẩm của lịch sử
Không có thế giới tự nhiên, không có lịch sử xã hội thì không tồn tại
con người. Bởi vậy, con người là sản phẩm của lịch sử, của sự tiến hóa lâu
dài của giới hữu sinh. Song, điều quan trọng hơn cả là, con người luôn luôn
là chủ thể của lịch sử - xã hội. C.Mác đã khẳng định: "Cái học thuyết duy
vật chủ nghĩa cho rằng con người là sản phẩm của những hoàn cảnh và của
giáo dục cái học thuyết ấy quên rằng chính những con người làm thay đổi
hoàn cảnh và bản thân nhà giáo dục cũng cần phải được giáo dục". Trong tác
phẩm Biện chứng của tự nhiên, Ph.Ăngghen cũng cho rằng: "Thú vật cũng
có một lịch sử, chính là lịch sử nguồn gốc của chúng và lịch sử phát triển
dần dần của chúng cho tới trạng thái hiện nay của chúng. Nhưng lịch sử ấy
không phải do chúng làm ra và trong chừng mực mà chúng tham dự vào việc
làm ra lịch sử ấy thì điều đó diễn ra mà chúng không hề biết và không phải
do ý muốn của chúng. Ngược lại, con người càng cách xa con vật, hiểu theo
nghĩa hẹp của từ này bao nhiêu thì con người lại càng tự mình làm ra lịch sử
của mình một cách có ý thức bấy nhiêu".
Như vậy, với tư cách là thực thể xã hội, con người hoạt động thực tiễn,
tác động vào tự nhiên, cải biến giới tự nhiên, đồng thời thúc đẩy sự vận động
phát triển của lịch sử xã hội. Thế giới loài vật dựa vào những điều kiện có
sẵn của tự nhiên. Con người thì trái lại, thông qua hoạt động thực tiễn của
mình để làm phong phú thêm thế giới tự nhiên, tái tạo lại một tự nhiên thứ
định. Yếu tố xã hội là đặc trưng căn bản để hình thành cá nhân.
5
Như vậy, cá nhân là một chỉnh thể đơn nhất, vừa mang tính cá biệt vừa
mang tính phổ biến, là chủ thể của lao động, của mọi quan hệ xã hội và của
nhận thức nhằm thực hiện chức năng cá nhân và chức năng xã hội trong một
giai đoạn phát triển nhất định của lịch sử xã hội.
2. Biện chứng giữa cá nhân và xã hội
Xã hội là khái niệm dùng để chỉ cộng đồng các cá nhân trong mối quan
hệ biện chứng với nhau, trong đó cộng đồng nhỏ nhất của một xã hội là cộng
đồng tập thể gia đình, cơ quan, đơn vị và lớn hơn là cộng đồng xã hội quốc
gia, dân tộc… và rộng lớn nhất là cồng đồng nhân loại.
Nguyên tắc cơ bản của việc xác lập mối quan hệ giữa cá nhân và tập
thể cũng như mối quan hệ giữa cá nhân và các cộng đồng xã hội nói chung
chính là mối quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích cộng đồng xã hội. Đó
cũng là mối quan hệ vừa có sự thống nhất vừa có mâu thuẫn.
Mỗi cá nhân với tư cách là một con người, không bao giờ có thể tách
rời khỏi những cộng đồng xã hội nhất định, đồng thời mối quan hệ giữa cá
nhân và xã hội là hiện tượng có tính lịch sử.
Là một hiện tượng lịch sử, quan hệ cá nhân - xã hội luôn luôn vận
động, biến đổi và phát triển, trong đó, sự thay đổi về chất chỉ diễn ra khi có
sự thay thế hình thái kinh tế - xã hội này bằng hình thái kinh tế - xã hội khác.
