Truyền thống ngâm rượu của dân Việt ta pot - Pdf 20

Truyền thống ngâm rượu của dân Việt ta Theo Tổ chức Y tế Thế giới, mỗi năm có hàng triệu ca tử vong có liên quan đến rượu,
nhất là mấy ngày đầu năm.
Theo thống kê của các bệnh viện thì 95% ca cấp cứu trong đêm giao thừa là vì rượu. Hầu
hết các ca cấp cứu từ nhồi máu cơ tim, đứt mạch máu não, xuất huyết dạ dày, đến chấn
thương sọ não vì tai nạn giao thông đều là do say xỉn, hoặc ''mất đoàn kết'' sau bàn nhậu.
Công trình nghiên cứu của Moren - nhà khoa học Pháp về tác hại của rượu trong những
gia đình có bốn đời nghiện rượu, cho kết quả đáng kinh ngạc. Đối tượng nghiện rượu thế
hệ thứ nhất kém tư cách, thế hệ thứ hai suy đồi đạo đức, đời thứ ba loạn thần kinh và đời
thứ tư là những hậu duệ đần độn. Còn theo các thầy thuốc thì rượu là nguyên nhân gây
viêm loét dạ dày, xơ gan, ung thư gan, xơ vữa mạch máu, tăng huyết áp, suy nhược thần
kinh, bất lực.
Chúng ta vừa đề cập đến tác hại của rượu, nhưng cũng có loại rượu co ích cho sức khỏe
như rượu vang đỏ, rượu thuốc. Nói đến rượu thuốc, người ta liên tưởng đến cơ man nào
rượu mít, rượu nhãn, rượu chuối hột, rượu rắn, tắc kè, bìm bịp, hải mã Giới sành điệu,
kén rượu còn chịu khó sưu tầm nhiều thứ rượu trân quý như Trường xuân tửu, Hồi xuân
bổ ích tửu, Diên linh bất lão tửu, Thần tiên tửu
Dân Việt ta biết uống rượu từ thời thượng cổ, không phải học của Trung Hoa. Như sách
Lĩnh Nam chích quái chép: “ Hồi quốc sơ, dân ta lấy vỏ cây làm áo dùng gạo Tri làm
rượu ” Chữ nôm “rượu” và chữ Hán “tửu”, nghe âm tương cận như ảnh hưởng nhau
nhưng chưa biết chữ nào có trước?
Dân thiểu số Trường sơn ngày nay vẫn lấy một loại rễ cây giã ra làm yếu tố lên men cho
rượu cần. Cứ theo sử sách như An Nam chí lược, Văn Hiến thông khảo, rượu ngâm được
dùng trong cung vua khi bày yến tiệc. Như chuyện Cù thái hậu bầy tiệc ruợu để ám hại
tướng Lữ Gia, hay chuyện vua Lê Hoàn và vua Trần Anh Tông nghiền ruợu.
Theo cuốn Việt Nam phong tục mà Phan Kế Bính viết vào đầu thế kỷ 20: “Rượu thì nấu
toàn bằng gạo nếp, ủ men rồi cất ra. Trong thứ rượu ấy hoặc ướp thêm hoa sen, hoa cúc,
hoa hồng, hoa cau, hoặc hoa nhài v.v gọi là ruợu hoa; hoặc tẩm với các vị thuốc bắc gọi
ra rượu thuốc. Rượu hoa quí nhất là rượu sen, rượu cúc, mà rượu thuốc quí nhất là rượu

nóng, họng khô, hay khát. Người âm hư dù ốm yếu, da mặt lại có vẻ hồng hào, hay có mồ
hôi âm, thường táo bón, chóng mặt, mất ngủ, là đàn ông có thể mộng tinh, tính khí nóng
nảy. Ngược lại người dương hư cho dù mập mạp lại luôn mệt mỏi, sợ lạnh, dễ cảm. Tạng
người này mặt mũi trắng bệch, tay chân lạnh, miệng lạt nhưng ít khát, là đàn ông thường
nhược dương hoặc bất lực.
Thanh niên tuổi còn trẻ, sinh lực còn nhiều mà cũng đam mê các loại cao hổ cốt, nhất dạ
lục giao, nhục dung, tắc kè sẽ khiến tinh khí sinh quá dồi dào, tạng phủ phải
làm việc quá sức mà hao tổn khi về già.
Thần tiên diên thọ tửu
(chưa có biện chứng luận trị, khi nào biện chứng xong sẽ post sau:D)
Cung Đình Phu Tử, bút hiệu Vân Lâm, vốn là một danh y, cũng là bậc văn nhân nổi tiếng
thư pháp rồng bay phượng múa.
Y thuật ông người đời tôn là thần y.
Song, cái để dân nghiền rượu nhớ ông là bài thuốc ngâm rượu ''để đời'' của ông.
Công thức bài thuốc rượu ''Thần tiên diên thọ tửu'' gồm:
Tri mẫu 40 g, Bạch linh 40g, bạch thược 40 g, xuyên khung 40 g,
ba kích 40 g, tiểu hồi 40g, đỗ trọng 40 g, ngưu tất 40 g,
mạch môn 40 g, thiên môn 40 g, thục địa 40g, sinh địa 40 g,
câu kỷ tử 40 g, đương quy 40 g, nhục thung dung 40 g, bá tử nhân 12 g,
hoàng bá 50 g, phá cố chỉ 24 g, sa nhân 24 g, bạch truật 24 g,
mộc hương 12 g, nhân sâm 12 g, thạch xương bồ 12 g, viễn chí 24 g.
Tất cả thái nhỏ cho vào khạp sành với 7 lít rượu 45độ, đun nhỏ lửa trong ba tuần hương
rồi bịt kín miệng chôn dưới đất ba ngày đêm.
Nếu không đun lửa phải ngâm ba tháng mới dùng được. Mỗi lần dùng 3cc, ngày uống 2
lần trước bữa ăn hoặc trước khi ngủ. Đây là loại rượu thuốc có tác dụng chống lão hóa,
kéo dài tuổi xuân, tuổi thọ, đặc biệt chỉ dùng cho người âm hư:
Người thể tạng âm hư thường gầy gò như cây khô thiếu nước.
Vì âm hư nên sinh nội nhiệt, lòng bàn tay, bàn chân luôn nóng, họng khô, hay khát.
Người âm hư dù ốm yếu, da mặt lại có vẻ hồng hào, hay có mồ hôi âm, thường táo bón,
chóng mặt, mất ngủ, là đàn ông có thể mộng tinh, tính khí nóng nảy.

