Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 -
2020
Theo www.anninhthudo.vn – 5 tháng trước
(ANTĐ) - Đại hội Đảng lần thứ XI quyết định Chiến lược tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hoá,
hiện đại hoá và phát triển nhanh, bền vững; phát huy sức mạnh toàn dân tộc, xây dựng nước ta
trở thành nước công nghiệp theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
9. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đổi mới toàn diện và phát triển nhanh giáo dục và đào
tạo
Phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một
đột phá chiến lược, là yếu tố quyết định quá trình cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng
trưởng và là lợi thế cạnh tranh dài hạn, bảo đảm kinh tế - xã hội phát triển nhanh, hiệu quả, bền
vững. Đặc biệt coi trọng phát triển đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý giỏi, đội ngũ chuyên gia,
quản trị doanh nghiệp giỏi, lao động lành nghề và cán bộ khoa học, công nghệ đầu đàn. Đào tạo
nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu đa dạng, đa tầng của công nghệ và trình độ phát triển của các
lĩnh vực, ngành nghề. Thực hiện liên kết chặt chẽ giữa các doanh nghiệp, cơ sở sử dụng lao
động, cơ sở đào tạo và Nhà nước để phát triển nguồn nhân lực theo nhu cầu xã hội. Thực hiện
các chương trình, đề án đào tạo nhân lực chất lượng cao đối với các ngành, lĩnh vực chủ yếu, mũi
nhọn. Chú trọng phát hiện, bồi dưỡng, phát huy nhân tài; đào tạo nhân lực cho phát triển kinh tế
tri thức.
Phát triển giáo dục phải thực sự là quốc sách hàng đầu. Tập trung nâng cao chất lượng giáo dục,
đào tạo, coi trọng giáo dục đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, khả năng lập
nghiệp. Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá,
xã hội hoá và hội nhập quốc tế, trong đó, đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ
giáo viên và cán bộ quản lý là khâu then chốt. Đổi mới cơ chế tài chính; thực hiện kiểm định chất
lượng giáo dục, đào tạo ở tất cả các bậc học. Xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, kết hợp
chặt chẽ giữa nhà trường với gia đình và xã hội.
Mở rộng giáo dục mầm non, hoàn thành phổ cập mầm non 5 tuổi. Thực hiện phổ cập giáo dục
tiểu học và trung học cơ sở với chất lượng ngày càng cao. Phát triển mạnh và nâng cao chất
lượng dạy nghề và giáo dục chuyên nghiệp. Rà soát, hoàn thiện quy hoạch và thực hiện quy
hoạch mạng lưới trường đại học và cao đẳng trong cả nước. Thực hiện đồng bộ các giải pháp để
nâng cao chất lượng giáo dục đại học, bảo đảm cơ chế tự chủ gắn với nâng cao trách nhiệm xã
c) Vừa tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ nghiên cứu khoa học chuyên ngành, vừa chú trọng đào tạo cán bộ làm
công tác phục vụ nghiên cứu, nhất là đội ngũ kỹ thuật viên giỏi, có tay nghề cao, trực tiếp vận hành những trang
thiết bị kỹ thuật hiện đại của các phòng thực nghiệm hoặc các trang thiết bị chuyên dụng phục vụ cho hoạt động
nghiên cứu.
d) Làm tốt công tác quy hoạch cán bộ và tổ chức sắp xếp cán bộ nghiên cứu những cho những viện Khoa học xã hội
vùng theo hướng huy động tối đa sự tham gia của cán bộ nghiên cứu và giảng dạy tại địa phương; xây dựng đội ngũ
cán bộ khoa học xã hội là người địa phương, các dân tộc thiểu số làm việc trong các viện khoa học xã hội vùng.
Một số định hướng lớn và khâu đột phá về phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn
2010-2015
Một số định hướng lớn:
1- Đổi mới cách thức tăng trưởng theo hướng huy động tối đa và nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn
lực để đầu tư phát triển, nâng cao năng suất, hiệu quả, tính bền vững của sự tăng trưởng và nâng cao
khả năng cạnh tranh của kinh tế thành phố. Trước hết là điều chỉnh cơ cấu ngành công nghiệp và một số
ngành thuộc lĩnh vực kinh tế dịch vụ; chú trọng phát triển một số ngành, sản phẩm công nghiệp, dịch vụ
nhiều lợi thế, có khả năng xuất khẩu và tạo giá trị gia tăng cao, đóng góp lớn cho ngân sách thành phố;
khai thác toàn diện lợi thế về biển để phát triển mạnh các lĩnh vực kinh tế biển, nhất là các dịch vụ vận
tải, cảng biển, kho bãi, hàng hải, thương mại, viễn thông, du lịch…
2- Tiếp tục phát triển kinh tế theo hướng chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và định hướng xuất khẩu, kết
nối có hiệu quả với thị trường thế giới. Mở rộng và phát triển không gian kinh tế, tăng cường hợp tác phát
triển với các địa phương trong và ngoài nước, nhất là với khu vực Bắc bộ và trên hai hành lang- một
vành đai hợp tác kinh tế Việt Nam- Trung Quốc.