Trong giai đoạn cộng sản nguyên thuỷ, không có sự đối kháng giữa cá nhân
và xã hội. Lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội căn bản là thống nhất. Khi xã hội
phân chia giai cấp, quan hệ cá nhân và xã hội vừa có thống nhất vừa có mâu
thuẫn và mâu thuẫn đối kháng. Trong chủ nghĩa xã hội, những điều kiện của
xã hội mới tạo tiền đề cho cá nhân, để mỗi cá nhân phát huy năng lực và bản
sắc riêng của mình, phù hợp với lợi ích và mục tiêu của xã hội mới. Vì vậy,
6
xã hội xã hội chủ nghĩa và cá nhân là thống nhất biện chứng, là tiền đề và
điều kiện của nhau.
bản, bao gồm những thành phần, những tầng lớp và những giai cấp, liên kết
lại thành tập thể dưới sự lãnh đạo của một cá nhân, tổ chức hay đảng phái
nhằm giải quyết những vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội của một thời đại nhất
định.
Khái niệm quần chúng nhân dân được xác định bởi các nội dung sau
đây: Thứ nhất, những người lao động sản xuất ra của cải vật chất và các giá
trị tinh thần, đóng vai trò là hạt nhân cơ bản của quần chúng nhân dân. Thứ
hai, những bộ phận dân cư chống lại giai cấp thống trị áp bức, bóc lột, đối
kháng với nhân dân. Thứ ba, những giai cấp, những tầng lớp xã hội thúc đẩy
sự tiến bộ xã hội thông qua hoạt động của mình, trực tiếp hoặc gián tiếp trên
các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Do đó, quần chúng nhân dân là một phạm trù lịch sử, vận động biến đổi
theo sự phát triển của lịch sử xã hội.
2. Vai trò của quần chúng nhân dân
Về căn bản, tất cả các nhà triết học trong lịch sử triết học trước Mác
đều không nhận thức đúng vai trò của quần chúng nhân dân trong trong tiến
trình phát triển của lịch sử. Về nguồn gốc lý luận, điều đó có nguyên nhân từ
quan điểm duy tâm hoặc siêu hình về xã hội.
8
Chủ nghĩa duy vật lịch sử khẳng định quần chúng nhân dân là chủ thể
sáng tạo chân chính ra lịch sử. Bởi vì, mọi lý tưởng giải phóng xã hội, giải
phóng con người chỉ được chứng minh thông qua sự tiếp thu và hoạt động
của quần chúng nhân dân. Hơn nữa, tư tưởng tự nó không làm biến đổi xã
hội mà phải thông qua hành động cách mạng, hoạt động thực tiễn của quần
chúng nhân dân, để biến lý tưởng, ước mơ thành hiện thực trong đời sống xã
hội.
Vai trò quyết định lịch sử của quần chúng nhân dân được biểu hiện ở
ba nội dung.
Thứ nhất, quần chúng nhân dân là lực lượng sản xuất cơ bản của xã hội,
trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất, là cơ sở của sự tồn tại và phát triển của
vừa là điều kiện để thúc đẩy sự phát triển nền văn hóa tinh thần của các dân
tộc trong mọi thời đại. Hoạt động của quần chúng nhân dân từ trong thực
tiễn là nguồn cảm hứng vô tận cho mọi sáng tạo tinh thần trong đời sống xã
hội. Mặt khác, các giá trị văn hóa tinh thần chỉ có thể trường tồn khi được
đông đảo quần chúng nhân dân chấp nhận và truyền bá sâu rộng, trở thành
giá trị phổ biến.
Tóm lại, xét từ kinh tế đến chính trị, từ hoạt động vật chất đến hoạt
động tinh thần, quần chúng nhân dân luôn đóng vai trò quyết định trong lịch
sử. Tuy nhiên, tùy vào điều kiện lịch sử mà vai trò chủ thể của quần chúng
nhân dân cũng biểu hiện khác nhau. Chỉ có trong chủ nghĩa xã hội, quần
chúng nhân dân mới có đủ điều kiện để phát huy tài năng và trí sáng tạo của
mình.