thẩu, trộn đều đến ngày thứ 10 thì đem ra dùng.
Ngày 3 lần sáng, trưa, tối, mỗi lần 1 ly trà.
Dùng liên tục.’
I- Nhất dạ lục giao
Thành phần:
1-Thục địa 40g
2- Đào nhân 20g
3- Sa sâm 20g
4- Bạch truật 12g
5- Vân qui 12g
6- Phòng phong 12g
7- Bạch thược 12g
8- Trần bì 12g
9- Xuyên khung 12g
10- Cam thảo 12g
11- Phục linh 12g
12- Nhục thung dung 12g
13- Tần giao 8g
14-Tục đoạn 8g
15- Mộc qua 8g
16- Kỷ tử 20g
17-Thương truật 8g
18-Độc hoạt 8g
19- Đỗ trọng 8g
20- Đại hồi 4g
21- Nhục quế 4g
22- Cát tâm sâm 20g
23- Cúc hoa 12g
24- Đại táo 10 quả
Cách ngâm:

ngọt, tính bình. Có tác dụng bổ tỳ, dưỡng tâm, sáp trường, cố tinh. Thường dùng để chữa
di mộng tinh, tỳ hư tiết tả, băng lậu đới hạ
3- Sa xàng tử (Clidium monnieri L. Cuss). Theo tài liệu cổ, sà xàng tử có vị cay đắng,
tính bình, hơi có độc. Có tác dụng cường dương, ích thận, khử phong táo thấp. Thường
dùng để chữa liệt dương, di tinh ở nam giới.
4- Thỏ ty tử (Cuscuta sinensis Lamk). Theo tài liệu cổ, thỏ ty tử có vị ngọt, cay, tính ấm,
có tác dụng bổ can thận, ích tinh tủy, bổ trung, ích khí, mạnh gân xương. Thường được
dùng để chữa các bệnh liệt dương, di tinh, lưng đau gối mỏi.
5- Ngũ vị tử (Fructus Sechizandrae). Theo tài liệu cổ, ngũ vị tử có vị chua, mặn, tính ấm.
Có tác dụng liễm phế, sáp tinh, cầm mồ hôi. Thường được dùng để chữa liệt dương, di
tinh, băng lậu, đới hạ (khí hư ở phụ nữ), tả lỵ lâu ngày, tự đổ mồ hôi, đổ mồ hôi trộm.
Sách Thiên kim phương có nêu dùng 600g ngũ vị tử tán nhỏ uống mỗi lần 4g, ngày uống
3 lần. Uống hết đơn thì khỏe, giao hợp được.
6- Phá cố tử (Proralea corylifolia L.). Theo tài liệu cổ, phá cố tử có vị cay, đắng, tính đại
ôn. Có tác dụng bổ mệnh môn hỏa, nạp thận khí, là thuốc cường tráng. Thường dùng để
chữa các bệnh ngũ lao, tỳ thận hư hàn, lưng gối lạnh đau, đái són
7- Câu kỷ tử (Lycium sinense Mill). Theo tài liệu cổ, câu kỷ tử có vị ngọt, tính bình. Có
tác dụng bổ can thận, nhuận phế táo, mạnh gân cốt. Thường dùng để chữa di mộng tinh,
chân tay yếu mỏi, mắt mờ.
8- Kim anh tử (Rosa laevigata Michx).
Theo tài liệu cổ, kim anh tử có vị chua, chát, tính bình. Có tác dụng kiện tinh. Thường
dùng để chữa di tinh, đái són, tiểu tiện nhiều lần, phụ nữ khí hư, bạch đới
9- Cửu thái tử:
Hạt của cây Hẹ. Tác dụng của hẹ hiện nay được tìm thấy giống như của Hành. Tác dụng
thông kinh hoạt lạc. Bồi bổ dương khí.
Cách ngâm rượu:
Bạn hãy dùng 2,5 lít rượu 40 độ để ngâm. Tùy ý thích, bạn có thể dùng lượng rượu nhiều
hơn tương đương với số thảo dược bạn có. Nếu để ngâm 2 thang thuốc này thì dùng 5 lít
rượu là vừa.
Cho tất cả dược liệu vào bình thuỷ tinh rồi cho rượu, đậy kín nắp bình, ngâm trong thời


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status