3- Tập trung huy động các nguồn lực đầu tư phát triển và quản lý đô thị, bảo đảm đạt các tiêu chí đô thị
loại 1 trực thuộc Trung ương, xứng đáng là đô thị trung tâm cấp quốc gia; từng bước xây dựng theo
hướng trở thành thành phố quốc tế.
4- Đẩy mạnh toàn diện quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn. Phát triển mạnh
hệ thống giao thông và từng bước hiện đại hóa hệ thống điện nông thôn, nhằm tạo sự liên kết, phối hợp
giữa các xã, huyện và khu vực đô thị, phát huy được tiềm năng, thế mạnh của từng địa phương, tạo tiền
đề thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy nông nghiệp, nông thôn phát triển nhanh theo hướng
công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
5- Tiếp tục xây dựng và phát triển mạnh lĩnh vực văn hóa, trước hết tạo chuyển biến rõ về tư tưởng chính
Trong những năm qua, mặc dù có sự quan tâm của Đảng, Nhà nước đến việc xây dựng và phát triển
đội ngũ nguồn nhân lực chất lượng cao, song cho đến nay, so với yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội và
phát triển nguồn nhân lực, đội ngũ nguồn nhân lực chất lượng cao ở Việt Nam còn ít về số lượng và
chất lượng chưa đáp ứng yêu cầu phát triển và trong so sánh quốc tế. Vì vậy, việc phải nhanh chóng
xây dựng và phát triển đội ngũ nguồn nhân lực chất lượng cao có đủ năng lực giải quyết các vấn đề
phát triển của đất nước trong bối cảnh cần phải đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế và hội nhập quốc
tế càng trở nên cấp bách. Nguồn nhân lực chất lượng cao được hình thành và phát triển thông qua quá
trình đào tạo, tích luỹ kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm và thực tế sử dụng, đãi ngộ, trọng dụng. Đó là
một quá trình liên tục cần được theo dõi chặt chẽ và ở mỗi giai đoạn có những giải pháp thích hợp. Nếu
chỉ chú trọng đến khâu đào tạo, mà không có giải pháp hữu hiệu để sử dụng, phát huy tài năng thì
những kết quả tạo được trong quá trình đào tạo sẽ mai một và ngược lại, nếu không quan tâm đến đào
tạo thì không thể chủ động xây dựng và phát triển được đội ngũ nguồn nhân lực chất lượng cao.
Phương hướng phát triển
Phương hướng chung xây dựng và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao của Việt Nam là có được
đội ngũ nhân lực thể lực tốt, tầm vóc cường tráng, phát triển toàn diện về trí tuệ, ý chí, năng lực tư duy
sáng tạo và đạo đức tốt; có năng lực tự học, tự đào tạo, có bản lĩnh, tự tin, năng động, chủ động, sáng
tạo; có tri thức và kỹ năng nghề nghiệp cao, có khả năng thích ứng và đối phó nhanh chóng với môi
trường sống và làm việc không ngừng biến đổi; thích ứng với trình độ phát triển Việt Nam năm 2020 là
nước công nghiệp theo hướng hiện đại và hội nhập quốc tế.
Cùng với phương hướng chung trên đây, xây dựng và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao của
nước ta trong những năm tới cần tập trung vào những nhóm nguồn nhân lực cốt yếu sau:
Thứ nhất, nhân lực lãnh đạo và quản lý hành chính nhà nước chuyên nghiệp đáp ứng những yêu cầu về
vai trò và chức năng của Nhà nước pháp quyền XHCN, trong điều kiện dân chủ rộng mở và hội nhập
quốc tế ngày càng sâu rộng.
Thứ hai, đội ngũ giáo viên các cấp từ phổ thông cho đến đại học trình độ chuyên môn cao, đạo đức
nghề nghiệp trong sáng có đủ năng lực giáo dục và đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có
kiến thức và kỹ năng làm việc tiếp cận với trình độ quốc tế.
Thứ ba, nhân lực khoa học-công nghệ đông đảo, trong đó có nhóm chuyên gia đầu ngành có trình độ
chuyên môn-kỹ thuật tương đương các nước tiên tiến trong khu vực Đông á, có đủ năng lực nghiên
cứu, tiếp nhận, chuyển giao và đề xuất những giải pháp khoa học, công nghệ, giải quyết về cơ bản
lượng, công nghệ môi trường và công nghệ vũ trụ.