10
Chương II: Truyền thống đoàn kết của dân tộc Việt Nam
Trong tiến trình phát triển lịch sử, Việt Nam là một trong những khu
vực được coi là cái nôi của loài người và cũng được coi là một trong những
trung tâm phát sinh nông nghiệp sớm với nền văn minh lúa nước, nơi đã
từng trải qua các cuộc cách mạng đá mới và cách mạng luyện kim. Nền sản
xuất nông nghiệp lúa nước phụ thuộc nhiều vào tự nhiên, dó đó tinh thần
đoàn kết để chống chọi với thiên tai cũng như sản xuất sớm được hình tình ở
người Việt cổ. Trên nền tảng phát triển kinh tế - xã hội thời Đông Sơn, trước
những đòi hỏi của công cuộc trị thủy và chống xâm lăng, Nhà nước Văn
Lang - Nhà nước đầu tiên - đã ra đời vào khoảng thế kỷ thứ VII trước Công
nguyên. Bằng sức lao động cần cù sáng tạo, cư dân Văn Lang, (sau đó là Âu
Lạc) đã tạo dựng nên một nền văn minh tỏa sáng khắp vùng Đông Nam Á.
Đi cùng với Nhà nước đầu tiên của lịch sử Việt Nam là một nền kinh tế
phong phú, một nền văn hóa cao mà mọi người biết đến với tên gọi là văn
minh Sông Hồng (còn gọi là văn minh Đông Sơn) với biểu tượng là trống
đồng Đông Sơn - thể hiện sự kết tinh lối sống, truyền thống và văn hóa của
người Việt cổ.
đi đến kết luận dân tộc Việt Nam là một dân tộc có một trong những nền văn
hóa cổ xưa nhất, xây dựng trên nền nông nghiệp trồng lúa nước. Đây là
ngành nghề truyền thống đòi hỏi nhiều người cùng chung sức khai phá và
phấn đấu chống lại thiên tai, đồng thời bảo đảm tưới tiêu cho ruộng đồng.
Xã hội Việt Nam cũng là một xã hội được hình thành rất sớm trên trái đất.
Nếu chỉ kể nền văn hiến nước ta bắt đầu từ thời Hùng Vương, thì cũng đã
trải qua gần 5000 năm dân ta lập quốc. Trong suốt quá trình này, đoàn kết,
12
hợp lực là một nhu cầu trong việc cầy cấy để làm ra miếng ăn nuôi sống xã
hội, cũng như để bảo vệ đất nước trước quân xâm lăng phương Bắc.
Trong khuôn khổ nền văn minh nông nghiệp, nếp sống của dân tộc Việt
Nam được xây dựng trong khung cảnh làng xã (chiềng, chạ) với lũy tre, ao
cá, cánh đồng Một số các nhà khảo cổ, các nhà nhân chủng học và xã hội
học đã gọi đây là một hình thức "công xã nông thôn". Tuy khởi thủy, làng xã
là sự tập trung của nhiều gia đình cùng một chi tộc. Nhưng càng về sau, làng
xã Việt Nam ít khi là nơi quy tụ chỉ một giòng họ, mà đã được mở ra cho
những người từ xa đến làm dâu, làm rể. Dân tộc Việt Nam là một dân tộc
hiền hòa và bao dung. Tổ tiên ta khai khẩn đất đai là để biến rừng núi thành
ruộng đồng canh tác, mưu sinh chứ không đi xâm lấn các nước khác để
chiếm chiến lợi phẩm hay bắt nô lệ. Từ bản sắc hiền hòa và bao dung, dân
tộc ta chấp nhận sự khác biệt từ trong làng xã cho đến ở quy mô rộng lớn
hơn là trong xã hội. Chính tinh thần chấp nhận khác biệt, chấp nhận đa
nguyên này mà khi các tôn giáo, tín ngưỡng, triết lý từ nước ngoài du nhập
vào nước ta đã không bị kỳ thị; trái lại đã được dân tộc ta "hoan hỉ" chấp
nhận.
