Tóc vấn - Má Hồng
Tóc vấn
Hình ảnh người phụ nữ Việt Nam xưa luôn gắn liền với mái tóc vấn gọn
gàng và đường ngôi rẽ ở chính giữa. Qua nhiều thăng trầm của lịch sử, ảnh
hưởng của phong cách Âu hóa, mái tóc cũng dần được thay đổi tạo cho phái đẹp
kiểu dáng phong phú và hiện đại hơn.
Người Việt Nam có câu: "Cái răng, cái tóc là góc con người". Có lẽ đó là chi tiết
dễ nhận diện nhất đối với mỗi dân tộc, trước khi nhìn vào cách ăn mặc. Chỉ riêng
qua trang phục hoặc qua các kiểu tóc từng thời kỳ ta cũng có thể thấy tác động của
những biến động xã hội Việt Nam đối với trang phục như thế nào.
Đến thế kỷ 19, người phụ nữ Việt Nam ở hai miền Nam Bắc vẫn còn để
những kiểu tóc khác nhau. Phụ nữ miền Bắc từ Đèo Ngang trở ra để tóc dài, rẽ
cân đối sang hai bên với đường ngôi chính giữa, buộc lại sát đầu bên cạnh rồi bọc
trong một cái khăn hẹp mà dài để quấn một vòng quanh đầu. Đuôi tóc được cắt
bên cạnh để thừa ra một túm phía trên gọi là đuôi gà. Đó là nét duyên dáng đầu
tiên của người phụ nữ xứ Bắc nên mới có câu: "Một thương tóc bỏ đuôi gà "
Nhưng ở miền Trung và miền Nam, có lẽ do ảnh hưởng của người Trung
Hoa nhập cư ồ ạt từ thế kỷ 17, nên phụ nữ từ lâu đã cuộn tóc thành búi phía sau
gáy. Một điều đáng chú ý là dù ở Bắc hay Nam, đường ngôi rẽ tóc bao giờ cũng
phải ở chính giữa trán, biểu hiện tính đoan trang của người đàn bà. Tất nhiên nó
phải đi cùng hàm răng đen nhánh.
Bước sáng thế kỷ 20, khi người Pháp hoàn thành công cuộc đô hộ nước ta,
thì lối sống và kỹ thuật phương Tây bắt đầu tác động đến nếp nghĩ của người Việt.
Đối với phụ nữ, vấn đề đầu tiên tác động đến lối sống là vai trò của họ trong
xã hội. Người phụ nữ không thể bị giam hãm trong gia đình với công việc đồng
áng bếp núc mà muốn có tiếng nói của mình ngoài xã hội. Thế là phụ nữ dần dần
có mặt ở các trường học, bệnh viện, họ trở thành những công chức, giáo viên, học
sinh, ý thức được vai trò xã hội của mình. Những người phụ nữ mới đó tất phải
Cho đến gần cuối Chiến tranh thế giới thứ hai đầu tóc uốn xoăn mới xuất
hiện, được gọi theo tiếng Pháp là "phi dê". Nhưng lúc đầu cũng chỉ có ở người
lấy Tây, hoặc những cô nữ sinh "trường đầm". Và phải đợi đến khi cuộc kháng
chiến chống Pháp bùng nổ, ở những thành thị tạm chiếm, đầu tóc uốn mới trở
thành mốt phổ biến.
Với cuộc Cách mạng tháng Tám 1945, một kiểu tóc mới đã xuất hiện, đó là
cắt tóc ngắn ở phụ nữ. Những người đi tiên phong là các chị trong các đội tự vệ
hai tuyên truyền xung phong, mà điển hình là các chị du kích Quãng Ngãi trong
chiếc quần ngắn, tóc cắt ngang tai, tay lăm lăm khẩu tiểu liên đứng gác đã khiến
nhiều bậc mày râu phải tròn mắt kính phục.
Nếu trong thời kỳ đất nước bị chia cắt, ở miền Nam, các kiểu tóc của phụ nữ
thay đổi nhiều hơn, học hỏi các mốt phương Tây dễ dàng, thì ở miền Bắc, trong
cuộc sống khắc khổ của thời chiến, phụ nữ cũng cố làm đẹp bằng một vài kiểu
tóc học theo các diễn viên màn bạc các nước Đông Âu. Nếu có ai đó sưu tầm lại
những kiểu tóc đã từng thịnh hành một thời, hẳn sẽ lấy làm thú vị vì những tên
gọi được sáng tạo mang nhiều nét dân dã như kiểu "U xi" thời xa xôi, cho đến
"xù tăm", "xù mì" ngày nay.
