Đột qụy do tăng huyết áp - Pdf 20

Đột qụy do tăng huyết áp

Tăng huyết áp là một bệnh rất thường gặp và ngày nay đã
trở thành một vấn đề xã hội. Theo thống kê ở Việt Nam
những năm cuối thập kỷ 80, tỷ lệ người lớn bị Tăng huyết áp
là 11% và theo điều tra năm 2008 của Viện Tim mạch Quốc
gia tại 8 tỉnh/thành phố trên cả nước, tỷ lệ này là 25,1%. Tăng
huyết áp có thể gây nguy hiểm ngay cho bệnh nhân nhưng
cũng có thể âm thầm ảnh hưởng đến các cơ quan đích như
tim, não, thận, mắt, gây ra những di chứng nặng nề ảnh
hưởng đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân. Theo định
nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) gọi là Tăng huyết áp
khi huyết áp tâm thu lớn hơn hoặc bằng 140mmHg và hoặc
huyết áp tâm trương lớn hơn hoặc bằng 90mmHg.

Tăng huyết áp cấp cứu là tình huống
Tăng huyết áp kèm theo các biến
chứng nặng cần phải hạ huyết áp
xuống tức thì để tránh tổn thương các cơ quan đích, thường
huyết áp trên 200/100mmHg. Các tình huống thường gặp trong
Tăng huyết áp cấp cứu:

1. Bệnh não do Tăng huyết áp.

2. Tăng huyết áp và nhồi máu cơ tim.

3. Tăng huyết áp và đau ngực không ổn định.

4. Tăng huyết áp kèm tách thành động mạch chủ.

5. Suy tim trái cấp do Tăng huyết áp.

kèm theo. Trường hợp bệnh nhân bị tách thành động mạch chủ
cần đưa huyết áp xuống mức thấp nhất có thể. Sau khi qua cơn
Tăng huyết áp cấp cứu, bệnh nhân cần tiếp tục theo dõi và điều
trị Tăng huyết áp và các yếu tố nguy cơ. Sau khi đã qua cơn
Tăng huyết áp cấp tính, bệnh nhân cần được đánh giá lại tình
trạng toàn thân, các tổn thương cơ quan đích và các yếu tố nguy
cơ kèm theo để được theo dõi, tư vấn và điều trị lâu dài, tránh
các biến chứng.

Tổn thương các cơ quan đích có thể gặp trong Tăng huyết
áp.

1. Tim.

- Cấp: phù phổi cấp, NMCT cấp.

- Mạn: dày thất trái, suy vành mạn, suy tim

2. Mạch não:

- Cấp: tai biến mạch não, bệnh não do Tăng huyết áp

- Mạn: tai biến mạch não, tai biến mạch não thoáng qua.

3. Thận:

- Đái máu, đái ra protein, suy thận.

4. Đáy mắt:


động, khó hoà nhập cuộc sống bình thường.
Những trường hợp mạch não bị tắc do mảng xơ vữa ở thành
mạch dày dần lên, làm hẹp dần lòng mạch và kết hợp với việc
hình thành cục máu đông. Mạch máu bị vỡ do tăng huyết áp gây
xuất huyết não làm chảy máu, chèn ép não bộ và đôi khi xuất
huyết ở khoang dưới nhện (mạch máu bị vỡ ra làm máu chảy vào
khoang trống bao quanh não).
Biểu hiện lâm sàng do tắc mạch hoặc do vỡ mạch khó có thể
phân biệt, để chẩn đoán nguyên nhân phải dựa vào các yếu tố
tiền căn, bệnh có sẵn và xét nghiệm cận lâm sàng (chụp Xquang
sọ não, MRI, CT scanner)
Trong trường hợp điển hình, các triệu chứng xuất hiện đột ngột,
tiến triển chỉ trong vài giờ (hoặc vài ngày). Trên lý thuyết, các
triệu chứng thần kinh khu trú tương ứng với khu vực tưới máu
của động mạch bị tổn thương, tuy nhiên do các động mạch thông
nối với nhau nên có sự cấp máu bù bởi các động mạch còn
nguyên vẹn làm nhòe các triệu chứng.
Những người bị tăng huyết áp có nguy cơ cao bị đột qụy là
những người trên 55 tuổi có kèm theo các bệnh phối hợp như đái
tháo đường, vữa xơ động mạch, rối loạn lipid máu, các bệnh
mạch vành, van tim, loạn nhịp tim, hút thuốc lá, béo phì- thừa
cân, lười vận động và bị stress. Phòng ngừa đột qụy như thế nào?
Để phòng ngừa bệnh có hiệu quả cần tuân thủ tốt các chế độ
phòng bệnh:
a. Phòng bệnh cấp một bao gồm các hành động với mục đích
không cho bệnh hoặc tác nhân xấu có cơ hội gây ra bệnh tật.
b. Phòng bệnh cấp hai với mục đích phát hiện ra bệnh ở giai

-Hạn chế ăn muối.
- Giảm cân nặng nếu béo phì.
- Vận động cơ thể đều đặn và cần tập thể dục 30-45 phút mỗi
ngày, là giảm được nhiều nguy cơ.
- Giảm căng thẳng tâm thần vì stress gây tăng huyết áp và có thể
gây ra đột qụy.
- Ăn chế độ ăn giảm mỡ.
- Điều trị tốt bệnh đái tháo đường, cần duy trì đường huyết ở mức
độ trung bình, vì bệnh này làm tăng nguy cơ tai biến từ 2 - 4 lần
cũng như tăng tỷ lệ tử vong.
- Aspirin với đột qụy: aspirin giảm sự ngưng kết của tiểu cầu, do
đó được dùng để phòng ngừa một vài bệnh tim mạch. Nhưng
việc sử dụng này là vấn đề khá tế nhị, cần được sự hướng dẫn
của bác sĩ chuyên khoa.
- Điều trị rối loạn lipid máu: Những người tăng huyết áp cần được
kiểm tra lipid máu định kỳ, bao gồm cholesterol toàn phần, LDL-
C, triglycerid và HDL-C sau khi nhịn đói 10-12 giờ. Nên kiểm tra
định kỳ lượng lipid máu 6-12 tháng/lần. Điều trị bằng thuốc phải
kết hợp với liệu pháp thay đổi lối sống.
Ngoài ra, không nên quan niệm bị đột qụy có nghĩa là cuộc đời
chấm dứt.
Cho nên, điều cần thiết là người bệnh phải có thái độ tích cực, tin
tưởng ở các phương pháp điều trị, phục hồi chức năng và chủ
động trong việc tự săn sóc, và với sự hỗ trợ, chăm sóc của người
thân.
Dự án phòng, chống bệnh tăng huyết áp quốc gia - Viện tim
mạch Việt Nam


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status