Trong quan hệ con người với con người, không những người ngoại tộc mà
còn cả giữa những người cùng nòi giống, dân ta đã có quan niệm rõ ràng về
"Hòa" và "Đồng". Trên đất nước ta hiện nay có 54 sắc dân sinh sống. Các
nhà khoa học đã phân tích các sắc dân này mà tuyệt đại đa số là người tộc
Việt, thành 8 nhóm ngôn ngữ khác nhau. Các dân tộc này có thể đã hiện hữu
giáo: tín ngưỡng dân gian, Phật giáo và Nho giáo được coi là tam giáo đồng
nguyên. Một thành tựu quan trọng trong thời Lý-Trần là việc phổ biến chữ
14
Nôm, chữ viết riêng của Việt Nam dựa trên cơ sở cải biến và Việt hóa chữ
Hán. Bên cạnh đó các lĩnh vực khác như giáo dục, khoa học kỹ thuật, văn
học - nghệ thuật, lịch sử, luật pháp… cũng rất phát triển (Văn Miếu - Quốc
Tử Giám được xây dựng và ngày một phát triển, sự ra đời của Bộ luật Hồng
Đức, Đại Việt Sử ký, Đại Việt Sử ký toàn thư…). Lịch sử gọi thời kỳ này là
Kỷ nguyên văn minh Đại Việt. Thăng Long (bây giờ là Hà Nội) cũng được
chính thức công nhận là Kinh đô của Đại Việt với Chiếu dời đô của Lý Công
Uẩn vào năm 1010. Suy cho cùng, tất cả thắng lợi mà dân tộc ta đạt được
suy cho cùng cũng là dựa vào sức mạnh đoàn kết và tinh thần yêu nước mà
đạt được.
Chương III: Nội dung đoàn kết dân tộc trong tư tưởng Hồ Chí
Minh.
I. Những quan điểm cơ bản của Hồ Chí Minh về đoàn kết dân tộc.
Khái niệm đại đoàn kết dân tộc trong tư tưởng Hồ Chí Minh: là một hệ
thống những luận điểm, nguyên tắc, phương pháp giáo dục. Tập hợp và tổ
chức cách mạng và tiến bộ nhằm phát huy đến mức cao nhất sức mạnh dân
tộc và sức mạnh thời đại trong sự nghiệp đấu tranh vì độc lập dân tộc, dân
chủ và chủ nghĩa xã hội. Nói một cách khác, đó là tư tưởng xây dựng, củng
cố, mở rộng lực lượng cách mạng trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải
phóng giai đoạn, giải phóng con người.
1. Đại đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược, bảo đảm thành công của
cách mạng.
Với Hồ Chí Minh, đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của
nhân dân ta. Người cho rằng: “ muốn giải phóng các dân tộc bị áp bức và
15
nhân dân lao động phải tự mình cứu lấy mình bằng đấu tranh vũ trang cách
mạng, bằng cách mạng vô sản.
Một phần là vì tình hình quốc tế thuận lợi cho ta. Nhất là vì lực lượng của
toàn dân đoàn kết. Tất cả các dân tộc, các giai cấp, các địa phương, các tôn
giáo đều nổi dậy theo là cờ Việt Nam để tranh lại quyền độc lập cho Tổ
quốc.
Lực lượng toàn dân là lực lượng vĩ đại hơn hết. Không ai thắng được lực
lượng đó”
Từ thực tiễn đó, Hồ Chí Minh đã rút ra kết luận:
“Sử dạy cho ta bài học này:
Lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc lập, tự do.
Trái lại, lúc nào dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn”.
Và Người khuyên dân ta rằng:
“Dân ta xin nhớ chữ đồng:
Đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh”
Đây chính là con đường đưa dân ta tới độc lập, tự do.
2. Đoàn kết dân tộc là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng
Hồ Chí Minh cho rằng “ đại đoàn kết dân tộc không chỉ là mục tiêu, nhiệm
vụ hàng đầu của đảng mà còn là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của cả dân
tộc”. Bởi vì, đại đoàn kết dân tộc chính là nhiệm vụ của quần chúng, do
quần chúng, vì quần chúng. Đảng có sứ mệnh thức tỉnh, tập hợp, đoàn kết
17
quần chúng tạo thành sức mạnh vô địch trong cuộc đấu tranh vì độc lập cho
dân tộc, tự do cho nhân dân, hạnh phúc cho con người.
3. Đại đoàn kết dân tộc là đại đoàn kết toàn dân.
Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, “dân” chỉ mọi con dân đất Việt, con rồng cháu
tiên, không phân biệt dân tộc đa số, người tín ngưỡng với người không tín
ngưỡng, không phân biệt già trẻ , gái, trai, giàu, nghèo. Nói dến đại đoàn kết
dân tộc cũng có nghĩa phải tập hợp mọi người dân vào một khối trong cuộc
đấu tranh chung. Người đã nhiều lần nói rõ: “ ta đoàn kết để đấu tranh cho
thống nhất và độc lập tổ quốc; ta còn phải đoàn kết để xây dựng nước nhà.