Nếu như vào những năm 60 và đầu những năm 70, các hiệu uốn tóc ở Hà
Nội và Hải Phòng có thể đếm trên đầu ngón tay thì nay việc tới một hiệu làm đầu
để có được một kiểu tóc mới hay chăm chút cho vẻ đẹp bên ngoài đã trở thành
một việc đơn giản và dễ dàng thực hiện đối với đa số chị em. Cho đến giai đoạn
đầu của thế kỷ 21 này, cùng với sự bùng nổ về trang phục, phụ nữ Việt Nam đã
thực hiện một cuộc thay đổi lớn về đầu tóc. Các cô gái ngày nay đã không còn bị
trói buộc bằng bất cứ một thiên kiến nào, họ chỉ có một tiêu chuẩn duy nhất là
"đẹp và mốt".
Má hồng
Người Việt Nam ngày nay không thể hình dung rằng cách đây không đến
một thế kỷ, người phụ nữ đẹp không những phải có làn da trắng hồng mà còn
phải có hàm răng "đen nhưng nhức". Hình ảnh quả dưa hấu bổ đôi đã thành biểu
Một thương tóc bỏ đuôi gà
Hai thương ăn nói mặn mà có duyên,
Ba thương má lúm đồng tiền
Bốn thương răng láng hạt huyền kém thua.
Đến cuối thế kỷ trước, khi tiếp xúc với người Pháp, mặc dầu ở tư thế bị kẻ
đô hộ, nhưng người Việt Nam vẫn không từ bỏ niềm tự hào về hàm răng đen của
mình.
Sang đến thế kỷ 20, nhất là từ sau chiến tranh thế giới thứ nhất, Việt Nam đã
bước vào một thời kỳ biến đổi xã hội sâu sắc. Vào đầu những năm 1920, những
nữ sinh Đồng Khánh ở Huế đã cạo hàm răng đen được nhuộm từ những năm lên
15, 16 tuổi để trở thành người phụ nữ mới, tham gia vào cuộc cải cách xã hội, với
các phong trào đòi nữ quyền, giải phóng đất nước. Hàm răng đen đã bị đẩy lùi
vào dĩ vãng nhưng ở nông thôn nó vẫn được duy trì.
Để có một hàm răng đen bóng phải trải qua một quá trình xử lý chặt chẽ và
không kém phần đau nhức. Người bình dân thường nhuộm theo phương pháp đơn
giản rẻ tiền. Nhưng giới quý tộc quan lại thì nhuộm theo những phương pháp
thuốc gia truyền có khi được giữ bí mật. Vì vậy ở Huế, nơi tập trung vua và các
ông hoàng bà chúa cùng các quan lại, còn lưu giữ được nhiều công thức chế
thuốc nhuộm răng, cũng như các thứ thuốc để duy trì màu đen bóng của răng.
Ở nông thôn xưa, thường có người làm nghề nhuộm răng đi từ làng này sang
làng khác, gọi là "thầy nhuộm răng". ở Huế lại có các "bà thầy" để nhuộm răng
cho các bà mệnh phụ. Người đó mang theo các thứ thuốc, còn đồ nghề thì rất đơn
giản có thể tìm tại chỗ, đó là tre để chẻ tăm và lá cây để phết thuốc lên. Huế nổi
tiếng vì có những phương thuốc gia truyền, nên thuốc ở đây được bán ra khắp
miền Bắc.
Trước khi nhuộm phải chuẩn bị hàm răng cho sạch. Trong hai ba ngày liền,
người đó phải đánh răng, xỉa răng bằng vỏ cau khô với than bột. Một ngày trước
khi nhuộm phải nhai chanh lát, súc miệng bằng rượu trắng pha nước chanh. Tác
dụng của chanh làm cho lớp men ngoài răng "mềm" đi, tạo thành những vết lõm
sần sùi trên men răng, nhưng không ăn sâu quá để làm hại răng, nhờ đó thuốc