Hai là, tăng cường thể lực và nâng cao tầm vóc con người Việt Nam
Mục tiêu cơ bản là cải thiện một cách bền vững tầm vóc của người Việt Nam, thể hiện bằng việc tăng
chiều cao trung bình của thanh niên trong thời kỳ trung hạn lên ngang bằng với thanh niên các nước
trong khu vực Đông á (cụ thể là người Trung Quốc) và trong thời kỳ dài hạn lên ngang bằng với chuẩn
quốc tế của Tổ chức y tế thế giới. Đồng thời, cải thiện thể trạng người Việt Nam để đảm bảo sự phát
triển hài hoà giữa chiều cao đứng và trọng lượng cơ thể, tăng cường thể lực, đặc biệt là sự phát triển
hài hoà về các tố chất thể lực cần thiết (sức bền, sức mạnh, sức nhanh, mềm dẻo, khéo léo ) đảm bảo
thực hiện lao động, học tập, sáng tạo và các hoạt động bình thường khác của mỗi người. Những giải
pháp cơ bản, mang tính quyết định là:
Tăng khẩu phần ăn để tăng cường lượng calo tiếp thụ và cải thiện cơ cấu dinh dưỡng bữa ăn. Đảm bảo
vệ sinh, an toàn thực phẩm;
Nâng cao chất lượng, kết quả hoạt động của Chương trình phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em. Thực
hiện Chương trình tổng hợp chăm sóc, bảo vệ và nâng cao thể lực cho phụ nữ;
Mở rộng các hoạt động tư vấn về sức khoẻ sinh sản, về hạn chế sinh đẻ đối với những trường hợp đặc
biệt liên quan đến sức khoẻ và bệnh tật của những người làm cha, làm mẹ. Thực hiện chương trình
sàng lọc trẻ trước sinh và sơ sinh để phòng, chống bệnh tật và nâng cao được thể lực cho trẻ em trong
tương lai;
Coi trọng và đổi mới việc tổ chức giáo dục thể chất trong nhà trường và đẩy mạnh phong trào toàn dân
tập thể dục, rèn luyện thân thể trong xã hội;
Phát triển y tế dự phòng. Xây dựng được hệ thống y tế dự phòng rộng khắp và hiệu quả. Đẩy mạnh các
hoạt động vệ sinh môi trường, cung cấp nước sạch và đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm cho người
dân;
Nâng cao chất lượng dịch vụ khám, chữa bệnh cho người dân. Đảm bảo tất cả mọi người dân được
khám chữa bệnh công bằng và hiệu quả.
Ba là, đổi mới chính sách sử dụng nhân lực để tạo động lực kích thích và giải phóng sức sáng tạo của
con người
Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống khung khổ pháp lý phát triển và sử dụng nhân lực phù hợp với
cơ chế và thể chế kinh tế thị trường.
Xây dựng hệ thống tiêu chí, tiêu chuẩn quốc gia về trình độ phát triển nhân lực, những điều kiện phát
trường làm việc, khuyến khích, kích thích phát huy tài năng đóng góp cho công cuộc hưng thịnh đất
nước (đối với cả người Việt Nam và người nước ngoài có công với sự nghiệp xây dựng và phát triển đất
nước Việt Nam); Xây dựng cơ sở dữ liệu về nhân tài của Việt Nam (từ khâu phát hiện, đào tạo, bồi
dưỡng, sử dụng, thăng tiến ).
Bốn là, tăng cường, mở rộng hợp tác quốc tế để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao
Tiếp tục đổi mới và hoàn thiện môi trường pháp lý để mở rộng và tăng cường hợp tác quốc tế trong đào
tạo nguồn nhân lực chất lượng cao.
Khuyến khích mở rộng và tăng cường các quan hệ giao lưu và hợp tác song phương và đa phương
giữa các tổ chức và người dân Việt Nam với các tổ chức quốc tế và công dân nước ngoài. Tăng cường
thu hút chuyên gia quốc tế giỏi và Việt Kiều giỏi vào làm việc ở Việt Nam trong các lĩnh vực giáo dục,
đào tạo, y tế, hoạt động khoa học-công nghệ, tư vấn thiết kế, quản lý và kinh doanh để nâng cao chất
lượng phát triển con người và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao. Tạo điều kiện thuận lợi, thông
thoáng để tăng thêm được nhiều người Việt Nam đi học tập và làm việc ở nước ngoài.
Tập trung tăng cường và mở rộng hợp tác quốc tế để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong
các lĩnh vực ưu tiên sau: bảo vệ sức khoẻ và nâng cao thể lực con người; nhân lực quản lý hành chính
nhà nước, chuyên gia kinh tế, quản trị kinh doanh và doanh nhân; đào tạo nhân lực trình độ cao trong
các lĩnh vực khoa học - công nghệ mũi nhọn (để hình thành và phát triển đội ngũ trí thức đầu ngành)
Để việc xây dựng và thực hiện có hiệu quả những chính sách trên, trước hết cần phải đổi mới tư duy về
phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và chính sách nhân tài, theo hướng cởi mở và khách quan.
Việc thực hiện đồng thời, đồng bộ những nhóm giải pháp xây dựng và phát triển nguồn nhân lực chất
lượng cao chắc chắn sẽ thúc đẩy phát triển nguồn nhân lực nước ta lên những tầm cao mới, thực sự là
nhân tố quyết định đến sự thành đạt của công cuộc xây dựng và phát triển đất nước./.
TS. Nguyễn Văn Thành