Ai có tài, có đức, có sức, có lòng phụng sự tổ quốc và phụng sự nhân dân thì
nhất và độc lập của tổ quốc, ta còn phải đoàn kết để xây dựng nước nhà. Ai
có tài, có đức, có sức, có lòng phụng sự tổ quốc và phục vụ nhân dân thì ta
đoàn kết với họ”. Bác còn nhấn mạnh:”Đoàn kết rộng rại, chặt chẽ, đồng
thời phải củng cố. Nền có vững, nhà mới chắc chắn, gốc có tốt thì cây mới
tốt tươi. Trong chính sách đoàn kết phải chống hai khuynh hướng sai lầm:
cô độc, hẹp hòi và đoàn kết vô nguyên tắc”.
Cũng tại đại hội đó, Bác còn phát biểu:
“Tôi rất sung sướng được lãnh cái trách nhiệm kết thúc lễ khai mạc
của Đại hội thống nhất Việt Minh – Liên Việt. Lòng sung sướng ấy là của
chung toàn dân, của cả Đại hội, nhưng riêng cho tôi là một sự sung sướng
không thể tả, một người đã cùng các vị tranh đấu trong bấy nhiêu năm cho
khối đại đoàn kết toàn dân. Hôm nay, trông thấy rừng cây đại đoàn kết ấy
19
đã nở hoa kết quả và gốc rễ của nó đang ăn sâu lan rộng khắp toàn dân, và
nó có một cái tương lai “trường xuân bất lão”. Vì vậy cho nên lòng tôi sung
sướng vô cùng.”
Người đã nói lên không chỉ niềm vui vô hạn trước sự lớn mạnh của
Mặt trận dân tộc thống nhất, mà còn là sự cần thiết phải mở rộng và củng
cố Mặt trận cũng như niềm tin vào sự phát triển bền vững của khối đại
đoàn kết dân tộc lâu dài về sau. Điều này được thể hiện trong toàn bộ tiến
trình cách mạng Việt Nam, khi Hồ Chí Minh còn sống cũng như sau khi
Người đã mất.
II. Nguyên tắc đại đoàn kết của Hồ Chí Minh.
Dù cách mạng Việt Nam trải qua những thời kỳ lịch sử khác nhau,
song chiến lược đại đoàn kết dân tộc của Hồ Chí Minh luôn được xây dựng,
hoàn thiện và tuân theo những nguyên tắc nhất quán sau:
1.Đại đoàn kết phải được xây dựng trên cơ sở bảo đảm những lợi ích tối
cao của dân tộc, lợi ích của nhân dân lao động và quyền thiêng liêng của
con người:
Bởi vì trong mỗi quốc gia, mỗi dân tộc bao giờ cũng tồn tại những
rộng rãi, lâu dài, bền vững:
Theo Hồ Chí Minh, có đoàn kết mới tạo nên sức mạnh của cách mạng.
Muốn đoàn kết thì trước hết phải có Đảng cách mạng để trong thì vận động,
tổ chức dân chúng, ngoài thì liên minh với các dân tộc bị áp bức và giai cấp
vô sản ở mọi nơi. Như vậy, để đoàn kết và lãnh đạo cách mạng, điều kiện
tiên quyết là phải có một Đảng cách mạng với tính cách là Bộ tham mưu, là
21
hạt nhân để tập hợp quần chúng trong nước và tổ chức, giữ mối liên hệ với
bè bạn ở ngoài nước. Đảng cách mạng muốn thống nhất về chính trị và tư
tưởng, đảm bảo được vai trò đó, thì phải giữ vững bản chất của giai cấp công
nhân, phải được vũ trang bằng chủ nghĩa chân chính, khoa học và cách mạng
nhất là chủ nghĩa Mác – Lênin:”Để làm trọn trách nhiệm người lãnh đạo
cách mạng, Đảng ta phải dựa vào giai cấp công nhân, lấy liên minh công
nông làm nền tảng vững chắc để đoàn kết các tầng lớp khác trong nhân dân.
Có như thế mới phát triển và củng cố được lực lượng cách mạng và đưa
cách mạng đến thắng lợi cuối cùng”.
Đại đoàn kết một cách tự giác là một tập hợp bền vững của các lực
lượng xã hội có định hướng, tổ chức và có lãnh đạo. Đây là sự khác biệt
mang tính nguyên tắc của tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến lược đại đoàn kết
dân tộc với tư tưởng đoàn kết, tập hợp lực lượng của các nhà yêu nước Việt
Nam tiền bối và một số lãnh tụ cách mạng trong khu vực và trên thế giới. Đi
vào quần chúng, thức tỉnh quần chúng, đoàn kết quần chúng vào cuộc đấu
tranh tự giải phóng mình theo nguyên tắc của chủ nghĩa Mác – Lênin là mục
tiêu nhất quán của Hồ Chí Minh là đại đoàn kết dân tộc lập trường vô sản,
mà sức mạnh chủ yếu của nó là liên minh công nông.
4. Đại đoàn kết chân thành, thân ái, thẳng thắn theo nguyên tắc tự phê
bình, phê bình vì sự thống nhất bền vững:
Giữa các bộ phận của khối đại đoàn kết dân tộc, bên cạnh những điểm
tương đồng còn có những điểm khác nhau cần phải giải quyết theo con
đường đối thoại, bàn bạc để đi đến sự nhất trí; bên cạnh những nhân tố tích
thành 3 tầng Mặt trận: Mặt trận đại đoàn kết dân tộc; Mặt trận đoàn kết Việt-
Miên-Lào và Mặt trận nhân dân thế giới đoàn kết với Việt Nam trong cuộc
23
đấu tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược. Đây là sự phát
triển rực rỡ và là thắng lợi to lớn của tư tưởng Hồ Chí minh về đại đoàn kết.
Như vậy đại đoàn kết dân tộc phải là cơ sở và phải đi đến việc thực
hiện đoàn kết quốc tế, nếu đại đoàn kết dân tộc là một trong những yếu tố
quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam, thì đoàn kết quốc tế cũng là
yếu tố hết sức quan trọng giúp cho cách mạng dân tộc dân chủ ở Việt Nam
đi đến thắng lợi hoàn toàn và đưa cách mạng Việt Nam lên giai đoạn cách
mạng xã hội chủ nghĩa.
Chương IV: Tính đúng đắn của câu nói qua thực tiễn lịch sử
Toàn thắng 30 tháng 4 năm 1975 là kết quả của cả chặng đường dài
chiến đấu đầy gian khổ, hy sinh của mọi người Việt Nam yêu nước; của khối
đại đoàn kết 54 dân tộc trên toàn cõi Việt Nam dưới ngọn cờ lãnh đạo của
Đảng Cộng sản Việt Nam.
Hơn 20 năm sau khi cuộc chiến ở Việt Nam kết thúc, trong tác phẩm
Nhìn lại quá khứ - tấn thảm kịch và bài học Việt Nam, cựu Bộ trưởng Quốc
phòng Mỹ Mắc Na-ma-ra, người đã phục vụ qua hai đời Tổng thống Mỹ là
Ken-nơ-đi và Giôn-xơn; người can dự vào việc Mỹ leo thang chiến tranh
trên cả hai miền Nam - Bắc Việt Nam, đã thừa nhận sai lầm của nước Mỹ.
Theo ông ta, trong cuộc chiến tranh này, nước Mỹ ''đã không nhận ra được
những hạn chế của các thiết bị quân sự kỹ thuật cao và hiện đại, lực lượng
quân sự và học thuyết quân sự trong sự đối đầu với những trào lưu nhân dân
được thúc đẩy cao"; Mỹ đã "đánh giá thấp sức mạnh của chủ nghĩa dân tộc
thúc đẩy nhân dân Việt Nam đấu tranh và hy sinh cho lý tưởng và các giá trị
của nó''.
24
Dù chưa đầy đủ, thậm chí còn lệch lạc trong cách nhìn lại cuộc chiến
tranh ở Việt Nam và nguyên nhân thất bại của Mỹ, thì ý kiến này của ông ta